vanban.org

Bản án 339/2020/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 06/08/2020 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/08/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Hữu L.

Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 28/2019/HC-ST ngày 05 tháng 10 năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Hữu L-CT UBND tỉnh T"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Hữu L.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật tố tụng hành chính; Điều 158 Luật tố tụng hành chính; Điều 241 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 339/2020/HC-PT
Ngày 06 tháng 8 năm 2020
V/v “Khiếu kiện quyết định xử phạt vi
phạm hành chính”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Chánh Trung

Các Thẩm phán:

Ông Lê Hoàng Tấn

Bà Trần Thị Thúy Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân cấp

cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành

phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số 617/2019/TLPT-HC ngày 21 tháng 10 năm 2019 về “Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 28/2019/HC-ST ngày 05 tháng 9 năm

2019 của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2062/2020/QĐ-PT

ngày 20 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp Mỹ

L, xã Mỹ Hạnh Trung, thị xã Cai Lây, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Luật sư

Võ Tấn Vĩnh T, Công ty luật TNHH MTV Vĩnh T1. Địa chỉ: Số 508 Phạm Hùng, xã Trung An, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Anh T. Chức vu: Phó Chủ tịch

Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 23, Đường 30/4, Phường 1, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền

Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân

tỉnh Tiền Giang: Ông Hà Thanh H. Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện người khởi kiện ông Nguyễn Hữu L trình bày:

Ngày 23 tháng 5 năm 2018, Đoàn kiển tra của UBND thị xã Cai Lậy,

căn cứ vào biên bản kiểm tra ngày 06 tháng 4 năm 2018 của Đoàn kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, biên bản lấy mẫu nước thải ngày 20/4/2018 và căn cứ phiếu kết quả phân tích số 1120418 ngày 04 tháng 5 năm 2018 của Trung tâm kỷ thuật và công nghệ sinh học tỉnh Tiền Giang đã lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực bảo vệ môi trường số 01/BB-VPHC đối với ông Nguyễn Hữu L. Ngày 08 tháng 6 năm 2018, Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang có quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1636/QĐ-XPVPHC do ông Phạm Anh T, chức vụ Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ký, xử phạt ông với số tiền tổng cộng là 88.000.000 đồng vì đã thực hiện các hành vi vi phạm hành chính: Thải mùi hôi thối vào môi trường, vượt chuẩn kỷ thuật về chất thải từ 05 đến dưới 10 lần (cụ thể: TSS vượt 8,38 lần, tổng Ni tơ vượt 1,12 lần, BOD5 vượt 6,84 lần, COD vượt 3,12 lần, Coliform vượt 7 lần) trong trường hợp thải lượng nước thải từ 05m3/ngày (24 giờ) đến dưới 10m3/ngày (24 giờ).

Nhận thấy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1636/QĐ-

XPVPHC ngày 08 tháng 6 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang là chưa có căn cứ, vi phạm trình tự thủ tục khi ra quyết định, bởi những lý do cụ thể sau: Tại biên bản lấy mẫu nước thải ngày 20/4/2018 của Đoàn kiểm tra thành phần gồm có ông Trần Hoàng Phúc là người trực tiếp lấy mẫu nước thải, nhưng trong biên bản không có anh Trần Hoàng Phúc ký tên, mặc khác tại phiếu kết quả phân tích ngày 04 tháng 5 năm 2018 của Trung tâm kỷ thuật và công nghệ sinh học tỉnh Tiền Giang, tại mục địa điểm/ vị trí/ ký hiệu mẫu ghi hộ chăn nuôi heo Nguyễn Hữu L, ấp Mỹ L, xã Mỹ Trung, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, từ những căn cứ nêu trên ông yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy toàn bộ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1636/QĐ-XPVPHC ngày 08 tháng 6 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang do ông Phạm Anh T, chức vụ Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ký.

Người bị kiện Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang trình bày:

Ông Nguyễn Hữu L ngụ ấp Mỹ L, xã Mỹ Hạnh Trung, thị xã Cai Lậy,

tỉnh Tiền Giang khởi kiện yêu cầu hủy toàn bộ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1636/QĐ-XPVPHC ngày 08 tháng 6 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Căn cứ vào Công văn số 2428/UBND-KTTC ngày 10/6/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang về việc cử người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang trong vụ kiện của ông Nguyễn Hữu L theo đó ông Hà Thanh H chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Cai Lậy được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang cử tham gia phiên họp có ý kiến như sau:

Căn cứ Kế hoạch số 11/KH-UBND ngày 19/01/2018 của UBND thị xã

Cai Lậy về việc kiểm tra về Tài nguyên và Môi trường trên địa bàn thị xã Cai Lậy năm 2018, ngày 06 tháng 4 năm 2018, Phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp Cảnh sát môi trường - Công an thị xã Cai Lậy và UBND xã Mỹ Hạnh Trung tiến hành kiểm tra về lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với trại chăn nuôi heo của ông Nguyễn Hữu L, nội dung cụ thể như sau:

- Tại thời điểm kiểm tra thì ông L chăn nuôi khoảng 260 con heo.

- Về hồ sơ môi trường: Trại chăn nuôi của ông Nguyễn Hữu L có đăng

ký tại Phòng Tài nguyên và Môi trường nhưng chưa được phê duyệt (do trại chăn nuôi thường xuyên bị phản ánh của người dân).

- Có phát sinh mùi hôi đặt trưng của chăn nuôi heo.

- Về xử lý chất thải: Có lắp đặt một hầm Biogas (52m3) và một bể lắng

để xử lý chất thải, nước thải sau đó được thoát ra sông Bà Tùng, với lượng nước thải trung bình 8m3/ngày.

- Ngày 20/4/2018, Đoàn kiểm tra phối hợp với Trung tâm kỷ thuật và

Công nghệ sinh học tỉnh Tiền Giang tiến hành thu một mẫu nước thải tại trại chăn nuôi heo của ông L.

- Ngày 04/5/2018, Trung tâm kỷ thuật và Công nghệ sinh học tỉnh Tiền

Giang có phiếu kết quả phân tích mẫu nước thải số 1120418. Căn cứ QCVN 62-MT:2016/BTNMT- Quy chuẩn kỷ thuật quốc gia về nước thải chăn nuôi thì có 05/06 chỉ tiêu của mẫu nước thải vượt so với quy chuẩn cho phép, trong đó chỉ tiêu TSS vượt cao nhất là 8.38 lần, chỉ tiêu tổng Ni tơ vượt 1,12 lần, chỉ tiêu BOD5 vượt 6,84 lần, chỉ tiêu COD vượt 3,12 lần, chỉ tiêu Coliform vượt 7 lần .

Qua kết quả kiểm tra xác định trại chăn nuôi heo ông L có các hành vi vi

phạm thải mùi hôi thối vào môi trường và xã nước thải vượt quy chuẩn kỷ thuật về chất thải từ 05 lần đến dưới 10 lần trong trường hợp thải lượng nước thải từ 05m3/ngày (24 giờ) đến dưới 10m3/ngày (24 giờ), được quy định tại khoản 1 Điều 15 và điểm b khoản 5 Điều 13 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Ngày 23/5/2019, Đoàn kiểm tra tiến hành lập biên bản vi phạm hành

chính đối với ông Nguyễn Hữu L do thực hiện hành vi vi phạm nêu trên.

Căn cứ Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ

quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, việc xử lý đối với các hành vi vi phạm hành chính của ông Nguyễn Hữu L được quy định như sau:

Đối với hành vi thải mùi hôi thối vào môi trường: Căn cứ khoản 1 Điều

15 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016, áp dụng hình thức phạt cảnh cáo.

Đối với hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 05

lần đến dưới 10 lần trong trường hợp thải lượng nước thải từ 05m3/ngày (24 giờ) đến dưới 10m3/ngày (24 giờ):

- Căn cứ điểm b khoản 5 Điều 13 Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày

18/11/2016, mức phạt tiền đối với hành vi trên là 30.000.000 đồng - 50.000.000 đồng, áp dụng mức trung bình khung là 40.000.000 đồng.

- Căn cứ khoản 7 Điều 13 Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày

18/11/2016:

+ Phạt tăng thêm 40% của mức phạt cao nhất đã chọn đối với hành vi vi

phạm đối với thông số BOD5 vượt quy chuẩn kỹ thuật 6,84 lần tương đương 40% x 40.000.000 đồng = 16.000.000 đồng.

+ Phạt tăng thêm 40% của mức phạt cao nhất đã chọn đối với hành vi vi

phạm đối với thông số Coliform vượt quy chuẩn kỹ thuật 7 lần tương đương 40% x 40.000.000 đồng = 16.000.000 đồng.

+ Phạt tăng thêm 30% của mức phạt cao nhất đã chọn đối với hành vi vi

phạm đối với thông số COD vượt quy chuẩn kỹ thuật 3,12 lần tương đương 30% x 40.000.000 đồng = 12.000.000 đồng.

+ Phạt tăng thêm 10% của mức phạt cao nhất đã chọn đối với hành vi vi

phạm đối với thông số Tổng Nitơ vượt quy chuẩn kỹ thuật 1,12 lần tương đương 10% x 40.000.000 đồng = 4.000.000 đồng.

- Căn cứ điểm a khoản 9 Điều 13 Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày

18/11/2016, buộc phải thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường và báo cáo kết quả đã khắc phục xong hậu quả vi phạm trong thời hạn do người có thẩm quyền ấn định trong quyết định xử phạt.

- Căn cứ điểm c khoản 9 Điều 13 Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày

18/11/2016, buộc chi trả kinh phí đo đạc và phân tích mẫu nước thải.

Do mức phạt tiền vượt thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND thị xã

theo khoản 2 Điều 48 Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016. Ngày 29/5/2018, Ủy ban nhân dân thị xã Cai Lậy có Tờ trình số 67/TTr-UBND gửi đến Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang xem xét xử phạt hành chính đối với ông Nguyễn Hữu L theo thẩm quyền.

Ngày 08/6/2018, Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ban hành Quyết định

số 1636/QĐ-UBND về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với ông Nguyễn Hữu L, cụ thể: Phạt cảnh cáo đối với hành vi thải mùi hôi thối vào môi trường, phạt tiền đối với hành vi xả nước vượt quy chuẩn cho phép với tổng số tiền là 88.000.000 đồng; buộc chi trả kinh phí đo đạc và phân tích mẫu nước thải với số tiền 1.290.000 đồng; Buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường.

Ngày 12/6/2018, Ủy ban nhân dân thị xã Cai Lậy phân công Phòng Tài

nguyên và Môi trường mời triển khai Quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Ủy ban nhân dân tỉnh tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hạnh Trung nhưng ông L không đến dự. Đến ngày 14/6/2018, Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hạnh Trung tiếp tục mời ông L triển khai quyết định, ông L nhận quyết định và có ý kiến đề nghị xem xét giảm mức phạt.

Thực hiện chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân thị xã Cai

Lậy đã tiến hành xác minh (theo đơn đề nghị xem xét giảm mức phạt của ông L). Kết quả kiểm tra vào ngày 07/8/2018 thì hiện trạng trại chăn nuôi của ông L không có thay đổi so với thời điểm kiểm tra phát hiện vi phạm; căn cứ Báo cáo số 171/BC-UBND ngày 23/10/2018 của Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hạnh Trung xác minh trường hợp của ông Nguyễn Hữu L không thuộc đối tượng được miễn, giảm tiền phạt theo quy định tại Điều 76, Điều 77 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và ông L không chấp nhận nộp tiền phạt nhiều lần.

Như vậy, do ông Nguyễn Hữu L đã thực hiện các hành vi vi phạm hành

chính: Thải mùi hôi thối vào môi trường và xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 05 lần đến dưới 10 lần trong trường hợp thải lượng nước thải từ 05m3/ngày (24 giờ) đến dưới 10m3/ngày (24 giờ); căn cứ quy định Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ban hành Quyết định số 1636/QĐ-UBND xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn H L đúng quy định pháp luật.

Từ nội dung vụ án trên Bản án hành chính sơ thẩm số 28/2019/HC-ST

ngày 05 tháng 9 năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang tuyên xử:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính.

Căn cứ Điều 30, điểm a khoản 2, Điều 116, khoản 1 Điều 158 Luật tố

tụng hành chính.

Căn cứ vào điểm b, khoản 5, khoản 7 Điều 13 Nghị định số

155/2016/NĐ-CP của Chính phủ.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu L về việc yêu cầu hủy

Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1636/QĐ-XPVPHC của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí hành chính sơ thẩm và

quyền kháng cáo, kháng nghị theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Hữu L (người khởi kiện) kháng cáo,

theo kháng cáo đề nghị sửa án sơ thẩm, xử hủy Quyết định số 1636/QĐ-XPVPHC ngày 08/6/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang. Tại phiên tòa cấp phúc thẩm hôm nay ông Nguyễn Hữu L xin vắng mặt, đề nghị xét xử vắng mặt ông, nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt ông Nguyễn Hữu L.

Ông Võ Tuấn Vĩnh T1 người bảo vệ quyền lợi lợi ích hợp pháp cho ông

Nguyễn Hữu L cũng đề nghị xét xử vắng mặt Luật sư, Luật sư có gửi lại bản L cứ bảo vệ quyền lợi cho ông Nguyễn Hữu L.

Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang đã được triệu tập hợp lệ 02 lần mà vẫn

vắng mặt nên Tòa xử vắng mặt Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Tại Tòa Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị phúc xử: Không chấp nhận

kháng cáo của ông Nguyễn Hữu L, giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm;

căn cứ kết quả tranh L tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của đương sự và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Hữu L kháng cáo trong hạn luật

định, nên kháng cáo hợp lệ.

Xét về thủ tục tố tụng:

Ông Nguyễn Hữu L khởi kiện yêu cầu xử hủy quyết định xử phạt vi

phạm hành chính số 1636/QĐ-XPVPHC ngày 08/6/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang thụ lý, giải quyết theo thủ tục tố tụng hành chính là đúng thẩm quyền.

Xét về thẩm quyền ban hành Quyết định xử phạt hành chính:

Theo văn bản ủy quyền số 176/QĐ-GQXP ngày 21/01/2018 của Chủ tịch

Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang thì ông Phạm Anh T - Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang được thay mặt Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ra quyết định xử phạt đối với cá nhân, tổ chức trong việc vi phạm về hành chính thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang (nên trình tự, thủ tục ban hành quyết định trên là đúng thẩm quyền).

Xét về nội dung việc kiện thì thấy:

Ngày 06/4/2018, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Cai Lậy phối

hợp với Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hạnh Trung, Công an thị xã Cai Lậy kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về việc bảo vệ môi trường đối với cơ sở chăn nuôi heo của ông Nguyễn Hữu L.

Ngày 20/4/2018, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã phối hợp với

Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hạnh Trung, Trung tâm Kỹ thuật và Công nghệ sinh học (thuộc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tiền Giang) tiến hành thu mẫu nước thải tại cơ sở chăn nuôi heo của ông Nguyễn Hữu L, cùng ngày 20/4/2018 mẫu nước thải được bàn giao cho Trung tâm Kỹ thuật và Công nghệ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh, ngày 04/5/2018 thì Trung tâm Kỹ thuật và Công nghệ sinh học thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh có kết quả phân tích mẫu, mẫu 1120418 gửi cho Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Cai Lậy. Sau đó thì Đoàn kiểm tra họp lại đối chiếu với các qui định - quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải chăn nuôi và kết L như sau:

Có 5/6 chỉ tiêu vượt so với qui định cho phép, trong đó có chỉ tiêu vượt

cao nhất là chỉ tiêu TSS vượt 8,38 lần. Từ đó mà Đoàn kiểm tra lập Biên bản vi phạm hành chính số 01/BB-VPHC ngày 23/5/2018 về việc vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Sau khi xem xét Tờ trình số 642/TTr-ĐKT ngày 28/5/2018 của Đoàn

kiểm tra, Ủy ban nhân dân thị xã Cai Lậy có Tờ trình số 67/TT-UBND ngày 29/5/2018 xác định theo khoản 2 Điều 48 Nghị định 155/2016/NĐ-CP thì mức phạt trên thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh nên đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang xem xét xử lý; đến ngày 08/6/2018 thì Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang có Quyết định số 1636/QĐ-XPVPHC đối với ông Nguyễn Hữu L.

Việc ông Nguyễn Hữu L đặt ra cho rằng theo Biên bản lấy mẫu nước

thải ngày 20/4/2018, có ông Trần Hoàng Phúc người trực tiếp lấy mẫu nước thải (nhưng ông Phúc không có ký tên) và theo Phiếu kết quả phân tích nước thải ngày 04/5/2018 của Trung tâm Kỹ thuật và Công nghệ sinh học thuộc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tiền Giang ghi ký hiệu mẫu hộ chăn nuôi của ông Nguyễn Hữu L tại ấp Mỹ L, xã Mỹ Trung (ghi xã Mỹ Trung là không đúng) mà là xã Mỹ Hạnh Trung mới đúng, nên cho rằng mẫu xét nghiệm không phải thu giữ tại trại chăn nuôi heo của ông, nên ông L đề nghị xem xét lại.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Về việc thu mẫu nước thải: Khi thu mẫu nước thải thì ông Trần Hoàng

Phúc không có ký tên vào Biên bản thu mẫu nước thải nhưng có đại diện cho Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hạnh Trung, Trung tâm Kỹ thuật và Công nghệ sinh học thuộc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tiền Giang và chữ ký của ông Nguyễn Hữu L, khi bàn giao mẫu nước thải thì ông Trần Hoàng Phúc và ông L đều có ký tên vào Biên bản bàn giao mẫu nước thải. Do đó, không thể cho rằng mẫu nước thải theo Kết L xét nghiệm không phải là mẫu thu giữ tại trang trại của ông L theo như ông L đặt ra. Còn về việc theo Kết L phân tích mẫu nước thải và ghi sai địa danh là xã Mỹ Trung được đính chính lại là xã Mỹ Hạnh Trung; việc sai sót tên địa danh không làm thay đổi nội dung của quyết định hành chính phải xem xét.

Xét về nội dung của Quyết định xử phạt hành chính số 1636/QĐ-

XDVDHC ngày 08/6/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang thì thấy:

Sau khi lập Đoàn kiểm tra và lấy mẫu nước thải tại cơ sở chăn nuôi heo

của ông Nguyễn Hữu L, sau khi có kết quả phân tích mẫu nước thải có 5/6 chỉ tiêu vượt so với quy chuẩn cho phép (kèm theo thông báo kết quả ngày 22/5/2018 của Đoàn kiểm tra), ngày 23/5/2018 thì Ủy ban nhân dân thị xã Cai Lậy (Đoàn kiểm tra) đã lập Biên bản vi phạm hành chính số 01/BB-VPHC trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, sau đó thì Ủy ban nhân dân thị xã lập tờ trình số 642/TTr-ĐKT ngày 28/5/2018; Tờ trình số 67/TTr-UBND ngày 29/5/2018 về việc đề nghị xử phạt hành chính. Ngày 08/6/2018, Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ra Quyết định số 1636/QĐ-XPVPHC xác định cơ sở chăn nuôi của ông Nguyễn Hữu L vi phạm 05 chỉ tiêu như: TSS vượt 8,38 lần; BOD5 vượt 6,84 lần; côliform vượt 7 lần; COD vượt 3,12 lần; Nitơ vượt 1,2 lần, với mức xử phạt của 5 chỉ tiêu là 88.000.000đ.

Hội đồng xét xử xét thấy: Do cơ sở chăn nuôi heo của ông Nguyễn Hữu

L không thực hiện đúng qui định về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi heo, nên Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang căn cứ điểm b khoản 1, khoản 5 Điều 13 Nghị định 155/2016 ngày 18/11/2016 của Chính phủ, xử phạt hành chính đối với ông L như trên là có căn cứ. Ông L khởi kiện cũng như Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông L đề nghị hủy quyết định nêu trên là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Chấp nhận theo quan điểm đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát là giữ

nguyên Bản án sơ thẩm xử.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính năm 2015;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Hữu L.

Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 28/2019/HC-ST ngày 05

tháng 10 năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Áp dụng Điều 30, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1 Điều 158 Luật tố

tụng hành chính năm 2015. điểm b khoản 5, khoản 7 Điều 13 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xử:

Không chấp nhận theo yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của ông

Nguyễn H L về việc yêu cầu Tòa án hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1636/QĐ-XPVPHC của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị

đã có hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Nguyễn Hữu L phải chịu 300.000đ

án phí hành chính phúc thẩm. Ngày 09/9/2019, ông Nguyễn Hữu L nộp số tiền 300.000đ tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001084 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang. Số tiền này được chuyển qua thi hành án phần án phí phải nộp.

Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06/8/2020.

Cỡ chữ