vanban.org

Bản án 34/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội Tuyên án 30/06/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H ph m tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng: Điểm d khoản 02 Điều 136; điểm p khoản 01, khoản 02 Điều 46; điểm g khoản 01 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Hòa - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H ph m tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Hình sự

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ Đ C – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 34/2017/HSST

Ngày: 30/06/2017

HUYỆN MỸ Đ C Độc lập - Tự do - Hạnh phúc NHÂN D NH TOÀ ÁN

NHÂN DÂN H

UYỆN MỸ Đ C – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần H i đồng xét xử sơ thẩm gồm có: T ẩm p án - C ủ t a p iên toà: Ông Hoàng M nh Thắng. Các Hội t ẩm n ân dân: 1. Ông Trần Xuân Tộ. 2. Ông Nguyễn Văn Son. - T ư ký Tòa án g i biên bản p iên toà: Ông Nguyễn Duy Quang, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội. - Đại diện Viện kiểm sát n ân dân uyện Mỹ Đức, T àn p ố Hà Nội t am gia p iên toà: Ông Nguyễn Khắc Tuấn, Kiểm sát viên. Ngày 30 tháng 6 năm 2017, t i trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2017/HSST ngày 08/6/2017 đối với bị cáo: Nguyễn Xuân H, sinh năm 1991 t i Thanh O - Hà Nội; trú t i: Thôn ĐG, xã ĐĐ, huyện T O, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông Nguyễn Xuân Đoàn và bà Quách Thị H nh; vợ, con: Chưa; tiền án: Ngày 29/3/2013 bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội tuyên ph t 38 tháng tù về tội cướp giật tài sản; tiền sự: không; bị cáo bị bắt t m giam từ ngày 26/4/2017 đến nay. Có mặt. - Người bị ại: Chị Hồ Thị N sinh năm 1963. Có mặt. Nơi cư trú: Thôn V X Th, xã MTh, huyện MĐ, Thành phố Hà Nội. - Người có quyền lợi và ng ĩa vụ liên quan đến vụ án: + Anh Nguyễn Xuân O sinh năm 1988. Vắng mặt. + Anh Nguyễn Văn H sinh năm 1981. Vắng mặt. Đều cư trú: Thôn ĐG, xã ĐĐ, huyện T O, Thành phố Hà Nội. + Anh Ph m Đình T sinh năm 1964. Vắng mặt. Nơi cư trú: Thôn B N, xã Th V, huyện TO, Thành phố Hà Nội.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Nguyễn Xuân H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội truy tố về hành vi ph m tội như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 23/4/2017, Nguyễn Xuân Hòa mượn xe mô tô biển kiểm soát 33P9-6590 của anh trai là Nguyễn Xuân O sinh năm 1991 trú t i Thôn ĐG, xã ĐĐ, huyện T O để đi mua điện tho i nhưng vì thiếu tiền nên Hòa đã nảy sinh ý định đi cướp giật tài sản. Hòa điều khiển xe mô tô đi từ Thanh O đến Mỹ Đức theo đường tỉnh lộ 419 hướng Phúc Lâm xuống Đ i Nghĩa. Khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày khi đến địa phận thôn Vĩnh Xương Thượng, xã Mỹ Thành phát hiện thấy chị H Thị N, sinh năm 1963, trú tại thôn Vĩnh Xương Thượng, xã Mỹ Thành đi xe đạp điện cùng chiều trên cổ đeo 01 sợi dây chuyền vàng, Hòa đã phóng xe máy nhanh chóng áp sát vào xe đ p điện của chị N, dùng tay trái giật sợi dây chuyền vàng rồi bỏ ch y nhưng bị truy đuổi và bắt giữ. Tang vật thu giữ g m: 01 xe mô tô biển kiểm soát 33P9-6590 màu đỏ đen, nhãn hiệu Yamaha số máy 008936, số khung 008936; 01 dây chuyền kim lo i màu vàng bị giật đứt hai đo n và có ặt h×nh tr¸i ti ; 01 điện tho i Nokia 1110i màu tím trắng; 01 chứng minh thư nhân dân 017277844 mang tên Nguyễn Xuân H; 01 chøng minh thư nhân dân số 112017077 mang tên Nguyễn Xuân Đ. T i kết luận định giá tài sản số 27 ngày 28/4/2017, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Mỹ Đức đã xác định: 01 sợi dây chuyền kim lo i màu vàng đã bị đứt làm hai đo n và có mặt hình trái tim tổng trọng lượng là 1,23 chỉ, lo i vàng 10k, giá trị t i thời điểm là 1.722.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả l i chị N sợi dây chuyền vàng đó và chị N không có yêu cầu gì về dân sự. Bản cáo tr ng số 37/CT-VKS ngày 07/6/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Xuân H về “Tội cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 02 Điều 136 Bộ luật Hình sự. T i phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi ph m tội của mình như nội dung bản Cáo tr ng đã nêu. Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức giữ quyền công tố t i phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo tr ng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d khoản 02 Điều 136; điểm p khoản 01, khoản 02 Điều 46; điểm g khoản 01 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử ph t: Nguyễn Xuân H từ 05 đến 06 năm tù về tội cướp giật tài sản. Không áp dụng hình ph t bổ sung đối với bị cáo. Về bồi t ường dân sự: Xét thấy bị h i, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều không có yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét. Về vật c ứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra t i phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận t i phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án.

XÉT THẤY: Lời khai nhận tội của bị cáo t i cơ quan điều tra và t i phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai bị h i, người làm chứng, biên bản định giá và các tài liệu chứng cứ khác. Hội đồng xét xử có cơ sở vững chắc kết luận: Khoảng 13 giờ 45 phót ngày 23/4/2017, t i khu vực thôn Vĩnh Xương Thượng, xã Mỹ Thành, Nguyễn Xuân H đã có hành vi cướp giật 01 sợi dây chuyền vµng của chị Hồ Thị N trị giá 1.722.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội cướp giật tài sản theo Điều 136 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng gây nguy hiểm cao cho xã hội, hành vi ph m tội của bị cáo đã xâm ph m trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân nên cần xử lý nghiêm. Về tìn tiết địn k ung ìn p ạt: Bị cáo thực hiện hành vi cướp giật tài sản rất táo b o, sử dụng xe mô tô là phương tiện nguy hiểm đi trên đường, khi thấy sơ hở thì phóng nhanh áp sát xe đ p điện do chị Hồ Thị N đang điều khiển theo hướng cùng chiều, bất ngờ dùng tay trái giật sợi dây chuyền vàng chị N đang đeo trên cổ rồi nhanh chóng tẩu thoát. Đây là hành vi rất nguy hiểm, dễ làm bị h i và người đi đường ngã, gây nguy hiểm cho tính m ng của họ. Hành vi của bị cáo đã vi ph m tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Dùng t ủ đoạn nguy iểm” nên phải bị xét xử ở điểm d khoản 02 Điều 136 của Bộ luật Hình sự. Về các tìn tiết tăng nặng, giảm n ẹ trác n iệm ìn sự và ìn p ạt đối với bị cáo: Bị cáo Nguyễn Xuân H ngày 29/3/2013 bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội xử ph t 38 tháng tù về tội cướp giật tài sản, chưa được xóa án tích mà l i tiếp tục thực hiện cướp giật tài sản. Vì thế, bị cáo bị áp dụng thêm tình tiết “Tái p ạm” để tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định t i điểm g khoản 01 Điều 48 của Bộ luật Hình sự. Song cũng xét, sau khi bị bắt và t i phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chủ động ra đầu thú đồng thời người bị h i có đơn xin giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i điểm p khoản 01, khoản 02 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, căn cứ tính chất hành vi ph m tội của bị cáo và để phục vụ đắc lực cho công cuộc đấu tranh phòng, chống tội ph m t i địa phương nên cần xử bị cáo nghiêm, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về ìn p ạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình ph t bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật c ứng: - 01 xe mô tô biển kiểm soát 33P9- 6590 nhãn hiệu Yamaha, số máy 008936, số khung 008936, màu đỏ đen, dung tích xilanh dưới 50cm3: Tuy đứng tên chủ xe là anh Ph m Đình T, sinh năm 1964 trú t i thôn B ch Não, xã Thanh Văn, huyện Thanh O nhưng năm 2009, anh T đã bán l i cho một người không quen biết, sau đó anh Nguyễn Xuân O (anh bị cáo) mua l i được từ anh Nguyễn Văn H sinh năm 1988 cùng địa phương. Xe không nằm trong dữ liệu vật chứng và do anh O là chủ sở hữu không có lỗi liên quan đến việc điều khiển xe của bị cáo nên cần trả l i xe mô tô nói trên cho anh O là phù hợp với quy định của pháp luật. - 01 điện tho i Nokia 1110i màu tím trắng: Xét thấy đây là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo không liên quan đến việc ph m tội nên trả l i cho bị cáo. - 01 chứng minh thư nhân dân số 017277844 mang tên Nguyenx Xuân H và 01 chứng minh thư nhân dân số 112017077 mang tên Nguyễn Xuân Đ: Xét thấy đây là những giấy tờ không liên quan đến thực hiện tội phạm nên trả lại cho bị cáo. Về bồi t ường dân sự: Xác nhận bị h i, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H ph m tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng: Điểm d khoản 02 Điều 136; điểm p khoản 01, khoản 02 Điều 46; điểm g khoản 01 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử ph t: Nguyễn Xuân H 06 (Sáu) năm tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bị t m giữ là ngày 23/4/2017. Không áp dụng hình ph t bổ sung đối với bị cáo. 2. Về trác n iệm dân sự: Xác nhận bị h i, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét. 3. Về xử lý vật c ứng: Áp dụng Điều 41, Điều 42 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Trả l i 01 xe mô tô biển kiểm soát 33P9- 6590 nhãn hiệu Yamahaxe , số máy 008936, số khung 008936, màu đỏ đen, dung tích xilanh dưới 50cm3 cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Xuân O (Tìn trạng xe có đặc điểm n ư biên bản giao n ận giữa Công an uyện Mỹ Đức với C i cục t i àn án dân sự uyện Mỹ Đức).

Trả l i bị cáo Nguyễn Xuân H: 01 điện tho i Nokia 1110i màu tím trắng; 01 chứng minh thư nhân dân số 017277844 mang tên Nguyễn Xuân H và 01 chứng minh nhân dân số 112017077 mang tên Nguyễn Xuân Đ (Tìn trạng có đặc điểm n ư biên bản giao n ận giữa Công an uyện Mỹ Đức với C i cục t i àn án dân sự uyện Mỹ Đức). 4. Về án p í: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Xuân H phải nộp 200.000 (Hai trăm ng ìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. 5. Về quyền k áng cáo: Áp dụng các Điều 231 và 234 Bộ luật Tố tụng hình sự: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo, bị h i; kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình.

Cỡ chữ