- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị B - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt cáo Phạm Th B 05 (năm) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày cáo đi thi hành án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 339/2023/HS-PT Ngày: 28/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Trương Công Thi
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Tấn Hoàng
Ông Trần Đức Kiên
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Quang Toàn, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Thành, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 115/2023/TLPT-HS ngày 17 tháng 03 năm 2023 đối với cáo Phạm Th B về tội “Giết người”. Do có kháng cáo của b cáo đối với Bản án hình sự s thẩm số 08/2023/HSST ngày 14/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
* Bị cáo: Phạm Thị B, sinh ngày 01/01/1980 tại Thừa Thiên Huế. N i cư trú: Thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Phạm B1 (chết) và à Nguyễn Th H; có chồng là ông Nguyễn Văn C1 và có 03 con; lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không; cáo đang tại ngoại. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo:
- Ông Đỗ Xuân N – Luật sư Văn phòng Luật sư TV thuộc Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
- Ông Nguyễn Văn Q – Luật sư Công ty Luật TNHH H1 thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Bà Lê Th Bích H2 – Luật sư Công ty Luật TNHH H1 thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
* Bị hại: Ch Mai Th L, sinh năm 1977; đ a chỉ: Thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo Bản án sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được xác định như sau:
Phạm Th B và Nguyễn Văn C1 có quan hệ là vợ chồng. Trong quá trình sinh sống, đến năm 2019 Phạm Th B nghi ngờ chồng là Nguyễn Văn C1 và ch Mai Th L1 có quan hệ tình cảm với nhau.
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 22/12/2021, Phạm Th B đi đến nhà của ch L1 và nói với à Trần Th Ch (mẹ chồng L1) là ch L1 b ngã rách quần để lấy 01 cái quần của ch L1 với mục đích để làm “ ùa ngải”. Sau khi đi làm về ch Mai Th L1 được nghe kể lại sự việc trên nên, vào khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, ch Mai Th L1 đã cùng ch gái là Mai Th L, à Trần Th Ch và cháu La Th Diễm N (con ch L1) đi đến nhà của Phạm Th B tại thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai, để hỏi chuyện, khi đến n i ch L1 vào gặp B đang ngồi tại phòng khách để nói chuyện thì hai Bn xảy ra mâu thuẫn, ch L1 và B túm tóc, giằng co nhau, thấy vậy ch L lấy mũ ảo hiểm màu trắng đang đội trên đầu của mình cầm bằng tay trái đánh nhiều cái vào vùng đầu và mặt của B. Nghe ồn ào, anh C1 chạy ra can ngăn thì ch L1, ch L, à Ch và cháu N đi về. Ngay lúc này, B đi xuống phòng ếp lấy 01 con dao dài 36,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 24cm, cán bằng nhựa màu xanh dài 12,5cm chạy ra phòng khách, thấy ch L đang đứng ở bậc thềm ngoài hiên, B chạy đến đứng đối diện với ch L, tay trái cầm dao chém từ trên xuống trúng 01 nhát vào đầu của ch L, ch L lao đến giằng co với B, trong quá trình giằng co lưỡi dao trúng vào cẳng tay phải của ch L. Nghe tiếng kêu la ồn ào, anh C1 chạy đến ôm B lại và giật lấy con dao trong tay B ném vào bụi.
Sau khi b chém gây thư ng tích, ch L được anh C1 đưa đến Trạm y tế xã I, huyện C s cứu, sau đó được chuyển đến Bệnh viện Đại học y dược Hoàng Anh Gia Lai điều tr . Đến ngày 27/12/2021 thì xuất viện.
* Kết quả xác định hiện trường: Hiện trường xảy ra tại nhà Phạm Th B, thuộc thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. C quan Cảnh sát điều tra huyện C, tỉnh Gia Lai đã tiến hành khám hiện trường và thực nghiệm điều tra theo quy đ nh.
Tại Bản Kết luận giám đ nh pháp y về thư ng tích số 30 ngày 18/02/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai kết luận thư ng tích của ch Mai Th L:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
+ Một sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh chẩm kích thước (5 x 0,3)cm, sẹo liền, nhăm nhúm, sờ nắn đáy cứng, lõm vào trong diện (3 x 0,2)cm: 2%.
+ Chấn thương đầu gây mẻ bản ngoài xương sọ đính phải kích thước (3 x 5)mm: 6%.
+ Một sẹo vết thương phần mềm không liên tục mặt sau 1/3 trên cẳng tay phải kích thước (6 x 0,3)cm, sẹo liền, màu hồng, bờ mép phẳng: 2%.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 10%. Áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư 22/2019/TT-BYT.
3. Kết luận khác:
+ Cơ chế hình thành vết thương: Do sự tác động trực tiếp của ngoại lực.
+ Vật gây thương tích: Phù hợp với sự tác động của vật sắc có cạnh bén. Vì vậy, vật Cơ quan CSĐT Công an huyện C cung cấp là 01 con dao có cán màu xanh, lưỡi bằng kim loại, có chiều dài 36,5cm là vật phù hợp có thể gây ra thương tích nêu trên cho chị Mai Thị L.
Tại cáo trạng số 135/CT-VKS-P2 ngày 21/10/2022,Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố cáo Phạm Th B về tội “Giết người” theo quy đ nh tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Từ những nội dung đã được xác định nêu trên, tại Bản án hình s sơ thẩm s 08/2023/HSST ngày 14/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã quyết định:
1. Về tội danh: Tuyên ố cáo Phạm Th B phạm tội “Giết người”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 2 Điều 123; khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt cáo Phạm Th B 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày cáo đi thi hành án.
Ngoài ra, Bản án s thẩm còn quyết đ nh về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.
Sau khi xét xử s thẩm, ngày 22/02/2023 cáo Phạm Th B có đ n kháng cáo, lý do kháng cáo, cáo cho rằng mình không phạm tội Giết người như Bản án s thẩm đã quy kết, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại tội danh mà Tòa án cấp s thẩm đã áp dụng đối với cáo, tuyên xử cáo không phạm tội giết người.
Tại phiên tòa phúc thẩm, cáo Phạm Th B giữ nguyên kháng cáo.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa phát iểu quan điểm đối với vụ án như sau:
- Về tố tụng, Hội đồng xét xử, những người tiến hành và tham gia tố tụng đã thực hiện và tuân thủ đúng các quy đ nh của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Về nội dung, sau khi phân tích nội dung vụ án, Kiểm sát viên đề ngh Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của cáo Phạm Th B sửa tội danh “Giết người” mà Tòa án cấp s thẩm đã xét xử và giảm nhẹ hình phạt cho cáo.
Các luật sự ào chữa cho cáo Phạm Th B cho rằng Tòa án cấp c thẩm áp dụng khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự để xét xử cáo về tội “Giết người” là không đúng pháp luật, đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của cáo, sửa tội danh “Giết người” và giảm nhẹ hình phạt cho cáo Phạm Th B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên toà, xem xét kháng cáo của cáo Phạm Th B, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
. Xem xét về diễn iến hành vi, tính chất phạm tội và hậu quả của vụ án xét thấy:
Do Phạm Th B nghi ngờ chồng mình là anh Nguyễn Văn C1, có quan hệ tình cảm với ch Mai Th L1 nên Phạm Th B đã đến nhà ch Mai Th L1, nói dối với người nhà ch L1 để lấy quần của ch L1 về làm “ ùa ngải”. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 22/12/2021, ch L1 iết được việc Phạm Th B đến nhà mình lấy quần của mình nên cùng ch Mai Th L đến nhà Phạm Th B thuộc thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai để nói chuyện và đòi quần lại thì xảy ra xô xát đánh nhau và được can ngăn, sau đó ch L và L1 đi về. Vì ực tức ch Mai Th L có hành vi đánh mình trước đó nên Phạm Th B đã đi xuống nhà ếp lấy 01 (một) con dao dài 36,5cm, lưỡi dao làm ằng kim loại dài 24cm, mũi ằng, phần rộng nhất 5,3cm, cán dao ằng nhựa màu xanh dài 12,5cm, chém nhiều nhát vào đầu của ch Mai Th L, ch L lao đến giằng co với B, trong quá trình giằng co lưỡi dao trúng vào cẳng tay phải của ch L. Hậu quả ch Mai Th L t n hại sức khỏe 10 .
B cáo là người có năng lực trách nhiệm hành vi, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì ực tức việc ch L1 và ch L đánh nên cáo đã dùng dao sắc là hùng khí nguy hiểm chém nhiều nhát vào vùng đầu là vùng trọng yếu của c thể, làm mẻ xư ng sọ. Hành vi khách quan đó uộc cáo phải iết hậu quả chết người có khả năng xảy ra, song nhờ mọi người tước đoạt hung khí và hại được đưa đi cấp cứu k p thời. Hành vi nêu trên của cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người”. Tuy nhiên, do hại có một phần lỗi, đã đến gây sự và có hành vi đánh cáo trước nên tại Bản án s thẩm đã xét xử cáo Phạm Th B theo quy đ nh tại khoản 2 Điều123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Xem xét kháng cáo của cáo cũng như luận cứ ào chữa của các Luật sư cho cáo, xét thấy: Trong quá trình điều tra, tại lời khai an đầu, cáo khai nhận hành vi dùng dao chém nhiều nhát vào đầu ch L. Tuy nhiên sau đó cáo lại khai cho rằng cáo chỉ khua dao về phía ch L, do ch L tiến tới nên mới trúng vào người ch L. Lời khai này của cáo là không đúng, vì theo kết quả thực nghiệm điều tra, lời khai của hại, của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác mà C quan điều tra đã thu thập được cho thấy cáo đã chủ động đi lấy, dùng dao chém mạnh nhiều nhát vào vùng đỉnh đầu của hại, hại xông vào ôm lại thì giằng co nên dao trúng vào tay, phù hợp với ản ảnh thực nghiệm điều tra và Kết luận giám đ nh pháp y thể hiện: “Một sẹo vết thư ng phần mềm vùng đỉnh chẩm kích thước (5 x 0,3)cm; Chấn thư ng đầu gây mẻ ản ngoài xư ng sọ đính phải kích thước (3 x 5)mm Một sẹo vết thư ng phần mềm không liên tục mặt sau 1/3 trên cẳng tay phải kích thước (6 x 0,3)cm”.
Với diễn iến như đã phân tích nêu trên, tại Bản án s thẩm đã xét xử
cáo Phạm Th B về hành vi giết người theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự là có c sở, đúng pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của cáo Phạm Th B cũng như những luận điểm ào chữa của các luật sư, giữ nguyên tội danh Toà án cấp s thẩm đã xét xử đối với cáo.
Về án phí phúc thẩm, do không chấp nhận kháng cáo nên cáo phải ch u án phí hình sự phúc thẩm theo quy đ nh của pháp luật.
Các quyết đ nh khác của Bản án s thẩm về trách nhiệm dân sự, vật chứng, án phí s thẩm, không có kháng cáo kháng ngh , Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của cáo Phạm Th B, giữ nguyên tội danh và hình phạt tại Bản án s thẩm đã tuyên xử đối với cáo.
2. Áp dụng khoản 2 Điều 123; khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt cáo Phạm Th B 05 (năm) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày cáo đi thi hành án.
3. Về án phí phúc thẩm: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12 /2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy đ nh về án phí và lệ phí Tòa án. B cáo Phạm Th B phải ch u 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết đ nh khác của ản án s thẩm về trách nhiệm dân sự, vật chứng, án phí: không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Gia Lai; - C quan CSĐT-CA tỉnh Gia Lai; - Phòng HSNV-CA tỉnh Gia Lai; - C quan CSTHAHS-CA tỉnh Gia Lai; - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai; - Cục THADS tỉnh Gia Lai; - Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai; - B cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, PHCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Công Thi |