- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Bùi Thị T về việc xin ly hôn và giao nuôi con chung khi ly hôn đối với anh Dương Thanh Đ
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 337/2024/HNGĐ-ST Ngày 30/12/2024 Về việc: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Thu Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đặng Thị Huệ
2. Bà Lộc Thị Kim Thơm
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thảo Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 270/2024/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn và nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/11/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 82b/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13/12/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1983
* Bị đơn: Anh Dương Thanh Đ, sinh năm 1973
Cùng địa chỉ: Thôn 19, xã T, huyện Y, tỉnh T.
(Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Đ vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị T và anh Dương Thanh Đ cùng xác định anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình cưới hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 07/11/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Công Đa, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
Chị Bùi Thị T trình bày: Thời gian đầu vợ chồng chung sống hoà thuận bình thường đến năm 2023 thì mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân của mâu thuẫn là do tính tình hai bên thực sự không hợp, bất đồng quan điểm sống và lối sống sinh hoạt dẫn đến việc chị và anh Đ đã sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Nay chị T xác định vợ chồng đã không còn yêu thương và tôn trọng nhau, không thể tiếp tục chung sống với nhau nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Dương Thanh Đ.
Anh Dương Thanh Đ cũng xác định: Đến đầu năm 2024 mâu thuẫn vợ chồng giữa anh và chị T trở nên trầm trọng, nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn là do tính tình hai bên không hợp nhau luôn bất đồng về quan điểm, lối sống; anh và chị T hiện đang sống ly thân, không còn tồn tại một gia đình. Tuy mâu thuẫn trầm trọng nhưng vì các con nên anh không nhất trí ly hôn với chị T, mong muốn được đoàn tụ gia đình, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.
Về con chung: Chị Bùi Thị T và anh Dương Thanh Đ xác định có 03 con chung là Dương Ngọc T, sinh ngày 31/12/2003; Dương Thành L, sinh ngày 20/11/2008 và Dương Thành L, sinh ngày 23/10/2012. Cháu Dương Ngọc T đã trưởng thành và kết hôn nên anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cả hai cháu L và cháu L, không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Ý kiến của anh Đ về con chung là đề nghị Tòa án tiến hành hỏi nguyện vọng của các cháu, nếu cháu Dương Thành L và cháu Dương Thành L có nguyện vọng ở với mẹ thì anh cũng đồng ý, còn nếu cháu L và cháu L có nguyện vọng ở với anh thì anh nhất trí là người trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị T và anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về vay nợ chung: Chị T và anh Đ xác định không có nên không đề nghị Toà án giải quyết.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hỏi nguyện của con trên 7 tuổi theo quy định của pháp luật. Hai cháu Dương Thành L và Dương Thành L đều có nguyện vọng ở với mẹ là chị Bùi Thị T nếu bố mẹ ly hôn.
Toà án nhân dân huyện Yên Sơn đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải giữa chị Bùi Thị T và anh Dương Thanh Đ nhưng không thành.
Chị T có đơn xin vắng mặt tại phiên toà, giữ nguyên ý kiến như đã nêu trong quá trình giải quyết vụ án, không bổ sung gì thêm. Anh Đ đi làm ăn xa, không có mặt tại nơi cư trú; Tòa án đã xác minh, làm việc tại địa phương và tiến hành thủ tục niêm yết tài liệu theo quy định của pháp luật.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn khi tham gia tố tụng dân sự đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn tham gia tố tụng giai đoạn hòa giải nhưng vắng mặt giai đoạn xét xử, Tòa án đã tiến hành niêm yết đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Bùi Thị T và anh Dương Thanh Đ có đăng ký kết hôn ngày 07/11/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Công Đa, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn nhưng không thể tự hoà giải được. Chị T đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Đ, anh Đ xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nhưng vì con nên không đồng ý ly hôn với chị T; tại phiên hòa giải chị T và anh Đ không thống nhất được về việc giao nuôi con chung, đề nghị Tòa án hỏi ý kiến con chung của anh chị và giải quyết theo thủ tục chung. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Bùi Thị T được ly hôn với anh Dương Thanh Đ; về con chung: Giao con Dương Thành L, sinh ngày 20/11/2008 và con Dương Thành L, sinh ngày 23/10/2012 cho chị Bùi Thị T trực tiếp trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chung, do chị T không yêu cầu nên anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về tài sản chung: Chị T và anh Đ xác định tự thoả thuận; về vay nợ chung: Chị T và anh Đ xác định không có nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết. Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị HĐXX tuyên chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Bùi Thị T và anh Dương Thanh Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn đúng quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Công Đa, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 07/11/2003. Như vậy quan hệ hôn nhân của chị T và anh Đ là hợp pháp. Chị Bùi Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung, do vậy Toà án nhân dân huyện Yên Sơn xác định quan hệ pháp luật là: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Các tài liệu, chứng cứ thể hiện bị đơn - anh Dương Thanh Đ hiện đang cư trú và sinh sống tại thôn 19, xã T, huyện Y, tỉnh T. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ (tống đạt trực tiếp, niêm yết theo đúng quy định của pháp luật) các văn bản tố tụng cho nguyên đơn và bị đơn. Tại phiên toà chị Bùi Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Dương Thanh Đ vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.
Về yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị T, HĐXX nhận định:
Đối với yêu cầu xin ly hôn với anh Dương Thanh Đ:
Quá trình chung sống anh chị T – Đ phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày nhưng không có cách giải quyết, không thể tự hoà giải và đã sống ly thân. Chị Bùi Thị T xác định vợ chồng không thể đoàn tụ chung sống với nhau được nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Dương Thanh Đ; anh Đ mong muốn vợ chồng đoàn tụ vì nghĩ cho các con nên không nhất trí ly hôn với chị T.
Quá trình Toà án giải quyết và hoà giải, chị T và anh Đ có bản tự khai và có mặt tại phiên họp công khai chứng cứ và phiên hòa giải nhưng đều giữ nguyên ý kiến của mình. Toà án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương, kết quả cho thấy: Chị Bùi Thị T và anh Dương Thanh Đ đã sống ly thân, không còn tồn tại một gia đình hạnh phúc và tiến bộ; hiện tại anh Đ đi làm ăn xa, không thường xuyên về nhà, chính quyền cơ sở không nắm được lịch đi lại và không biết anh Đ làm việc ở đâu. Như vậy, có đủ cơ sở cho thấy hôn nhân của chị Bùi Thị T và anh Dương Thanh Đ đã lâm vào tình trạng thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ và tiếp tục đời sống chung vợ chồng. Từ những phân tích trên, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận xử cho chị Bùi Thị T được ly hôn với anh Dương Thanh Đ.
Đối với yêu cầu được giao nuôi con chung khi ly hôn:
Chị Bùi Thị T và anh Dương Thanh Đ xác định anh chị có 03 con chung là Dương Ngọc T, sinh ngày 31/12/2003; Dương Thành L, sinh ngày 20/11/2008 và Dương Thành L, sinh ngày 23/10/2012. Hiện nay cháu Dương Ngọc T đã trưởng thành và kết hôn nên Tòa án không xem xét giải quyết. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cả hai con Dương Thành L và Dương Thành L, không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Đ không đưa ra đề nghị cụ thể mà đề nghị Tòa án tiến hành hỏi nguyện vọng, nếu các con Dương Thành L và Dương Thành L có nguyện vọng ở với chị T thì anh cũng đồng ý, còn nếu có nguyện vọng ở với anh thì anh cũng nhất trí trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung cùng với anh. Xét thấy ý kiến của cháu L và cháu L đều có nguyện vọng ở muốn được với mẹ là chị Bùi Thị T nếu bố mẹ ly hôn; xét thấy chị T có cuộc sống, công việc và thu nhập ổn định, có thể đảm bảo mọi điều kiện để nuôi con ăn học và phát triển. Như vậy giao các con chung của anh chị cho chị T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục sau khi ly hôn là phù hợp. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của chị Bùi Thị T về việc xin được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Dương Thành L và Dương Thành L là có căn cứ cần chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con chung, do chị T không yêu cầu nên anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Chị Bùi Thị T và anh Dương Thanh Đ xác định tự thoả thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về vay nợ chung: Chị Bùi Thị Tvà anh Dương Thanh Đ xác định vợ chồng không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Bùi Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; anh Dương Thanh Đ không phải nộp án phí.
Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị T và anh Dương Thanh Đ được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 264, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Bùi Thị T về việc xin ly hôn và giao nuôi con chung khi ly hôn đối với anh Dương Thanh Đ
1. Về quan hệ hôn nhân:
Xử: Chị Bùi Thị T được ly hôn với anh Dương Thanh Đ.
(Giấy chứng nhận kết hôn số 13 do UBND xã Công Đa, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang cấp ngày 07/11/2003).
2. Về con chung: Giao 02 (hai) con chung là Dương Thành L sinh ngày 20/11/2008 và Dương Thành L, sinh ngày 23/10/2012 cho chị Bùi Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn. Anh Dương Thanh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung (do hiện tại chị T không yêu cầu) và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Bùi Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000002080899 ký bởi Công ty cổ phần thanh toán Quốc gia Việt Nam ngày 25/10/2024 tương ứng với Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002188 ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Chị Bùi Thị T đã nộp đủ án phí của vụ án.
Anh Dương Thanh Đ không phải nộp án phí.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Bùi Thị T và anh Dương Thanh Đ vắng mặt tại phiên toà, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Yên Sơn (02 bản); - CC THA DS huyện Yên Sơn (để thi hành); - UBND xã Công Đa, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang (để biết); - Các đương sự (để thi hành); - Lưu HS vụ án; - Lưu TA. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG Phạm Tiến Hòa Lộc Thị Kim Thơm Báo cáo xét xử vụ án HNGĐ Quang Hội đồng xét xử sơ thẩm: Thẩm phán Đào Thị Thu Thuỷ Các Hội thẩm nhân dân: Lý Thúy Hà và Lý Thị Nhân - Thư ký: Phạm Kim Tuyến - Kiểm sát viên Nguyễn Thị Linh Các đương sự: - Nguyên đơn: Chị Trần Thanh Nga, sinh năm 1989 Địa chỉ: Thôn 1, xã Đạo Viện, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Có đơn xin xét xử vắng mặt. - Bị đơn: Anh Hoàng Văn Sơn, sinh năm 1988 Quang. NỘI DUNG VỤ ÁN: đăng ký kết hôn ngày 03/5/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Đạo Viện, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn anh chị sinh sống tại dân phố 6, phường Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang. Theo chị Nga thì vợ chồng chung sống bình thường đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn lớn do cách sống hai bên không hòa hợp, luôn xảy ra xung khắc nhất là về làm ăn kinh tế, anh Sơn thường xuyên rượu chè và không tôn trọng gia đình chị. Đỉnh điểm là năm 2018, anh Sơn lao vào cờ bạc không dứt ra được mặc dù hai bên gia đình khuyên can, hậu quả phải bán nhà đất để trả nợ. Do cuộc sống như vậy nên chị đã phải đưa con nhỏ về nhà bố mẹ đẻ chị sinh sống, vợ chồng ly thân từ năm 2018 đến nay không còn liên quan gì đến nhau. Nay chị Trần Thanh Nga xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống không có tương lai, không thể đoàn tụ chung sống được nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn Sơn. tên là Hoàng Ngọc Trâm, sinh ngày 30/11/2009, hiện đang do chị Nga nuôi dưỡng. Chị Nga đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng con chung sau ly hôn, không yêu cầu anh Sơn cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Toà án giải quyết. khai chứng cứ và hoà giải giữa chị Trần Thanh Nga và anh Hoàng Văn Sơn nhưng anh Sơn đều vắng mặt không có lý do. Văn Sơn và chị Trần Thanh Nga được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn, có tổ chức cưới theo phong tục địa phương. Anh chị chung sống tại tổ 6, phường Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang thời gian đầu hạnh phúc, sau khoảng 4-5 năm thì mâu thuẫn, trục trặc do bất đồng trong cuộc sống và làm ăn kinh tế, anh Sơn là lao động tự do công việc không ổn định. Sau đó chị Nga đi làm công nhân ở Thái Nguyên, vợ chồng xa cách nên tình cảm không còn. Khoảng năm 2015 chị Nga chuyển về ở nhà ngoại và đến năm 2020 thì chị chuyển khẩu về Đạo Viện, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Anh chị Sơn – Nga có 01 con chung hiện đang do chị Nga nuôi dưỡng. Anh chị không có tài sản chung gì có giá trị và không thấy vay nợ của ai. Hiện anh Sơn đang đi làm xa không biết địa chỉ chính xác, gia đình có thông báo qua điện thoại cho anh Sơn về giải quyết ly hôn theo các văn bản của Tòa án nhưng vì công việc anh không về được, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Trần Thanh Nga và anh Hoàng Văn Sơn tự nguyện kết hôn, sau đó sinh sống tại tổ 6 (tổ 9 cũ), phường Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang. Đến năm 2015, anh chị mâu thuẫn do anh Sơn có hiện tượng nợ nần do cờ bạc, ngoài ra còn hay uống rượu say dẫn đến vợ chồng thường xuyên xô xát cãi vã. Đầu năm 2018, vợ chồng mâu thuẫn gay gắt nên chị Nga đã đưa con nhỏ Hoàng Ngọc Trâm về sống với nhà bố mẹ đẻ tại thôn 1, xã Đạo Viện, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Từ đó không thấy anh Sơn qua lại thăm nom, nghe nói đi làm ăn xa nhưng không rõ đi đâu, làm gì. Đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu ly hôn của chị Nga theo quy định pháp luật. Trần Thanh Nga sau khi đăng ký kết hôn và tổ chức cưới thì về sinh sống tại tổ dân phố 6, phường Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Cách nay 6 -7 năm thì chị Nga không còn ở tổ 6, phường Hưng Thành nữa còn anh Sơn đi làm xa, nhà thường xuyên khóa cửa. Anh chị Sơn – Nga hiện sống ly thân, chị Nga đã đưa con nhỏ của anh chị về ở tại nhà ngoại. Chính quyền tổ 6 có lần có nhận được phong bì của Tòa án gửi cho anh Sơn nhưng cũng không gặp và chuyển được cho anh Sơn. Anh chị Sơn – Nga không vay nợ các tổ chức của tổ dân phố, về vay nợ khác thì địa phương không nắm được. thông báo của Toà án vì vậy không tiến hành được phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải giữa chị Trần Thanh Nga và anh Hoàng Văn Sơn. tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Xử: Cho chị Trần Thanh Nga được ly hôn anh Hoàng Văn Sơn. 2. Về con chung: Thanh Nga trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục sau khi ly hôn. Anh Hoàng Văn Sơn không phải cấp dưỡng nuôi con chung (do hiện tại chị Nga không yêu cầu). Anh Hoàng Văn Sơn có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. 3. Về án phí: nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0000196 ngày 14/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang. Chị Trần Thanh Nga đã nộp đủ án phí của vụ án. Anh Hoàng Văn Sơn không phải nộp án phí. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Thu Thuỷ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Thu Thủy Hồi 14h ngày 10 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Địa chỉ: Tổ dân phố 6, phường Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Chị Trần Thanh Nga và anh Hoàng Văn Sơn kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có Về con chung: Chị Trần Thanh Nga và anh Hoàng Văn Sơn có 01 con chung Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Trần Thanh Nga xác định chị và anh Hoàng Văn Sơn hiện không có tài sản chung và không vay nợ chung nên không đề nghị Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang đã nhiều lần báo gọi làm việc, tiến hành các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công * Kết quả xác minh với gia đình của anh Hoàng Văn Sơn thể hiện: Anh Hoàng * Kết quả xác minh với gia đình của chị Trần Thanh Nga thể hiện: Năm 2009, chị * Kết quả xác minh với chính quyền cơ sở thể hiện: Anh Hoàng Văn Sơn và chị Do anh Hoàng Văn Sơn không có mặt tại các buổi làm việc theo các giấy báo và Đề xuất hướng xét xử vụ án Áp dụng các Điều 28, 35, 147, 166, khoản 2 Điều 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Xử: Giao con chung là Hoàng Ngọc Trâm, sinh ngày 30/11/2009 cho chị Trần Chị Trần Thanh Nga phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm Thẩm phán báo cáo Đào Thị Thu Thuỷ |