- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Nguyễn Hồng Q - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2017/HSST Ngày 15/9/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Vũ
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Mạnh Cường
Bà Vương Thị Thu
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thị Duyên - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Thanh Ba
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba tham gia phiên toà: ông Đỗ Anh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2017. Tại trụ sở Nhà văn hóa khu 3, thị trấn Thanh Ba, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2017/TLST-HS ngày 13/7/2017 đối với bị cáo:29/2017/TLST-HS ngày 13/7/2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Hồng Q, sinh 1980 ĐKNKTT: Khu 3, xã H, huyện T, tỉnh P. Dân tộc: Kinh; Văn hóa 12/12 ; Nghề nghiệp; Con ông: Nguyễn Quang V, sinh 1956; Con bà: Nguyễn Thị B, sinh 1957 Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không Bị bắt tạm giữ ngày 24/4/2017, chuyển tạm giam ngày 27/4/2017 hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ.
Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Đỗ Văn K - SN 1987 (vắng mặt không có lý do)
Nơi ĐKHKTT: Khu 4, xã N, huyện T, tỉnh P.
NHẬN THẤY:
Hồi 13 giờ ngày 24/4/2017 tại khu 5, xã Y, Tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện Thanh Ba tiến hành kiểm tra hành chính đối với Đỗ Văn K - SN 1987 trú tại khu 4, xã N có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. K tự nguyện giao nộp từ trong lòng bàn tay trái 01 gói nhỏ bằng nilon màu trắng được hàn kín xung quanh, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. K khai nhận đó là chất ma túy tổng hợp dạng đá vừa mua được của Nguyễn Hồng Q - SN 1980 trú tại khu 3, xã H với giá 1.000.000 đồng tại khu vực gần nhà Q. Tổ công tác đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Đỗ Văn K về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ:
- 01 gói nhỏ bằng nilon màu trắng được hàn kín xung quanh bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. (Niêm phong, ký hiệu bì số 01);
- 01 ĐTDĐ Nokia 1200 màu đen trắng đã cũ kèm sim số 0911xxxxxx.
Căn cứ lời khai của Đỗ Văn K, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp người, nơi ở, đồ vật của Nguyễn Hồng Q tại khu 3, xã H, quá trình khám xét thu giữ:
- 01 gói nhỏ bằng giấy màu trắng cả hai mặt dạng giấy vệ sinh mở ra bên trong có chứa 03 gói nhỏ bằng nilon màu trắng, một gói có kích thước 4x6cm được hàn kín xung quanh, một đầu có khuy bấm bịt kín. Hai gói nhỏ còn lại có kích thước 1,5x3cm được hàn kín xung quanh, mở ra bên trong cả ba gói đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy Methamphetamine (Niêm phong, ký hiệu bì số 02);
- Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 6.293.000 đồng (Sáu triệu hai trăm chín mươi ba nghìn đồng);
- 01 ĐTDĐ Iphone màu trắng kèm sim số 0978877378;
- 01 chiếc coóng bằng thủy tinh màu trắng, hình dạng không xác định;
- 01 CMND mang tên Nguyễn Hồng Q.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Ba đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số chất rắn dạng tinh thể màu trắng thu giữ của Đỗ Văn K và Nguyễn Hồng Q. Tại bản Kết luận giám định số 400 ngày 25/4/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:“Chất rắn dạng tinh thể màu trắng của mẫu ký hiệu bì số 01 gửi giám định có trọng lượng là 0,1202 gam, có Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, TT67, Nghị định số 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ. Hàm lượng Methamphetamine có trong 0,1202 gam mẫu là 61,316%. Chất rắn dạng tinh thể màu trắng của mẫu ký hiệu bì số 02 gửi giám định có trọng lượng là 0,9002 gam, có Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, TT67, Nghị định số 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ. Hàm lượng Methamphetamine có trong 0,9002 gam mẫu là 63,540%”.
Tại CQĐT Nguyễn Hồng Q và Đỗ Văn K khai như sau: Khoảng hơn 12 giờ ngày 24/4/2017 Q đang ở nhà tại khu 3, xã H thì nhận được điện thoại của Đỗ Văn K hỏi mua 1.000.000 đồng tiền ma túy dạng đá Methamphetamine, Q đồng ý. K hẹn Q khi nào đến bến đò H thì K sẽ điện thoại lại. Sau đó K ra đường bắt một chiếc xe taxi T của một người không quen biết, không rõ biển kiểm soát để đi ra bến đò H. Khoảng 15 - 20 phút sau K gọi điện thoại cho Q thông báo K đã đến bến đò, Q bảo K “cứ đi xuôi đi” rồi một mình đi bộ từ nhà ra đến lề đường nhựa cách cửa nhà khoảng 10 mét. Q lấy 01 gói nhỏ ma túy cất trong túi quần đùi đang mặc phía bên trái rồi cầm ở lòng bàn tay phải. Chiếc xe taxi (không rõ biển kiểm soát) chạy qua vị trí Q đứng khoảng 10m thì dừng lại. Q thấy K xuống xe và đi bộ lại chỗ Q rồi đưa Q 1.000.000 đồng gồm 2 tờ tiền polime mệnh giá 500.000 đồng, Q cầm tiền rồi đưa K gói ma túy rồi đi bộ về nhà. Sau đó K lên xe taxi khi đến cổng công ty may xuất khẩu T thuộc khu 5, xã Y thì K xuống xe, trả tiền taxi rồi đi bộ về nhà. Khi đang đi bộ trên đường thì bị tổ công tác công an huyện Thanh Ba phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính và thu giữ gói ma túy như đã nêu trên.
Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa Đỗ Văn K và Nguyễn Hồng Q các đối tượng đều thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 30/KSĐT ngày 12/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba truy tố Nguyễn Hồng Q về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Đại diện VKS tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS. Xử phạt Nguyễn Hồng Q từ 30 đến 36 tháng tù, không phạt tiền là hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng theo quy định.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.
XÉT THẤY:
Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với vật chứng thu được, kết quả giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Hồng Q phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý". Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.
Khoản 5 điều 194 BLHS còn có quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm".
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Ma túy là hiểm họa của xã hội, Nhà nước đã có nhiều biện pháp nhằm loại trừ nhưng tình hình mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng ma túy vẫn diễn ra phức tạp, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn và tội phạm khác. Nguyễn Hồng Q mua bán trái phép chất ma tuý là đi ngược với chính sách chung. Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật ở mức độ nghiêm trọng nên cần phải xử phạt nghiêm minh.
Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để quyết định hình phạt đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn thể hiện rõ thái độ ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS để giảm nhẹ hình phạt. Tuy nhiên do tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thích hợp mới đủ diều kiện cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt về sau.
Bị cáo không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tiền thu lợi bất chính được tịch thu sung công quỹ nhà nước
Đỗ Văn K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và đã bị xử lý hành chính là phù hợp
Đối với người đàn ông có tên V ở H là người đã bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Hồng Q, qua điều tra không xác định được địa chỉ và nhân thân cụ thể. Do vậy, Viện kiểm sát đã thống nhất với Cơ quan điều tra tách riêng hành vi của V tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau. Đối với người lái xe taxi đã chở K đi mua ma túy, do K không biết tên tuổi, không nhớ biển số xe nên Viện kiểm sát đã thống nhất với CQĐT tách riêng để tiếp tục xác minh làm rõ.
- Vật chứng gồm: Mẫu vật hoàn trả sau giám định gồm Bì số 01 = 0,0294 gam mẫu; bì số 02 = 0,7205 gam mẫu đựng trong từng túi nilong và toàn bộ bao gói được niêm phong chung trong 01 bì niêm phong số 400/KLGĐ - PC 54 ngày 25/4/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc, mặt trước có ghi mẫu trả theo Quyết định TCGĐ số 99 ngày 24/4/2017 của Cơ quan CSĐT công an huyện Thanh Ba; 01 chiếc coóng bằng thủy tinh màu trắng, hình dạng không xác định, cần tịch thu tiêu hủy
- Vật chứng khác không liên quan cần trả lại gồm: Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 5.293.000 đồng; 01 CMND mang tên Nguyễn Hồng Q.
- Tịch thu bán sung công của Nguyễn Hồng Q 01 ĐTDĐ màn hình cảm ứng iphone kèm sim số 0978xxxxxx; Tịch thu bán sung công của Đỗ Văn K 01 ĐTDĐ Nokia 1200 màu đen trắng đã cũ kèm sim số 0911xxxxxx.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự
Xử phạt Nguyễn Hồng Q 30 tháng tù (ba mươi tháng), thời hạn tù tính từ ngày bắt là ngày 24/4/2017. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 76 BLTTHS; Áp dụng điều 41 BLHS:
Tịch thu sung công của Nguyễn Hồng Q số tiền 1.000.000đồng.
Tịch thu tiêu hủy Bì số 01 = 0,0294 gam mẫu; bì số 02 = 0,7205 gam mẫu đựng trong từng túi nilong và toàn bộ bao gói được niêm phong chung trong 01 bì niêm phong số 400/KLGĐ - PC 54 ngày 25/4/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc, mặt trước có ghi mẫu trả theo Quyết định TCGĐ số 99 ngày 24/4/2017 của Cơ quan CSĐT công an huyện Thanh Ba; 01 chiếc coóng bằng thủy tinh màu trắng, hình dạng không xác định;
Trả lại cho bị cáo: Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 5.293.000 đồng; 01 CMND mang tên Nguyễn Hồng Q. Số tiền được tạm giữ để bảo đảm thi hành án dân sự.
Tịch thu bán sung công 01 ĐTDĐ màn hình cảm ứng iphone kèm sim số 0978xxxxxx; 01 ĐTDĐ Nokia 1200 màu đen trắng đã cũ kèm sim số 0911xxxxxx.
(Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Ba đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 /7/2017 * VÒ ¸n phÝ:
Áp dông kho¶n 1, 2 §iÒu 99 cña BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 NQ
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:
BÞ c¸o ph¶i chÞu 200.000 ®ång ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.
BÞ c¸o cã quyÒn kh¸ng c¸o bản án trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. N¬i nhËn:
| - VKSND huyÖn - Chi côc THADS huyÖn - C«ng an huyÖn - BÞ c¸o, nlq - THAHS - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ NguyÔn Quang Vò |