vanban.org

Bản án 339/2020/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 13/11/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/11/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2020/DS-ST ngày 10/7/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng N, tỉnh Đồng Tháp.

Công nhận sự tự nguyện của ông Trương Phi H và bà Lê Thị D với chị Nguyễn Thị Kim P và bà Nguyễn Thị B; ông H và bà D có nghĩa vụ liên đới trả nợ vay cho bà B số tiên 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Chị Nguyễn Thị Kim P và bà Nguyễn Thị B tự nguyện thống nhât trả lại giây chứng nhận quyên sử dụng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay giữa P với H"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2020/DS-ST ngày 10/7/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng N, tỉnh Đồng Tháp.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 339/2020/DS-PT
Ngày: 13-11-2020
V/v Tranh châp hợp đồng mua
bán tài sản và vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Phương.

Các Thẩm phán:

Ông Trương Phước Tự.

Ông Sỹ Danh Đạt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thùy Vân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Phạm Thị Thanh Hương – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 13/11/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 337/2020/TLPT-DS ngày 18 tháng 8 năm 2020, vê “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản và vay tài sản” .

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2020/DS-ST ngày 10/7/2020 của Toà án nhân dân thị xã Hồng N, tỉnh Đồng tháp bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 342/2020/QĐ-PT, ngày 16 tháng 9 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1996 – Đại diện hộ kinh doanh Kim P.

Địa chỉ: khóm Thượng 2, thị trân Thường Thới T, huyện Hồng N, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyên của chị P là anh Hồ Thanh H, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp Phú L, xã Phú T, huyện Hồng N, tỉnh Đồng Tháp (Văn bản ủy quyên ngày 13/8/2020) (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Trương Phi H, sinh năm 1954 (có mặt).

Địa chỉ: khóm Sở T, phường An L, thị xã Hồng N, Đồng Tháp.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1972.

Địa chỉ: khóm T, thị trân Thường Thới T, huyện Hồng N, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyên của bà B là anh Hồ Thanh H, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp Phú L, xã Phú T, huyện Hồng N, tỉnh Đồng Tháp (Văn bản ủy quyên ngày 13/8/2020) (có mặt).

3.2. Bà Lê Thị D, sinh năm 1952 (vắng mặt).

Địa chỉ: khóm Sở T, phường An L, thị xã Hồng N, Đồng Tháp.

4. Người kháng cáo: Ông Trương Phi H là bị đơn trong vụ án.

5. Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng N.

NỘI DUNG VU ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim P trình bày:

Từ năm 2018 đến năm 2019 bà Nguyễn Thị Kim P có bán thiếu thức ăn cá cho ông Trương Phi H số tiên là 859.690.000đ. Trong thời gian mua thức ăn của bà P thì ông H có gửi cho bà P giữ giây chứng nhận quyên sử dụng đât, đối với diện tích 87m2, tại thửa 366, tờ bản đồ số 12, đât tại khóm Sở T, phường An L, thị xã Hồng Ngự, do hộ ông H đứng tên quyên sử dụng đât để làm tin. Theo đơn khởi kiện bà P yêu cầu ông H trả cho bà P số tiên nợ mua thức ăn thủy sản là 859.690.000đ, không yêu cầu tính lãi. Nhưng nay bà Nguyễn Thị Kim P xin thay đổi yêu cầu là yêu cầu hộ ông Trương P Hải gồm: Ông Trương Phi H và vợ là Lê Thị D cùng có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho bà P số tiên 809.690.000đồng (Vì ông H cho rằng trong số tiên 859.690.000đồng ông có mượn của bà B 50.000.000đồng nên bà P để bà B yêu cầu hộ ông H trả cho bà B số tiên 50.000.000đồng, bà P không yêu cầu số tiên này). Bà P thừa nhận có giữ giây chứng nhận quyên sử dụng đât của hộ ông Trương Phi H để làm tin trong việc mua bán thức ăn. Bà P tự nguyện trả lại giây chứng nhận quyên sử dụng đât cho hộ ông H, khi hộ ông H trả đủ số tiên 809.690.000đồng cho bà P.

Bị đơn ông Trương Phi H trình bày:

Ông thừa nhận có mua thức ăn cá của bà Nguyễn Thị Kim P từ năm 2018 đến năm 2019. Tính đến nay, ông còn nợ bà P với tổng số tiên 859.690.000đồng, trong đó có 50.000.000đồng ông mượn của bà Nguyễn Thị B (Mẹ chồng bà P). Ông có cầm giây chứng nhận quyên sử dụng đât cho bà B để mượn số tiên trên, ông có trả lãi cho bà B được 03 tháng với số tiên là 4.500.000đồng, nhưng ông không có chứng cứ chứng minh cho việc ông đã trả lãi cho bà B nên ông không có yêu cầu gì vê số tiên này. Việc ông cầm giây chứng nhận quyên sử dụng đât có ghi vào sổ hiện do bà P đang giữ nên ông yêu cầu bà P cung câp sổ ghi nhận trên. Như vậy, ông thống nhât trả số tiên mua thức ăn cá cho bà Nguyễn Thị Kim P là 809.690.000đồng và thống nhât trả số tiên mượn cho bà Nguyễn Thị B là 50.000.000đồng. Ông yêu cầu bà B trả lại giây chứng nhận quyên sử dụng đât cho ông khi ông trả đủ cho bà B số tiên 50.000.000đồng.

Đối với hóa đơn bán lẻ (Biên nhận) ngày 02/7/2018 mà ông cung câp cho Tòa án trong đó chữ viết “Ông Chương Phi H có mượn của bà Nguyễn Thị B số tiên là 50.000.000 (Năm mươi triệu đồng)” là chữ viết của bà Nguyễn Thị Kim P. Còn chữ viết “Cầm giây chứng nhận QSD Đât” là chữ viết của ông H tự ghi thêm, do bà P không có ghi nên ông mới nói sao không ghi vào thì bà P kêu ông ghi vào. Lý do ông mượn tiên của bà B mà bà P là người ghi hóa đơn cho ông là vì bà B kêu bà P lây tiên giao cho ông và ghi hóa đơn cho ông, còn ký tên người đưa tiên là bà Nguyễn Thị B. Ngoài hóa đơn bán lẻ (Biên nhận) ngày 02/7/2018 ra ông H không còn chứng cứ nào khác chứng minh ông có cầm giây chứng nhận quyên sử dụng đât của ông cho bà B.

Việc mua thức ăn để nuôi cá là nhằm phục vụ cho kinh tế hộ gia đình ông H. Hộ gia đình ông được câp hộ khẩu vào năm 2011, thành viên trong hộ chỉ có ông H và vợ là Lê Thị D. Thời điểm ông được câp giây chứng nhận quyên sử dụng đât vào năm 2009 thì hộ ông chỉ có ông và vợ ông vì các con ông đã có chồng, có vợ và có hộ khẩu riêng nên các con không có liên quan gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B trình bày:

Bà Nguyễn Thị Kim P là con dâu của bà. Việc mua bán thức ăn cá là của bà, còn bà P chỉ đứng tên trong giây phép kinh doanh chứ quyên định đoạt vê tài sản của hộ Kinh doanh Kim P là do bà toàn quyên quyết định. Số tiên ông H thiếu do mua thức ăn cá và ông H mượn đêu là tiên của bà, nhưng do bà P đứng tên giây phép kinh doanh nên theo quy định pháp luật bà Nguyễn Thị Kim P mới có quyên khởi kiện đối với số tiên ông Trương Phi H mua thức ăn cá còn thiếu là 809.690.000đồng.

Theo đơn yêu cầu độc lập bà B yêu cầu ông Trương Phi H trả cho bà số tiên 50.000.000đồng do ông H mượn của bà theo hóa đơn bán lẻ (Biên nhận) ngày 02/7/2018. Bà B chỉ yêu cầu ông Trương Phi H trả nợ cho bà Bích chứ không yêu cầu các thành viên trong hộ gia đình của ông H trả số nợ này cho bà. Nhưng nay bà B thay đổi yêu cầu là yêu cầu hộ ông Trương Phi H gồm: Ông Trương Phi H và vợ là bà Lê Thị D cùng có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho bà B số tiên 50.000.000đồng.

Còn nội dung của hóa đơn bán lẻ (Biên nhận) ngày 02/7/2018 thì y như ông H đã trình bày là ông H tự ghi thêm vào phần “Cầm giây chứng nhận QSD Đât”. Việc bà cho ông H mượn tiên không tính lãi. Bà B không thống nhât việc ông H yêu cầu được nhận lại giây chứng nhận quyên sử dụng đât của hộ ông H khi hộ ông trả đủ cho bà số tiên 50.000.000đồng vì giây đât trên ông H đưa cho bà P để làm tin trong việc mua bán thức ăn cá, hiện nay bà P đang quản lý giây chứng nhận quyên sử dụng đât của hộ ông H chứ không phải ông H cầm giây đât cho bà.

Việc bà cho ông H mượn tiên là không có tính lãi nên việc ông H cho rằng ông có trả tiên lãi cho bà 03 (Ba) tháng được 4.500.000đồng là không có và cũng không có sổ nào ghi việc cầm giây đât như ông H trình bày.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị D trình bày: Bà D là vợ ông H nên bà thống nhât theo lời trình bày và yêu cầu của ông H, bà không trình bày hay yêu cầu bổ sung gì thêm.

Ban án sơ thẩm sô 11/2020/DS-ST ngày 10/7/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng N, Đồng Tháp tuyên xử:

1. Công nhận sự thỏa thuận giữa bà Nguyễn Thị Kim P ủy quyên cho bà Nguyễn Thị B với ông Trương Phi H và bà Lê Thị D. Ông Trương Phi H và bà Lê Thị D có nghĩa vụ liên đới trả nợ mua thức ăn cá cho bà Nguyễn Thị Kim P số tiên 809.690.000đồng (Tám trăm lẻ chín triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng).

2. Châp nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Kim P. Bà P tự nguyện thống nhât trả lại giây chứng nhận quyên sử dụng đât số AP 507266, câp ngày 12/5/2009, do hộ ông Trương Phi H đứng tên quyên sử dụng đât cho hộ ông Trương Phi H khi hộ ông Trương Phi H trả đủ số tiên 809.690.000đồng cho bà Nguyễn Thị Kin P.

3. Công nhận sự thỏa thuận giữa bà Nguyễn Thị B với ông Trương Phi H và bà Lê Thị D. Ông Trương Phi H và bà Lê Thị D có nghĩa vụ liên đới trả nợ vay cho bà B số tiên 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyên chủ động ra Quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiên phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tât cả các khoản tiên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiên còn phải thi hành án theo mức lãi suât quy định tại khoản 2 Điêu 468 của Bộ luật dân sự.

2. Vê án phí:

- Buộc ông Trương Phi H và bà Lê Thị D chịu 36.290.700đ (Ba mươi sáu triệu hai trăm chín mươi nghìn bảy trăm đồng) tiên án phí dân sự sơ thẩm (đối với phần nợ mua thức ăn của bà Phụng). Nhưng ông Trương Phi H và bà Lê Thị D là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ tiên án phí dân sự sơ thẩm đối với phần này theo quy định pháp luật.

- Buộc ông Trương Phi H và bà Lê Thị D chịu 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) tiên án phí dân sự sơ thẩm (đối với phần nợ vay của bà Bích). Nhưng ông Trương Phi H và bà Lê Thị D là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ tiên án phí dân sự sơ thẩm đối với phần này theo quy định pháp luật.

- Bà Nguyễn Thị Kim P được nhận lại 18.895.000đ (Mười tám triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn đồng) tiên tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí số 04564, ngày 03/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hồng Ngự.

- Bà Nguyễn Thị B được nhận lại 1.250.000đ (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiên tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí số 04656, ngày 05/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hồng N.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên vê quyên và thời hạn kháng cáo, quyên, nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông H có đơn kháng cáo ngày 20/7/2020, kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, cho rằng ông thế châp giây đât cho bà B để vay 50.000.000đ, chứ không phải thế châp giây đât cho chị P để mua thức ăn cá như án sơ thẩm quyết định.

Viện Kiểm sát huyện Hồng N có quyết định kháng nghị số 04/QĐKNPT-VKS-DS ngày 26/7/2020, nội dung kháng nghị nhận định việc thế châp giây chứng nhận quyên sử dụng đât của ông H cho bà B hay cho chị P trong trường hợp vay hay để làm tin trong việc mua nợ thức ăn cá đêu vi phạm pháp luật, do giao dịch không lập thành văn bản, không công chứng, chứng thực và không đăng ký giao dịch bảo đảm theo pháp luật, mà Tòa án tuyên cho chị P được giữ giây đât này đến khi hộ ông H trả hết số tiên 809.690.000 đồng, chị P mới tự nguyện thống nhât trả lại giây đât cho ông H, là không đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Ông H giữ nguyên nội dung kháng cáo, bà B, chị P có nghĩa vụ trả lại giây chứng nhận quyên sử dụng đât cho ông ngay sau khi ông trả đủ 50.000.000 đồng tiên vay cho bà B.

- Anh H đại diện theo ủy quyên của chị P và bà B trình bày là chị P và bà B đồng ý với nội dung yêu cầu của ông H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh đã phát biểu vê tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đêu châp hành đúng quy định pháp luật; vê nội dung đê nghị công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, sửa án sơ thẩm theo sự thỏa thuận của đương sự.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả trannh tụng tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Tại phiên tòa phúc thẩm ông Trương Phi H cho rằng ông thế châp giây chứng nhận quyên sử dụng là cho khoản vay 50 triệu đồng của bà B, không phải thế châp cho việc mua thức ăn thiếu của chị P với số tiên là 809.690.000đồng, nay ông H đồng ý trả 50.000.000 đồng để nhận lại giây chứng nhận quyên sử dụng đât đã thế châp. Còn tiên nợ mua thức ăn cá của chị P 809.690.000 đồng ông H sẽ tự lo trả bằng nguồn khác, không liên quan đến việc thế châp giây đât.

Anh H đại diện theo ủy quyên của chị P và bà B xác định ý kiến của chị P và bà B là châp nhận theo yêu cầu của ông H đồng ý trả lại giây chứng nhận quyên sử dụng đât cho ông H ngay khi ông H trả đủ 50.000.000 đồng cho bà B, ngoài ra không có ý kiến khác.

Hội đồng xét xử nhận thây đây là sự thỏa thuận tự nguyện của các đương sự, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điêu câm của luật nên được công nhận.

. Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh đê nghị công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, sửa án sơ thẩm là có cơ sở nên được châp nhận.

. Do các đương sự thỏa thuận được tại phiên tòa, câp phúc thẩm cần phải sửa án sơ thẩm, không cần xem xét nội dung kháng nghị và người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điêu 300 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định vê án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2020/DS-ST ngày 10/7/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng N, tỉnh Đồng Tháp.

2. Công nhận sự tự nguyện của ông Trương Phi H và bà Lê Thị D với chị Nguyễn Thị Kim P và bà Nguyễn Thị B; ông H và bà D có nghĩa vụ liên đới trả nợ vay cho bà B số tiên 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Chị Nguyễn Thị Kim P và bà Nguyễn Thị B tự nguyện thống nhât trả lại giây chứng nhận quyên sử dụng đât (bản chính) số AP 507266, câp ngày 12/5/2009, do hộ ông Trương Phi H đứng tên, cho ông Trương Phi H ngay khi ông Trương Phi H và bà Lê Thị D trả đủ số tiên 50.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị B.

3. Công nhận sự thỏa thuận giữa chị Nguyễn Thị Kim P với ông Trương Phi H và bà Lê Thị D. Ông Trương Phi H và bà Lê Thị D có nghĩa vụ liên đới trả nợ mua thức ăn cá cho chị Nguyễn Thị Kim P số tiên 809.690.000đồng (Tám trăm lẻ chín triệu, sáu trăm chín mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiên còn phải thi hành án cho bên được thi hành án theo mức lãi suât quy định tại Điêu 357 và Điêu 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Vê án phí dân sự:

- Ông Trương Phi H và bà Lê Thị D là người cao tuổi nên được miễn nộp toàn bộ tiên án phí dân sự sơ thẩm và ông H không phải chịu án phí phúc thẩm.

- Bà Nguyễn Thị Kim P được nhận lại 18.895.000đ (Mười tám triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn đồng) tiên tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004564, ngày 03/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hồng N, Đồng Tháp.

- Bà Nguyễn Thị B được nhận lại 1.250.000đ (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiên tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004656, ngày 05/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hồng N, Đồng Tháp.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điêu 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyên thỏa thuận thi hành án, quyên yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điêu 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điêu 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ