vanban.org

Bản án 337/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Thạch Thị M ly hôn với ông Lê Thành Đ. Về con chung: Giao 02 người con chung tên Lê Bảo N (giới tính nữ), sinh ngày 06/4/2010 và Lê Hoàng L (giới tính nam), sinh ngày 04/10/2012 cho bà Thạch Thị M tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lê Thành Đ không phải cấp dưỡng nuôi c…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 337/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 12 - 2025
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hoàng Giang.

Ông Vũ Minh Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Nhật là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau.

Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 408/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 547/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Thạch Thị M, sinh năm 1984 (xin vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Số C, đường L, phường P, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Ông Lê Thành Đ, sinh năm 1989 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 31/10/2025, cùng các văn bản kèm theo bà Thạch Thị M trình bày:

Về hôn nhân: Năm 2011, bà và ông Lê Thành Đ thành hôn và chung sống với nhau như vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường P, thành phố Cần Thơ) ngày 22/8/2011. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu rất hạnh phúc nhưng thời gian sau vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông Đ không quan tâm, chăm sóc cho gia đình, vợ chồng cũng đã ly thân từ năm 2013 đến nay. Hiện nay bà không còn tình cảm dành cho ông Lê Thành Đ và không thể tiếp tục sống cùng ông Lê Thành Đ. Xét thấy cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà cương quyết yêu cầu ly hôn ông Lê Thành Đ.

Về con chung có 02 người con chung tên Lê Bảo N (giới tính nữ), sinh ngày 06/4/2010 và Lê Hoàng L (giới tính nam), sinh ngày 04/10/2012. Hiện 02 người con chung đang do bà trực tiếp nuôi dưỡng, bà yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng 02 người con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do công việc làm ăn xa nên việc đi lại khó khăn, bà Thạch Thị M xin vắng mặt tham gia tố tụng và không có ý kiến gì khác.

Ông Lê Thành Đ đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, đồng thời triệu tập xét xử nhiều lần nhưng ông Đ vẫn không tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Vụ án tranh chấp ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực, thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ, được quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Lê Thành Đ đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử đến lần thứ hai, nhưng ông Lê Thành Đ vắng mặt không có lý do. Nay căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ.

Bà Thạch Thị M xin vắng mặt tham gia phiên tòa. Nay căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ.

[2] Về hôn nhân: Năm 2011, bà Thạch Thị M và ông Lê Thành Đ chung sống với nhau như vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Cuộc sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm thường xuyên tranh cãi. Bà Thạch Thị M cho rằng ông Lê Thành Đ không quan tâm, chăm sóc cho gia đình và xác định không còn tình cảm dành cho ông Đ nên bà Thạch Thị M cương quyết ly hôn. Cả hai không còn chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2013 cho đến nay. Xét thấy, quan hệ hôn nhân của bà Thạch Thị M và ông Lê Thành Đ không thể tiếp tục duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được. Hôn nhân giữa bà Thạch Thị M và ông Lê Thành Đ đã và đang trong tình trạng trầm trọng. Đối với yêu cầu của bà Thạch Thị M, ông Lê Thành Đ không có ý kiến gì, ông Đ cũng không tham hòa giải thể hiện ý chí không mong muốn đoàn tụ gia đình. Xét cho bà Thạch Thị M ly hôn với ông Lê Thành Đ là có cơ sở.

[3] Về con chung: Có 02 người con chung tên Lê Bảo N (giới tính nữ), sinh ngày 06/4/2010 và Lê Hoàng L (giới tính nam), sinh ngày 04/10/2012. Hiện 02 người con chung đang do bà Thạch Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, bà M yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng 02 người con chung. Mặt khác, cháu Lê Bảo N và Lê Hoàng L có nguyện vọng sống cùng với bà Thạch Thị M. Quá trình giải quyết vụ án ông Lê Thành Đ không có ý kiến gì về yêu cầu nuôi con của bà M. Xét thấy, để không làm xáo trộn đời sống của các con chung, cần chấp nhận yêu cầu của bà Thạch Thị M giao 02 người con chung tên Lê Bảo N và Lê Hoàng L cho bà Thạch Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Thạch Thị M không yêu cầu ông Lê Thành Đ cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[5] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Thạch Thị M phải chịu theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng vào các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Thạch Thị M ly hôn với ông Lê Thành Đ.

2. Về con chung: Giao 02 người con chung tên Lê Bảo N (giới tính nữ), sinh ngày 06/4/2010 và Lê Hoàng L (giới tính nam), sinh ngày 04/10/2012 cho bà Thạch Thị M tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lê Thành Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Lê Thành Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

3. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Thạch Thị M phải chịu 300.000 đồng. Bà Thạch Thị M đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0004321 ngày 10/11/2025, của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, nay chuyển thu.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Bà Thạch Thị M và ông Lê Thành Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ