vanban.org

Bản án 339/2025/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 12/05/2025 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/05/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác kháng cáo của bà Nguyễn Thị K; giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 112/2024/HC-ST ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố H.

Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị K được miễn án phí hành chính phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "NKK: Nguyễn Thị K- NBK:Chủ tịch UBND thành phố H; Chủ tịch và UBND huyện T- Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
  • Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của bà Nguyễn Thị K; giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 112/2024/HC-ST ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 241 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 339/2025/HC- PT
Ngày: 12/5/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI H

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Huân;

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Ngọc Hoa;

Ông Trần Xuân Thảo.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Trang, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Phương, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại H và mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, công khai vụ án hành chính phúc thẩm thụ lý số 626/2024/TLPT-HC ngày 25 tháng 11 năm 2024 về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”. Do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án Hành chính sơ thẩm số 112/2024/HC-ST ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố H.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4624/2025/QĐPT-HC ngày 27 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

* Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị K, nơi cư trú: Thôn Thái H, xã B, huyện T, thành phố H; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: Ông Ngô Anh T và bà Hoàng Thị H, ông Phạm Ngọc A - Luật sư Công ty Luật TNHH ATN và Cộng sự thuộc Đoàn luật sư thành phố H; Luật sư T, A vắng mặt, Luật sư H có mặt.

* Người bị kiện:

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H; địa chỉ: Trụ sở UBND thành phố H;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trọng Đ, Chức vụ: Phó chủ tịch UBND thành phố H; vắng mặt.

2. Chủ tịch và Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố H; địa chỉ: Trụ sở UBND huyện T, thành phố H;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Khắc S, Chức vụ: Phó chủ tịch UBND huyện T; vắng mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, thành phố H; địa chỉ: Trụ sở UBND xã B, huyện T, thành phố H;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn D, Chức vụ: Chủ tịch;

vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Đức Kh; có mặt.

4. Ông Nguyễn Đức N; vắng mặt.

5. Bà Nguyễn Thị H; vắng mặt.

Cùng cư trú: Thôn Thái H, xã B, huyện T, thành phố H;

6. Bà Nguyễn Thị P, nơi cư trú: Thôn Mơ Nồng, xã Kim Quan, huyện T, thành phố H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, người khởi kiện trình bày như sau:

Ngày 21/12/2017, Ủy ban nhân dân (UBND) huyện T ban hành Quyết định số 7823/QĐ-UBND về việc thu hồi 180m² đất nông nghiệp trồng lúa của hộ ông Nguyễn Đức K để thực hiện dự án. Ngày 21/12/2017, UBND huyện T ban hành Quyết định số 7831/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB cho hộ ông Nguyễn Đức K và bà Nguyễn Thị K.

Nội dung: Bồi thường về đất: 135.000đồng x 180m² = 24.300.000đồng; Bồi thường, hỗ trợ về tài sản gắn liền với đất: 1.260.000đồng; Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm: 121.500.000đồng; Thưởng tiến độ bàn giao mặt bằng: 540.000đồng. Tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ GPMB là 122.040.000 đồng.

Ngày 17/8/2018, Chủ tịch UBND huyện T ban hành Quyết định số 2797/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ bà Nguyễn Thị K do không chấp hành quyết định thu hồi đất để bàn giao mặt bằng thực hiện dự án.

Bà K cho rằng UBND huyện T đã thực hiện thu hồi đất, cưỡng chế thu hồi đất nhưng không giao cho gia đình bà thông báo thu hồi đất, quyết định thu hồi đất là sai quy định của pháp luật. Dự án ghi thu hồi đất của gia đình bà để Xây dựng HTKT khu đất xen kẹt để đấu giá quyền sử dụng đất (tức là xây dựng các hệ thống kỹ thuật liên quan đến điện, nước, giao thông công cộng.. kết nối với khu đất xen kẹt bán đấu giá), nhưng UBND huyện T đã san lấp để phân lô bán đấu giá quyền sử dụng đất để làm nhà ở đối với chính những diện tích đất đã thu hồi trái pháp luật.

Ngày 01/4/2021, bà K gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố H đề nghị giải quyết những vấn đề sau:

Xác định hành vi thu hồi 180m2 tại thôn U, xã B, huyện T, TP H đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất cho gia đình bà của UBND huyện T là vi phạm khoản 3 Điều 62, Điều 63 Luật đất đai 2013.

Hủy Quyết định số 7823/QĐ-UBND ngày 21/12/2017 của UBND huyện T về việc thu hồi 180m2 đất nông nghiệp.

Hủy Quyết định 7831/QĐ-UBND ngày 21/12/2017 của UBND huyện T về phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB.

Hủy Quyết định số 1918/QĐ-UBND ngày 16/5/2019 của Chủ tịch UBND huyện T về việc giải quyết khiếu nại lần đầu đối với hộ gia đình bà K.

Hủy Quyết định số 2227/QĐ-UBND ngày 01/6/2020 của Chủ tịch UBND thành phố H H về việc giải quyết khiếu nại lần hai đối với hộ gia đình bà K.

Người bị kiện trình bày:

Chủ tịch UBND thành phố H: Cung cấp hồ sơ liên quan đến giải quyết khiếu nại lần hai đối với bà K. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Chủ tịch và UBND huyện T: Việc ban hành quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB để thực hiện dự án xây dựng HTKT khu đất xen kẹt để đấu giá quyền sử dụng đất tại khu Y, thôn U, xã B, huyện T và ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại đối với gia đình bà K là đúng quy định pháp luật. Đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND xã B trình bày:

Nguồn gốc sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Đức K, vợ là bà Nguyễn Thị K có đất nông nghiệp thu hồi thực hiện dự án Đấu giá quyền sử dụng khu vực Y thôn U, xã B, huyện T

Thực hiện văn bản số 123/CV-THC ngày 11/3/20240 của Toà án nhân dân thành phố H về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đối với hồ sơ thu hồi đất của hộ ông Nguyễn Đức K, vợ là bà Nguyễn Thị K ở thôn U, xã B, huyện T. UBND xã B tổng hợp báo cáo như sau:

Thực hiện kế hoạch 240/KH-UBND ngày 22/11/2016 của UBND huyện T về việc thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm để thực hiện dự án xây dựng HTK khu đất xen kẹt để đấu giá quyền sử dụng đất tại khu Y thôn U, xã B, huyện T, Thành phố H. Tổng diện tích thu hồi: 4.948m². Trong đó: Đất của hộ gia đình 4481.6m²/ 36 hộ gia đình. Đất của UBND: 466.4m².

Nguồn gốc sử dụng đất: Thửa đất số 120, tờ bản đồ 02, diện tích 180,0m² tại khu Y thôn U, xã B là đất nông nghiệp được giao theo Nghị định số 64/CP của Chính phủ đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp số vào sổ 0162/QSDĐ/112/2000-H, số phát hành P734696, chủ sử dụng là hộ ông Nguyễn Đức K. Trong quá trình lập bản đồ để phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện dự án: Xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đất xen kẹt để đấu giá quyền sử dụng đất tại khu Y trên địa bàn xã B được thể hiện là thửa đất số 24, tờ bản đồ số 01.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức K, ông Nguyễn Đức N, bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị H trình bày: Nhất trí với có quan điểm và đề nghị như bà K trình bày.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 112/2024/HC-ST ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố H đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, khoản 2 Điều 116, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 194, Điều 204, Điều 206, Điều 348 Bộ luật Tố tụng hành chính ; Căn cứ khoản 37 điều 1 Luật xây dựng; Căn cứ Nghị định 43/2014/NĐ-CP và Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Quyết định 10/2017/QĐ-TTg ngày 29/3/2017 của UBND thành phố H.

Xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị K.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 09/9/2024, người khởi kiện bà Nguyễn Thị K có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo, cho rằng giá bồi thường của Ủy ban là quá thấp, đề nghị được thỏa thuận về giá bồi thường.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện có ý kiến: Tình trạng trước khi thu hồi đất vẫn là đất lúa đất trồng nông nghiệp, Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội phê duyệt dự án đấu giá đất xen kẹt khác, không có tài liệu xác định là dự án này. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại H phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến phiên tòa, Thẩm phán - Chủ tọa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính; những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính bác kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại H, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

. Về tố tụng:

Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Nguyễn Thị K khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 7823/QĐ-UBND ngày 21/12/2017 của UBND huyện T về việc thu hồi 180m2 đất nông nghiệp của gia đình bà; Quyết định 7831/QĐ-UBND ngày 21/12/2017 của UBND huyện T về phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB; Quyết định số 1918/QĐ-UBND ngày 16/5/2019 của Chủ tịch UBND huyện T về việc giải quyết khiếu nại lần đầu; Quyết định số 2227/QĐ-UBND ngày 01/6/2020 của Chủ tịch UBND thành phố H về việc giải quyết khiếu nại lần hai. Tòa án nhân dân thành phố H thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 3, Điều 30 và khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.

Về thời hiệu khởi kiện:

Ngày 01/4/2021, bà Nguyễn Thị K có đơn khởi kiện đối với các quyết định hành chính trên là đúng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 116 Luật tố tụng hành chính.

[1.3] Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị K nộp trong thời hạn và đúng với quy định tại Điều 205, Điều 206 Luật tố tụng hành chính nên hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

. Về nội dung:

Xét tính hợp pháp của các quyết định hành chính bị kiện:

Về thẩm quyền, trình tự thủ tục ban hành: Các Quyết định hành chính nêu trên do Chủ tịch UBND thành phố H, Chủ tịch và UBND huyện T ban hành là đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 66, Điều 69 Luật đất đai 2013; Điều 22, Điều 29 Luật Tổ chức chính quyền nhân dân; Điều 18, Điều 29, Điều 30, Điều 31, Điều 40 Luật khiếu nại và khoản 1 Điều 34 Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND thành phố H về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố H.

Về nội dung các quyết định:

Xét Quyết định số 7823/QĐ-UBND ngày 21/12/2017 của UBND huyện T về việc thu hồi 180m2 đất nông nghiệp của gia đình bà Nguyễn Thị K.

Vị trí khu đất thôn Y, thôn U, xà B để thực hiện Dự án nằm trong tổng diện tích 885,2ha đất lúa nước được chuyển mục đích sang đất phi nông nghiệp kỳ đầu của huyện T (2011-2015) được UBND thành phố phê duyệt tại Quyết định số 7308/QĐ-UBND ngày 04/12/2013.

Ngày 06/10/2015, UBND huyện T ban hành Quyết định số 6672/QĐ-UBND về việc phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đất xen kẹt để đấu giá quyền sử dụng đất tại khu Y, xã B, huyện T. Ngày 03/11/2015, UBND huyện T ban hành Kế hoạch số 204/KH-UBND về việc thực hiện các dự án đấu giá quyền sử dụng đất xen kẹt năm 2016 trên địa bàn huyện T, theo kế hoạch dự kiến có 32 vị trí với tổng diện tích khoảng 13,3ha, trong đó có vị trí khu đất ở Y, thôn U, xã B, diện tích khoảng 4.351m².

Đối với ý kiến khiếu nại của người khởi kiện cho rằng Dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đất xen kẹt để đấu giá quyền sử dụng đất tại khu Y trên địa bàn xã B, huyện T không nằm trong danh mục các dự án được Hội đồng nhân dân thành phố H thông qua, Tòa án nhân dân cấp cao tại H đã có Văn bản số 3320/TANDCC-HC ngày 27/3/2025 yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Thạch Thấp có ý kiến phúc đáp và cung cấp tài liệu chứng minh.

Ngày 18/4/2025, Ủy ban nhân dân huyện T đã có Văn bản số 667/UBND-KTHT&ĐT và cung cấp các tài liệu thể hiện: Dự án Xây dựng HTKT khu đất xen kẹt để đấu giá quyền sử dụng đất tại khu Y xã B diện tích 0,49ha nằm trong Dự án Đấu giá đất xen kẹt diện tích 3ha tại xã Bình Yên, Đồng Trúc, Chàng Sơn, Dị Nậu, Hạ Bằng, B, Hữu Bằng (cụ thể tại số thứ tự 4.8, Phụ lục Kế hoạch số 204/KH-UBND ngày 03/11/2015 của UBND huyện, Dự án Xây dựng HTKT khu đất xen kẹt để đấu giá quyền sử dụng đất tại khu Ao U lối đi cạnh Đầu cầu chính là Dự án xây dựng HTKT khu đất xen kẹt để đấu giá QSDĐ tại khu Y thôn U xã B).

Dự án đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua tại Nghị quyết 13/2015/NQ-HĐND ngày 02/12/2015 (thể hiện tại số thứ tự thứ 6, mục I); Nghị Quyết số 19/NQ-HĐND ngày 6/12/2016; Nghị Quyết số 19/NQ-HĐND ngày 5/12/2017 (thể hiện tại số thứ tự thứ 6, mục A); UBND thành phố phê duyệt Kế hoạch sử dụng đất năm 2016, 2017 tại Quyết định số 1689/QĐ-UBND ngày 13/4/2016 (tại số thứ tự 10, mục III); Quyết định số 7213/QĐ-UBND ngày 29/12/2016 (tại số thứ tự 6, mục II); Quyết định số 252/QĐ-UBND ngày 12/01/2018 (tại số thứ tự 35, mục I).

Như vậy, Dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đất xen kẹt để đấu giá quyền sử dụng đất tại thôn U, xã B diện tích 4.900m2 nằm trong Dự án đấu giá đất xen kẹt, diện tích 3ha thuộc danh mục các công trình, dự án thu hồi đất huyện T năm 2016, chuyển tiếp thực hiện các năm 2017, 2018 đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua; UBND thành phố phê duyệt Kế hoạch sử dụng đất huyện T các năm 2016, 2017, 2018. Căn cứ quy định tại khoản 3, Điều 62 Luật Đất đai năm 2013: Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Vì vậy, UBND huyện T ban hành Thông báo thu hồi đất số 2990/TB-UBND ngày 24/11/2016 là đúng quy định tại Điều 66, 69 Luật đất đai 2013; Điều 17 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

Theo Quyết định số 10279/QĐ-UBND ngày 31/12/2015 của UBND huyện T về việc phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật Công trình Xây dựng HTKT khu đất xen kẹt để đấu giá QSDĐ tại khu Y thôn U xã B, thì tổng diện tích Dự án là 4.900m2. Do đó, ý kiến của người khởi kiện cho rằng diện tích của Dự án lớn hơn 4.900m2, là không có căn cứ.

Trên cở sở Thông báo thu hồi đất; Biên bản điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm đất đai, tài sản gắn liền với đất phục vụ công tác GPMB thực hiện dự án; Giấy xác nhận về việc sử dụng, về các tài sản gắn liền với đất bị thu hồi, vị trí đất. Ngày 21/12/2017, UBND huyện T ban hành Quyết định số 7831/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của hộ gia đình ông Nguyễn Đức K, bà Nguyễn Thị K là đúng diện tích, vị trí, tài sản và loại đất bị thu hồi.

Do vậy, bà K khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định thu hồi đất số 7823/QĐ-UBND ngày 21/12/2017 của UBND huyện T và cho rằng hành vi thu hồi 180m² tại thôn U, xã B, huyện T, TP H đã được cấp GCNQSDĐ cho gia đình bà của UBND huyện T là vi phạm khoản 3 Điều 62, Điều 63 Luật đất đai 2013, là không có căn cứ.

Xét Quyết định số 7831/QĐ-UBND ngày 21/12/2017 của UBND huyện T về phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng.

Nguồn gốc diện tích đất bị thu hồi của hộ gia đình bà K là đất nông nghiệp được giao theo Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ, được UBND huyện T cấp GCNQSD đất số P 734696 ngày 23/2/2000.

Theo Quyết định số 96/2014/QĐ-UBND ngày 29/12/2014 của UBND thành phố H, Văn bản số 10114/UBND-TNMT ngày 25/12/2014 của UBND thành phố H thì đơn giá bồi thường đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm (trồng lúa) là 135.000đồng/m².

Hộ gia đình bà K được bồi thường về đất: 180m2 x 135.000đồng/m2 = 24.300.000đồng; bồi thường hỗ trợ về tài sản gắn liền với đất thu hồi (lúa tẻ) là 1.260.000đồng; các khoản hỗ trợ khác: hỗ trợ chuyển đổi nghề: 5 x 135.000đồng x180m² = 121.500.000đồng, thưởng tiến độ: 540.000đồng. Tổng: 122.040.000đồng.

Như vậy, gia đình bà K đã được bồi thường, hỗ trợ theo đúng quy định pháp luật tại khoản 1 Điều 75, điểm a khoản 1 Điều 77, khoản 1 Điều 84 Luật Đất đai năm 2013; Điều 20 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 4 Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ). Yêu cầu hủy quyết định trên của bà Nguyễn Thị K là không có cơ sở chấp nhận.

Xét Quyết định số 2797/QĐ-UBND ngày 17/8/2018 của Chủ tịch UBND huyện T về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ bà K:

Tòa án cấp sơ thẩm xem xét Quyết định số 2797/QĐ-UBND trên là quyết định hành chính có liên quan đến các quyết định hành chính bị kiện là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 193 Luật tố tụng hành chính.

Xét thấy, trên cơ sở Quyết định số 7823/QĐ-UBND việc thu hồi đất, người bị thu hồi đất không bàn giao đất cho cho tổ chức làm nhiệm vụ giải phóng mặt bằng và đã được tổ chức vận động nhưng không chấp hành bàn giao đất nên Chủ tịch UBND huyện T đã ban hành quyết định cưỡng chế là đúng theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai. Quá trình thực hiện cưỡng chế, Chủ tịch UBND huyện T ban hành các Quyết định gia hạn thời hạn cưỡng chế để Tổ công tác tổ chức tuyên truyền bằng nhiều biện pháp vận động thuyết phục hộ bà K, nhưng hộ bà K không hợp tác. Do đó, ngày 30/11/2018, UBND huyện T phối hợp với UBND xã B tiến hành cưỡng chế thu hồi đất với hộ bà K là đảm bảo quy định tại Điều 17 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành một số điều Luật Đất đai.

Xét Quyết định số 1918/QĐ-UBND ngày 16/5/2019 của Chủ tịch UBND huyện T về việc giải quyết khiếu nại lần đầu đối với hộ gia đình bà K. Quyết định số 2227/QĐ-UBND ngày 01/6/2020 của Chủ tịch UBND thành phố H H về việc giải quyết khiếu nại lần hai đối với hộ gia đình bà K.

UBND huyện T ban hành Quyết định về việc thu hồi đất và Quyết định cưỡng chế là có căn cứ. Do đó, Chủ tịch UBND huyện T ban hành Quyết định số 1918/QĐ-UBND với nội dung không chấp nhận khiếu nại của bà K về việc thu hồi đất và cưỡng chế thu hồi đất, Chủ tịch UBND thành phố ban hành Quyết định số 2227/QĐ-UBND giữ nguyên Quyết định số 1918/QĐ-UBND, là đúng quy định pháp luật. Yêu cầu hủy các quyết định trên của bà K là không có cơ sở chấp nhận.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị K.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị K là người cao tuổi nên được miễn án phí hành chính phúc thẩm.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Bác kháng cáo của bà Nguyễn Thị K; giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 112/2024/HC-ST ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố H.

2. Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị K được miễn án phí hành chính phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ