vanban.org

Bản án 337/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Bùi Thị T về việc xin ly hôn và giao nuôi con chung khi ly hôn đối với anh Dương Thanh Đ

Về quan hệ hôn nhân: Xử: Chị Bùi Thị T được ly hôn với anh Dương Thanh Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Bùi Thị T về việc xin ly hôn và giao nuôi con chung khi ly hôn đối với anh Dương Thanh Đ
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN SƠN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 337/2024/HNGĐ-ST
Ngày 30/12/2024
Về việc: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Thu Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đặng Thị Huệ

2. Bà Lộc Thị Kim Thơm

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thảo Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 270/2024/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn và nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/11/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 82b/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13/12/2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1983

* Bị đơn: Anh Dương Thanh Đ, sinh năm 1973

Cùng địa chỉ: Thôn 19, xã T, huyện Y, tỉnh T.

(Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Đ vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị T và anh Dương Thanh Đ cùng xác định anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình cưới hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 07/11/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Công Đa, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

Chị Bùi Thị T trình bày: Thời gian đầu vợ chồng chung sống hoà thuận bình thường đến năm 2023 thì mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân của mâu thuẫn là do tính tình hai bên thực sự không hợp, bất đồng quan điểm sống và lối sống sinh hoạt dẫn đến việc chị và anh Đ đã sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Nay chị T xác định vợ chồng đã không còn yêu thương và tôn trọng nhau, không thể tiếp tục chung sống với nhau nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Dương Thanh Đ.

Anh Dương Thanh Đ cũng xác định: Đến đầu năm 2024 mâu thuẫn vợ chồng giữa anh và chị T trở nên trầm trọng, nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn là do tính tình hai bên không hợp nhau luôn bất đồng về quan điểm, lối sống; anh và chị T hiện đang sống ly thân, không còn tồn tại một gia đình. Tuy mâu thuẫn trầm trọng nhưng vì các con nên anh không nhất trí ly hôn với chị T, mong muốn được đoàn tụ gia đình, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.

Về con chung: Chị Bùi Thị T và anh Dương Thanh Đ xác định có 03 con chung là Dương Ngọc T, sinh ngày 31/12/2003; Dương Thành L, sinh ngày 20/11/2008 và Dương Thành L, sinh ngày 23/10/2012. Cháu Dương Ngọc T đã trưởng thành và kết hôn nên anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cả hai cháu L và cháu L, không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Ý kiến của anh Đ về con chung là đề nghị Tòa án tiến hành hỏi nguyện vọng của các cháu, nếu cháu Dương Thành L và cháu Dương Thành L có nguyện vọng ở với mẹ thì anh cũng đồng ý, còn nếu cháu L và cháu L có nguyện vọng ở với anh thì anh nhất trí là người trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị T và anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về vay nợ chung: Chị T và anh Đ xác định không có nên không đề nghị Toà án giải quyết.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hỏi nguyện của con trên 7 tuổi theo quy định của pháp luật. Hai cháu Dương Thành L và Dương Thành L đều có nguyện vọng ở với mẹ là chị Bùi Thị T nếu bố mẹ ly hôn.

Toà án nhân dân huyện Yên Sơn đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải giữa chị Bùi Thị T và anh Dương Thanh Đ nhưng không thành.

Chị T có đơn xin vắng mặt tại phiên toà, giữ nguyên ý kiến như đã nêu trong quá trình giải quyết vụ án, không bổ sung gì thêm. Anh Đ đi làm ăn xa, không có mặt tại nơi cư trú; Tòa án đã xác minh, làm việc tại địa phương và tiến hành thủ tục niêm yết tài liệu theo quy định của pháp luật.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn khi tham gia tố tụng dân sự đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn tham gia tố tụng giai đoạn hòa giải nhưng vắng mặt giai đoạn xét xử, Tòa án đã tiến hành niêm yết đúng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Bùi Thị T và anh Dương Thanh Đ có đăng ký kết hôn ngày 07/11/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Công Đa, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn nhưng không thể tự hoà giải được. Chị T đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Đ, anh Đ xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nhưng vì con nên không đồng ý ly hôn với chị T; tại phiên hòa giải chị T và anh Đ không thống nhất được về việc giao nuôi con chung, đề nghị Tòa án hỏi ý kiến con chung của anh chị và giải quyết theo thủ tục chung. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Bùi Thị T được ly hôn với anh Dương Thanh Đ; về con chung: Giao con Dương Thành L, sinh ngày 20/11/2008 và con Dương Thành L, sinh ngày 23/10/2012 cho chị Bùi Thị T trực tiếp trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chung, do chị T không yêu cầu nên anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về tài sản chung: Chị T và anh Đ xác định tự thoả thuận; về vay nợ chung: Chị T và anh Đ xác định không có nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết. Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị HĐXX tuyên chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Bùi Thị T và anh Dương Thanh Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn đúng quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Công Đa, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 07/11/2003. Như vậy quan hệ hôn nhân của chị T và anh Đ là hợp pháp. Chị Bùi Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung, do vậy Toà án nhân dân huyện Yên Sơn xác định quan hệ pháp luật là: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Các tài liệu, chứng cứ thể hiện bị đơn - anh Dương Thanh Đ hiện đang cư trú và sinh sống tại thôn 19, xã T, huyện Y, tỉnh T. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ (tống đạt trực tiếp, niêm yết theo đúng quy định của pháp luật) các văn bản tố tụng cho nguyên đơn và bị đơn. Tại phiên toà chị Bùi Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Dương Thanh Đ vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

Về yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị T, HĐXX nhận định:

Đối với yêu cầu xin ly hôn với anh Dương Thanh Đ:

Quá trình chung sống anh chị T – Đ phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày nhưng không có cách giải quyết, không thể tự hoà giải và đã sống ly thân. Chị Bùi Thị T xác định vợ chồng không thể đoàn tụ chung sống với nhau được nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Dương Thanh Đ; anh Đ mong muốn vợ chồng đoàn tụ vì nghĩ cho các con nên không nhất trí ly hôn với chị T.

Quá trình Toà án giải quyết và hoà giải, chị T và anh Đ có bản tự khai và có mặt tại phiên họp công khai chứng cứ và phiên hòa giải nhưng đều giữ nguyên ý kiến của mình. Toà án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương, kết quả cho thấy: Chị Bùi Thị T và anh Dương Thanh Đ đã sống ly thân, không còn tồn tại một gia đình hạnh phúc và tiến bộ; hiện tại anh Đ đi làm ăn xa, không thường xuyên về nhà, chính quyền cơ sở không nắm được lịch đi lại và không biết anh Đ làm việc ở đâu. Như vậy, có đủ cơ sở cho thấy hôn nhân của chị Bùi Thị T và anh Dương Thanh Đ đã lâm vào tình trạng thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ và tiếp tục đời sống chung vợ chồng. Từ những phân tích trên, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận xử cho chị Bùi Thị T được ly hôn với anh Dương Thanh Đ.

Đối với yêu cầu được giao nuôi con chung khi ly hôn:

Chị Bùi Thị T và anh Dương Thanh Đ xác định anh chị có 03 con chung là Dương Ngọc T, sinh ngày 31/12/2003; Dương Thành L, sinh ngày 20/11/2008 và Dương Thành L, sinh ngày 23/10/2012. Hiện nay cháu Dương Ngọc T đã trưởng thành và kết hôn nên Tòa án không xem xét giải quyết. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cả hai con Dương Thành L và Dương Thành L, không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Đ không đưa ra đề nghị cụ thể mà đề nghị Tòa án tiến hành hỏi nguyện vọng, nếu các con Dương Thành L và Dương Thành L có nguyện vọng ở với chị T thì anh cũng đồng ý, còn nếu có nguyện vọng ở với anh thì anh cũng nhất trí trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung cùng với anh. Xét thấy ý kiến của cháu L và cháu L đều có nguyện vọng ở muốn được với mẹ là chị Bùi Thị T nếu bố mẹ ly hôn; xét thấy chị T có cuộc sống, công việc và thu nhập ổn định, có thể đảm bảo mọi điều kiện để nuôi con ăn học và phát triển. Như vậy giao các con chung của anh chị cho chị T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục sau khi ly hôn là phù hợp. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của chị Bùi Thị T về việc xin được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Dương Thành L và Dương Thành L là có căn cứ cần chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con chung, do chị T không yêu cầu nên anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Chị Bùi Thị T và anh Dương Thanh Đ xác định tự thoả thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về vay nợ chung: Chị Bùi Thị Tvà anh Dương Thanh Đ xác định vợ chồng không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Bùi Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; anh Dương Thanh Đ không phải nộp án phí.

Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị T và anh Dương Thanh Đ được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 264, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Bùi Thị T về việc xin ly hôn và giao nuôi con chung khi ly hôn đối với anh Dương Thanh Đ

1. Về quan hệ hôn nhân:

Xử: Chị Bùi Thị T được ly hôn với anh Dương Thanh Đ.

(Giấy chứng nhận kết hôn số 13 do UBND xã Công Đa, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang cấp ngày 07/11/2003).

2. Về con chung: Giao 02 (hai) con chung là Dương Thành L sinh ngày 20/11/2008 và Dương Thành L, sinh ngày 23/10/2012 cho chị Bùi Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn. Anh Dương Thanh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung (do hiện tại chị T không yêu cầu) và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Bùi Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000002080899 ký bởi Công ty cổ phần thanh toán Quốc gia Việt Nam ngày 25/10/2024 tương ứng với Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002188 ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Chị Bùi Thị T đã nộp đủ án phí của vụ án.

Anh Dương Thanh Đ không phải nộp án phí.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Bùi Thị T và anh Dương Thanh Đ vắng mặt tại phiên toà, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ