vanban.org

Bản án 339/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 17/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/6/2022. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 89; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Ngọc S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 339/2022/HS-ST
Ngày 17 – 11 -2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Văn Nhung;

2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2022 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và điểm cầu thành phần nhà tạm giữ Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 285/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 335/2022/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Hoàng Ngọc S, sinh năm 1993 tại tỉnh N; thường trú: Thôn 10, xã E, huyện C, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Quốc T, sinh năm 1957 và bà Hà Thị H, sinh năm 1963; có vợ tên Lê Thị H, sinh năm 1995 và 01 con, sinh năm 2018; tiền án: Ngày 02/02/2021 Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 26/2021/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 27/9/2021; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2022 cho đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Thái Hoàng H, sinh năm 1997; thường trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Q, vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt;

2. Chị Thái Thị Ngọc H, sinh năm 2000; thường trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Q, vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người chứng kiến: Anh Đỗ Minh T, vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 21/6/2022, Hoàng Ngọc S điều khiển xe mô tô biển số 73D1-283.88 đến khu vực gầm cầu vượt Sóng Thần thuộc phường A, thành phố D, tỉnh B gặp một người nam thanh niên (không rõ nhân thân, địa chỉ) để mua 800.000 đồng ma túy đá về sử dụng. Sau khi mua xong, S bỏ gói ma túy vào túi quần rồi chạy đến bãi đất trống khu vực phường Dĩ An, thành phố Dĩ An (không xác định được địa chỉ cụ thể) sử dụng một ít ma túy, số ma túy còn lại S bỏ vào trong chiếc khẩu trang màu trắng xám bỏ vào túi quần và tiếp tục điều khiển xe đi uống cà phê. Đến khoảng 21 giờ 18 phút cùng ngày, bên hông quán cà phê Xóm Vắng thuộc địa chỉ 1/16 đường số 05, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh B, Công an phường Dĩ An phối hợp cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố Dĩ An tiến hành tuần tra và phát hiện Hoàng Ngọc S ném xuống mặt đường (cách chỗ S đứng khoảng 01 mét) 01 khẩu trang màu trắng xám bên trong có 01 gói nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng. S khai nhận là ma túy mua về sử dụng nên tổ tuần tra tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa về trụ sở làm việc. Sau đó chuyển giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An xử lý theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) khẩu trang màu trắng xám; 01 (một) gói nylon miệng kéo dính bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (một) xe mô tô biển số 73D1-283.88, số khung RLHJF6332MZ732353, số máy JF94E0382566; 01 USB có file video chứa hình ảnh phạm tội; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh; 01 (một) áo thun tay ngắn màu xám và 01 (một) quần jean dài màu xanh.

Kết luận giám định số 297/KL-KTHS(MT) ngày 29/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lượng/trọng lượng 0,9534 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định số 297/KL-KTHS(MT) ngày 29/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương.

Bản Cáo trạng số 317/CT-VKS-DA ngày 29 tháng 9 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Hoàng Ngọc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, trong phần tranh tụng đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc S mức án từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.

Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

- 01 (một) bì thư được niêm phong của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương có ghi số vụ 297/PC09, bên trong có chứa 0,8425 gam ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đen, biển số 73D1-283.88, số khung RLHJF6332MZ732353, số máy JF94E0382566 là tài sản do chị Thái Thị Ngọc H đứng tên chủ sở hữu. Quá trình làm việc tại cơ quan điều tra, chị Thái Thị Ngọc H ủy quyền cho anh Thái Hoàng H, cả anh H và chị H đều xác định anh H là người mua xe này, tuy nhiên anh nhờ chị H đứng tên thay, hiện chưa làm thủ tục sang tên. Anh H cho S mượn xe nhưng không biết S sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An trả lại xe cho anh H. Anh H không yêu cầu bồi thường gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

- 01 USB là vật chứng của vụ án chứa file hình ảnh phạm tội của bị cáo nên được lưu tại vào hồ sơ vụ án.

- Đối với 01 (một) khẩu trang màu trắng xám, 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh, 01 (một) áo thun tay ngắn màu xám và 01 (một) quần jean dài màu xanh không còn giá trị sử dụng và liên quan đến vụ án nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Hoàng Ngọc S hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

- Bị cáo Hoàng Ngọc S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và không có ý kiến tranh luận gì khác.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến tranh luận về về điều luật áp dụng, khung hình phạt, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Thái Hoàng H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Thái Thị Ngọc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, tuy nhiên tại cơ quan điều tra chị Thái Thị Ngọc H (do anh H đại diện) đã có lời khai và sự vắng mặt của chị H không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 290 và 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về căn cứ xác định bị cáo phạm tội: Căn cứ vào lời khai của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 21/6/2022, Kết luận giám định số 297/KL-KTHS(MT) ngày 29/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương và những chứng cứ, tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 21 giờ 18 phút ngày 21/6/2022, bên hông quán cà phê Xóm Vắng thuộc địa chỉ 1/16 đường số 05, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh B, Công an phường Dĩ An phối hợp cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố Dĩ An tiến hành tuần tra và phát hiện Hoàng Ngọc S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,9534 gam, loại Methamphetamine.

Như vậy, hành vi tàng trữ ma túy có khối lượng 0,9534 gam, loại Methamphetamine của bị cáo Hoàng Ngọc S với mục đích để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Do đó, Cáo trạng số 317/CT-VKS-DA ngày 29 tháng 9 năm 2022 của Viện kiểm sát thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Ngọc S có một tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2021/HS-ST ngày 02/02/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/9/2021, hiện chưa được xóa án tích. Nay tiếp tục phạm tội mới do cố ý thuộc trường hợp “Tái phạm” nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình tố tụng bị cáo Hoàng Ngọc S đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu thể hiện bị cáo có tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích, đồng thời bị cáo là người nghiện ma túy, có con nhỏ nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt:

Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý đồng thời bị cáo là người sử dụng trái phép chất ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề ho c làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm ho c tịch thu một phần ho c toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Xét 01 (một) bì thư được niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương bên trong có thành phần ma túy, khối lượng mẫu vật còn lại sau giám định là 0,8425 gam, loại Methamphetamine là mẫu vật còn lại sau giám định là vật cấm lưu thông nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) xe nhãn hiệu Honda màu đen, biển số 73D1–283.88, số khung RLHJF6332MZ732353, số máy JF94E0382566 là tài sản do chị Thái Thị Ngọc H đứng tên chủ sở hữu. Quá trình làm việc tại cơ quan điều tra, chị Thái Thị Ngọc H ủy quyền cho anh Thái Hoàng H, cả anh H và chị H đều xác định anh H là người mua xe này, tuy nhiên anh nhờ chị H đứng tên thay, hiện chưa làm thủ tục sang tên. Do đó, có cơ sở xác định anh Thái Hoàng H là người quản lý hợp pháp của xe này. Anh H cho S mượn xe nhưng không biết S sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An trả lại xe cho anh H nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An trả lại xe cho anh H là phù hợp. Anh Thái Hoàng H đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Đối với 01 USB là vật chứng của vụ án chứa file hình ảnh phạm tội của bị cáo nên được lưu tại vào hồ sơ vụ án là phù hợp.

- Đối với 01 (một) khẩu trang màu trắng xám, 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh, 01 (một) áo thun tay ngắn màu xám và 01 (một) quần jJean dài màu xanh hiện không còn giá trị sử dụng, bị cáo cũng có không có yêu cầu nhận lại các vật này nên cẩn tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Hoàng Ngọc S hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt đối với bị cáo S cũng như việc xử lý vật chứng là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo Hoàng Ngọc S phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/6/2022.

2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 89; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, bên trong có 01 khẩu trang màu trắng xám và thành phần ma túy, khối lượng mẫu vật còn lại sau giám định là 0,8425 gam, 01 (một) nón bản hiểm màu xanh, 01 (một) áo thun tay ngắn màu xám, 01 (một) quần jean dài màu xanh.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/9/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hoàng Ngọc S phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ