vanban.org

Bản án 337/2023/DS-PT — Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 24/07/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/07/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

hông chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguy n Thị H Nguy n Thị T1.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đình ch giải quyết yêu cầu độc lập của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguy n Văn D6út, về việc yêu cầu anh Nguy n Hoàng V2ực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện t ch 67,5m2, thửa số 131, t bản đồ số 29, đất t a l c t i xã T, huyện H, t nh Đồng Th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp về thừa kế tài sản và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? hông chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguy n Thị H Nguy n Thị T1.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật tố tụng d n sự; Điều 100 Luật Đất đai; Điều 144 Bộ luật tố tụng d n sự
T A ÁN NH N D N
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 337/2023/DS-PT
Ngày: 24-7-2023
V/v tranh chấp về thừa kế tài
sản và hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH N D N TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Nguy n Ng c V ng.

Các Thẩm phán:

ng Sỹ Danh Đ t;

Bà Nguy n Thị Võ Trinh.

- Thư ký phiên tòa: ng Nguy n Bảo uốc - Thư k T a án nh n d n t nh Đồng Tháp.

- Đ i di n i n i m t nh n d n t nh Đồng Th p: ng han Trung uốc - iểm sát viên tham gia phiên t a.

Trong các ngày 17/7 và 24/7/2023, t i trụ s T a án nh n d n t nh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ l số 120/2023/TL T-DS ngày 30 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp về thừa kế tài sản và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do bản án d n sự sơ thẩm số 02/2023/DS-ST ngày 02 tháng 02 năm 2023 của T a án nh n d n huyện Hồng Ngự bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 284/2023/ Đ-PT ngày 01 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguy n Thị H, sinh năm 1946; địa ch : Ấp C, xã V, thị xã T, t nh An Giang.

Đ i diện theo ủy quyền của bà H: Chị Huỳnh Thị Ng c G, sinh năm 1975; Địa ch : Ấp C, xã V, thị xã T, t nh An Giang.

Nơi hiện nay: khóm M, thị trấn M, huyện C, t nh Đồng Tháp

Ngư i bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của bà H: Ông Lê Phi T, Luật sư k hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp l của Trung t m Trợ giúp pháp l nhà nước t nh Đ. Địa ch : D L, phư ng A, thành phố H, t nh Đồng Tháp.

2. Bị đơn:

2.1. Bà Nguy n Thị H1 (tên g i khác: Nguy n Thị Tuyết H2), sinh năm 1966.

2.2. Ông Nguy n Văn D, sinh năm 1974.

2.3. Bà Lê Thị X, sinh năm 1948.

Cùng địa ch : Ấp A, xã T, huyện H, t nh Đồng Tháp.

3. Ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Nguy n Thị T1, sinh năm 1937;

Địa ch : Ấp A, xã T, huyện H, t nh Đồng Tháp.

Đ i diện theo ủy quyền của bà T1: Chị Huỳnh Thị Ng c G, sinh năm 1975; Địa ch : Ấp C, xã V, thị xã T, t nh An Giang.

Nơi hiện nay: khóm M, thị trấn M, huyện C, t nh Đồng Tháp

Ngư i bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của bà T1: Ông Lê Phi T, Luật sư k hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp l của Trung t m Trợ giúp pháp l nhà nước t nh Đ. Địa ch : D L, phư ng A, thành phố H, t nh Đồng Tháp.

3.2. Ông Nguy n Văn T2, sinh năm 1940;

3.3. Bà Đặng Thị N (tên g i khác: Nguy n Thị N1), sinh năm 1973;

3.4. Ông Đặng Văn S (tên g i khác: Nguy n Văn S1), sinh năm 1959;

3.5. Ông Đặng Văn M (tên g i khác: Nguy n Văn M1), sinh năm 1969;

3.6. Bà Đặng Thị C (tên g i khác: Nguy n Thị C1), sinh năm 1971;

3.7. Bà Đặng Thị B ch L (tên g i khác: Nguy n Thị B ch L1), sinh năm 1961;

3.8. Ông Đặng Văn M2, sinh năm 1964 (tên g i khác: Nguy n Văn M3);

3.9. Bà Đặng Thị (tên g i khác: Nguy n Thị 1), sinh năm 1968;

3.10. Bà Đặng Thị T3 (tên g i khác: Nguy n Thị T4), sinh năm 1967;

3.11. Anh Nguy n Minh H3 (tên khác: Nguy n Văn H4), sinh năm 1972;

3.12. Ông h m Văn S2, sinh năm 1964;

3.13. Bà h m Thị N2, sinh năm 1957;

3.14. Anh Nguy n Văn T5, sinh năm 1976;

3.15. Bà Nguy n Thị T6, sinh năm 1967;

3.16. Ông Nguy n Văn T7, sinh năm 1965;

3.17. Chị Nguy n Thị im V, sinh năm 1991;

3.18. Chị Nguy n Thị im N3, sinh năm 1993;

3.19. Anh Nguy n Văn T8, sinh năm 1996;

3.20. Cháu Nguy n Thị Bé T9, sinh ngày 27/2/2008;

Ngư i đ i diện theo pháp luật của cháu T9 là mẹ ruột bà Nguy n Thị T6, sinh năm 1967.

3.21. Bà Võ Thị 2, sinh năm 1972;

3.22. Ông Trần Văn Ư, sinh năm 1969;

3.23. Bà Văn Thị D1, sinh năm 1928;

3.24. Cháu Trần Thị Tố N4, sinh ngày 16/5/2004.

Ngư i đ i diện theo pháp luật cho cháu Trần Thị Tố N4 là cha mẹ ruột Võ Thị 2 và Trần Văn Ư.

3.25. Ông han Văn B;

Cùng địa ch : Ấp A, xã T, huyện H, t nh Đồng Tháp.

3.26. Bà h m Thị N5, sinh 1939 (đã chết).

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Phạm Thị N5 cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm:

3.26.1. Ông Nguy n Văn N6, sinh năm 1959;

3.26.2. Bà Nguy n Thị M4;

3.26.3. Ông Nguy n Văn Ú, sinh năm 1980;

3.26.4. Ông Nguy n Văn 3;

3.26.5. Bà Nguy n Thị 4, sinh năm 1959;

3.26.6. Ông Nguy n Văn T10;

3.26.7. Bà Nguy n Thị Mỹ H5;

Cùng địa ch : Ấp A, xã T, huyện H, t nh Đồng Tháp.

3.26.8. Bà Nguy n Thị M5 (tên khác: Hai); địa ch : Ấp C, xã T, huyện H, t nh Đồng Tháp;

3.26.9. Ông Nguy n Văn ; địa ch : Ấp T, xã T, huyện V, t nh Long An.

3.27. Bà Dương im A, sinh năm 1930 (đã chết);

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Dương Kim A cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm:

3.27.1. Ông Nguy n Hùng D2, sinh năm 1966;

3.27.2. Bà Nguy n im N7, sinh năm 1958;

3.27.3. Chị Nguy n Thúy N8, sinh năm 1974;

3.27.4. Ông Nguy n Thanh S3, sinh năm 1976;

Cùng địa ch : hóm Đ, phư ng M, thành phố L, t nh An Giang.

3.27.5. Bà Nguy n Thu N9, sinh năm 1963;

Địa ch : Số A, hóm H, phư ng M, thành phố L, t nh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền cho bà Nguyễn Kim N7, chị Nguyễn Thúy N8, ông Nguyễn Thanh S3, ông Nguyễn Hùng D2: Bà Nguy n Thu N9, sinh năm 1963. Địa ch : Số A, hóm H, phư ng M, thành phố L, t nh An Giang.

3.27.6. Ông Nguy n Ng c V1 (tên khác: D3), sinh năm 1957 (Chết);

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông V1:

3.27.6.1. Bà Nguy n Thị Tuyết M6, sinh năm 1958;

3.27.6.2. Chị Nguy n Thị Cẩm T11, sinh năm 1985;

3.27.6.3. Chị Nguy n Thị Cẩm D4, sinh năm 1992;

Cùng địa ch : Số F, tổ D, khóm Đ, phư ng M, thành phố L, t nh An Giang.

3.28. Ủy ban nh n d n huyện H;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguy n Văn , chức vụ: Chủ tịch.

Địa ch : hóm T, thị trấn T, huyện H, t nh Đồng Tháp.

3.29. Chị Nguy n Thị D5, sinh năm 1976;

3.30. Chị Nguy n Thị T12, sinh năm 1983;

3.31. Chị Nguy n Thị N10, sinh năm 1989;

3.32. Chị Nguy n Thị H6, sinh năm 1986;

3.33. Bà Dương Thị H7, sinh năm 1949;

Cùng địa ch : Ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Ch Minh.

3.34. Bà Ch u Thị Đ, sinh năm 1958;

3.35. Ông Trần Văn H8, sinh năm 1954;

3.36. Anh Nguy n Hoàng V2, sinh năm 1988;

3.37. Chị Nguy n Thị Hồng L2, sinh năm 1984;

3.38. Chị Nguy n Thị T13, sinh năm 1996;

3.39. Cháu h m Nguy n Thiện B1, sinh năm 2013;

3.40. Cháu h m Nguy n Bảo V3, sinh năm 2015;

Ngư i đ i diện theo pháp luật cho cháu h m Nguy n Thiện B1, cháu h m Nguy n Bảo V3 là mẹ ruột chị Nguy n Thị Hồng L2, sinh năm 1984.

3.41. Cháu Nguy n Hoàng T14, sinh năm 2017;

Ngư i đ i diện theo pháp luật cho cháu T14 là cha ruột anh Nguy n Hoàng V2, sinh năm 1988.

Cùng địa ch : Ấp B, xã T, huyện H, t nh Đồng Tháp.

3.42. Ông Nguy n Hoàng T15, sinh năm 1977;

3.43. Anh Nguy n Hoàng S4, sinh năm 1998;

3.44. Cháu Nguy n Huỳnh Trúc L3, sinh ngày 10/4/2003;

3.45. Cháu Nguy n Đăng 1, sinh ngày 20/8/2007;

3.46. Chị Huỳnh Thị im T16, sinh năm 1975;

Ngư i đ i diện theo pháp luật cho cháu Nguy n Huỳnh Trúc L3, cháu Nguy n Đăng 1 là mẹ ruột bà Huỳnh Thị im T16, sinh năm 1975.

Cùng địa ch : hóm C, phư ng A, thành phố H, t nh Đồng Tháp.

3.47. Bà Nguy n Thị H9, sinh năm 1972;

3.48. Chị Nguy n Thị Lan H10, sinh năm 1994;

Cùng địa ch : Ấp A, xã T, huyện H, t nh Đồng Tháp.

3.49. Ông Lương Văn 1, sinh năm 1967; địa ch : Ấp B, xã T, huyện H, t nh Đồng Tháp.

3.50. Ông Hồ Ch L4, sinh năm 1976;

3.51. Bà Bùi Thị L5, sinh năm 1976;

3.52. Cháu Hồ Văn G1, sinh năm 2004;

3.53. Cháu Hồ Văn T17, sinh năm 2006;

3.54. Cháu Hồ Văn L6, sinh ngày 01/01/2009;

3.55. Cháu Hồ Thị B ch T18, sinh ngày 23/6/2013;

Ngư i đ i diện theo pháp luật cho cháu Hồ Văn G1, Hồ Văn T17, Hồ Văn L6, Hồ Thị B ch T18 là ông Hồ Ch L4 (cha ruột).

Cùng địa ch : Ấp C, xã T, huyện H, t nh Đồng Tháp.

3.56. Ông Nguy n Văn D6, sinh năm 1960; địa ch : Ấp A, xã T, huyện H, t nh Đồng Tháp.

3. Ngư i kháng cáo:

Bà Nguy n Thị H là nguyên đơn.

Bà Nguy n Thị T1 là ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

(Chị Huỳnh Thị Ngọc G, Luật sư Lê Phi T có mặt; các đương sự còn lại vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 29/5/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H do chị Huỳnh Thị Ngọc G đại diện, trình bày: Cha bà H là ông Nguy n Thiện C2 (chết năm 1990), mẹ là bà Lê Thị T19 (chết năm 1976). ng C2, bà T19 có 07 ngư i con:

1. Ông Nguy n Văn H11 (chết năm 2015), vợ ông H11 là bà Dương Thị H7. Các con ông H11 gồm: Anh Nguy n Minh H3, anh Nguy n Văn D, chị Nguy n Thị D5, chị Nguy n Thị T12, chị Nguy n Thị N10, chị Nguy n Thị H6Hiền; 2. ng Nguy n Văn 2 (chết năm 2001), vợ ông Q2 là bà h m Thị N5 (đã chết tháng 08/2018) và con ông Q2 gồm: ng Nguy n Văn N6, bà Nguy n Thị M4, ông Nguy n Văn Ú, ông Nguy n Văn 3, bà Nguy n Thị H12, bà Nguy n Thị 4, ông Nguy n Văn 3, ông Nguy n Văn T10, bà Nguy n Thị H2 (Tt Hồng); 3. ng Nguy n Văn H13 (tên thư ng g i: Cống, chết năm 1998) có vợ là Dương Thị im A1, các con ông C3 gồm: Bà Nguy n Kim N7, bà Nguy n Thúy N8, ông Nguy n Thanh S3, bà Nguy n Thu N9, ông Nguy n Ng c V1, ông Nguy n Hùng D2 Dũng; 4. ng Nguy n Văn S5 (chết năm 1978), không biết vợ ông S5 chết khi nào, h tên gì và các con ông S5: Bà Đặng Thị N, ông Đặng Văn S, ông Đặng Văn M7, bà Đặng Thị C, bà Đặng Thị B ch L, ông Đăng Văn M8, bà Đặng Thị , bà Đặng Thị T3; 5. Bà Nguy n Thị T1; 6. Ông Nguy n Văn T2; 7. Bà Nguy n Thị H.

Cha mẹ bà H chết không để l i di chúc, di sản để l i là 3.000m2 đất nhưng diện t ch c n là 2.579m2, không biết số thửa, t bản đồ, vị tr tứ cận giáp đất ai ch nhớ là đất lúa t a l c t i ấp A, xã T, huyện H, hiện nay là 06 nền nhà gồm nền số 11, 12 và 13, lô 4, nền số 15, 16, 17, lô 12 t i cụm D (10,06ha). Lúc cha mẹ bà H c n sống thì cha bà H đã sắp xếp cho các con lu n phiên canh tác đất, mỗi ngư i 03 năm, vì đất khó canh tác. Bà Nguy n Thị T1 sống cùng hộ khẩu với cha mẹ được quản l canh tác đất từ năm 1980 đến năm 1997, sau đó giao l i cho con là ông h m Văn S2 canh tác đến th i điểm Nhà nước thu hồi đất quy ho ch cụm d n cư (10,06ha) vẫn c n trực canh và được nhận tiền đền bù di d i nhà và c y trồng trên đất.

Ông Q2, ông T2, ông H11 tự chia mỗi ngư i 1.000m2 , trước năm 1976 thì ông T2 vào d n dẹp đất, chặt cỏ và sử dụng đất, không biết ông T2 sử dụng bao l u thì bà T1, ông H11, ông Q2 sử dụng đất rồi cho ông S2 thuê đất trước khi đất trúng quy ho ch. Bà H, bà T1 không hay biết việc ông H11, ông T2, ông Q2 tự chia đất. Năm 2001 ông Q2 làm giấy tay chuyển nhượng cho con ruột là bà H2 diện t ch đất thực tế 972m2 nên bà H2 được nhận tiền đền bù là 22.083.354 đồng, được cấp nền nhà tái định cư là nền số 15 lô 12, được bán thêm nền số 16 lô 12. C n ông H11 chuyển nhượng cho bà Tuyết H2 diện t ch 612m2 đất sau đó anh D mua l i nên anh D nhận tiền bồi thư ng là 13.904.334 đồng và được cấp nền tái định cư số 17 lô 12, phần c n l i 421m2 d nh vào lộ ĐT 841. ng T2 ly hôn với bà Lê Thị X nên làm t giao đất cho vợ. Năm 1995 bà X được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện t ch 1.016m2. Khi Nhà nước thông báo quy ho ch cụm d n cư T22 (10,06ha) bà H mới biết việc bà X được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà X kê khai nhận tiền đền bù 35.000.000đ và nhận 03 nền số 11, 12 và 13, lô 4 và không có ai khiếu n i hay tranh chấp với bà X. Lúc đó bà H đứng ra kê khai và t i thông báo số 107/TB-UB ngày 24/6/2005 của Ủy ban nh n d n huyện H ghi tên Lê Thị H14 (Nguy n Thị H) được nhận tiền đền bù là 35.987.780đ và nhận 03 nền nhà là nền số 15, 16, 17, lô 12 t i cụm d n cư (10,06ha). Sau đó, bà H2 và anh D khiếu n i và tranh chấp nên bà H không được nhận tiền và nền nhà. Bà H khiếu n i và kết quả giải quyết tranh chấp như sau: T i uyết định số 1933/ Đ-UBND ngày 03/04/2010, Ủy ban nh n d n huyện H bác đơn khiếu n i yêu cầu được nhận tiền và nền tái định cư của bà H và giao cho bà Tuyết H2 đứng tên trong phương án bồi thư ng với diện t ch đất là 972m2 và anh D là 612m2. Sau đó, bà H tiếp tục khiếu n i thì Ủy ban nh n d n t nh Đ ban hành uyết định số 280/ Đ-UBND ngày 23/09/2011 chuẩn y quyết định số 1933/ Đ-UBND ngày 03/04/2010 của Ủy ban nh n d n huyện H và bà H không đồng với quyết định số 280 nên khiếu n i tiếp tục thì t i Chủ tịch Ủy ban nh n d n t nh Đ đã ban hành quyết định số 207/ Đ-UBND ngày 11/09/2014 đã hủy quyết định số 1933 và quyết định số 280.

Diện t ch đất 3.000m2 hiện là 06 nền nhà số A, 12 và 13, lô 4 và nền số 15, 16, 17, lô 12 t i cụm D (10,06ha) là di sản của ông C2, bà T19 để l i chưa chia cho 07 ngư i con. Nhưng ông Q2, ông H11, ông T2 đã tự chia, không có chứng từ chứng minh cha mẹ cho con, chưa có giấy t về ủy quyền sử dụng đất ngày nào. Nhưng ông Q2, ông H11 chuyển nhượng l i cho con là bà H2 là không hợp pháp và bà H2, anh D cũng chưa sử dụng đất nên không thuộc đối tượng được nhận tiền sử dụng đất và nền tái định cư. Riêng ông T2 cũng không có giấy t chủ quyền đất hợp pháp l i giao cho vợ là bà X, Ủy ban nh n d n huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà X chưa căn cứ rõ nguồn gốc đất, các đồng thừa kế của ông C2, bà T19 chưa có kiến phần chia tài sản của ông C2, bà T19 là trái với quy định pháp luật đất đai, cấp đất sai đối tượng. Bà Tuyết H2, anh D và bà X đã bán nền nhà cho ai bà H cũng không biết nhưng hiện t i, nền nhà số A bà X cất nhà c n nền số 12 là con bà X tên T6 cất nhà , nền số 13 thì ông Ư cất nhà. C n nền số 15, số A, số A là nền trống nhưng bà H2, anh D đã bán cho ngư i khác, bà H không biết ai s hữu.

Trước đ y bà H yêu cầu bà Lê Thị X, bà Nguy n Thị H2, anh Nguy n Văn D chia đều di sản của ông Nguy n Thiện C2 và bà Lê Thị T19 để l i có tổng giá trị là: 1.870.872.080đ cho 07 anh chị em của bà H và chia đều số tiền bà X, anh D, bà H2 đã nhận. T i phiên t a bà H thay đổi yêu cầu kh i kiện, bà H yêu cầu thu hồi 06 nền nhà giao cho bà H, bà H sẽ chia giá trị l i cho 06 anh em c n l i theo giá trị thực tế.

+ Yêu cầu bà X chia đều số tiền bồi thư ng đã nhận 35.000.000đ cho 07 anh em bà H mỗi ngư i được nhận 5.000.000đ.

+ Yêu cầu bà Nguy n Thị H2 chia đều số tiền bồi thư ng đã nhận 22.083.354đ, cho 07 anh em bà H mỗi ngư i được nhận 3.154.000đ.

+ Yêu cầu ông Nguy n Văn D chia đều số tiền bồi thư ng đã nhận là 13.904.334đ, cho 7 anh em bà H mỗi ngư i được nhận 1.986.000đ.

- Bị đơn anh Nguyễn Văn D, trình bày: Anh là con của ông Nguy n Văn H11. Anh nghe mẹ ruột nói là năm 1975 ông nội anh là ông Nguy n Thiện C2 cho 03 ngư i con trai là ông H11, ông Q2, ông T2, mỗi ngư i được phần đất có diện t ch là 1.000m2 là đất ruộng t a l c t i khu vực chợ T23 xã T, đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện là phần đất đang tranh chấp. hoảng năm 1999, cha anh có kêu cô ruột là bà T1 mua l i phần đất đang tranh chấp nhưng bà T1 không mua nên cha anh bán cho bà H2 800m2 đất, c n 200m2 thì Nhà nước làm đư ng lộ, không nhớ đư ng làm khi nào, phần đất làm đư ng là phần ăn của cha anh, cha anh bán đất với giá 08 ch vàng 24kra nhưng bà H2 ch trả cho cha anh 05 ch , c n nợ 03 ch , việc mua bán đất giữa cha anh và bà H2 ch làm giấy tay, có sự chứng kiến của ông h m Văn G2. Lúc đó anh đã đi Thành phố Hồ Ch Minh làm nên không hay chuyện cha anh bán đất, khoảng 04 tháng sau anh về nhà nên anh đã chuộc đất l i từ bà H2 cũng với giá 08 ch vàng 24kra, anh trả cho bà H2 05 ch , trả cho cha anh 03 ch vàng 24kra, việc đưa vàng cho bà H2, ông H11 không có làm giấy t , khi anh chuộc đất của bà H2 không làm giấy t , anh ch lấy l i giấy tay bán đất giữa cha anh với bà H2 và cũng có sự kiến của ông G2. Việc cha anh bán đất cho bà Tuyết H2 thì bà H biết, c n việc anh chuộc l i đất của bà Tuyết H2 thì bà H không biết. hông nhớ ngày tháng năm anh đã bán phần đất đã mua l i cho chị Huỳnh Thị im T16, với giá 15 ch vàng 24kra, việc sang nhượng đất không làm giấy t . Sau đó, phần đất này trúng quy ho ch cụm d n cư Thư ng P5 và anh được cấp nền tái định cứ là nền nhà số A thuộc lô A và 13.904.334đ. Tiền bồi thư ng và nền nhà thì anh đã giao l i cho chị T16. Tất cả thủ tục, giấy t Nhà nước bồi thư ng anh không c n giữ. hông nhớ ngày tháng năm lúc xã h a giải thì ông R là cán bộ xã động viên anh, bà H2 mỗi ngư i hùn 4.000.000đ, bà X hùn 3.000.000đ đưa cho bà H tổng cộng 11.000.000đ thì bà H không khiếu n i nữa. Ông R là ngư i nhận tiền bồi thư ng rồi ph n chia cho 03 ngư i, c n l i 11.000.000đ ông R giao l i cho con bà T1 là bà N9, sau đó bà H không chịu nhận nên ông R lấy l i và giao cho Ban quản l dự án huyện H. Anh không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà H, bà T1, ông T2, các con của ông C3, ông S5 về việc yêu cầu anh chia tiền và nền nhà. Anh không tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh với chị Kim T16 và bà H2.

- Bị đơn bà Lê Thị X, trình bày: Bà là vợ của ông Nguy n Văn T2. Bà và ông T2 kết hôn năm 1965 và đã ly hôn, không nhớ ngày tháng năm ly hôn với ông T2, không biết có quyết định của T a án không. hi cha mẹ chồng bà là ông Nguy n Thiện C2 và bà Lê Thị T19 c n sống thì với ghe, bán đồ t p hóa, các con không chung ch tới lui chăm sóc. hi bệnh và chết thì do bà T1 lo, c n đám giỗ thì m nh ai ngư i đó cúng. Trước khi ông T2 cưới bà thì mẹ chồng là bà T19 đã cho ông T2 1.000m2 đất, sau khi ly hôn ông T2 để đất l i cho bà để bà nuôi các con và bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc ông T2 sử dụng đất và giao đất l i cho bà sau khi ly hôn, khi bà làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cũng như khi Nhà nước thu hồi đất và nhận tiền bồi thư ng, bà không biết bà H có biết hay không, bà H không khiếu n i gì bà. Đến khoảng 02 năm sau khi Nhà nước bồi thư ng thì giá đất lên giá thì bà H mới khiếu n i. Bà không nhớ Nhà nước bồi thư ng cho bà bao nhiêu tiền, ch nhớ khoảng hơn mư i ch n triệu đồng, khi nhận tiền bồi thư ng bà chia số tiền đó cho ông T2 và 05 ngư i con mỗi ngư i được 3.000.000đ. Nhà nước cấp cho bà 0 nền nhà hiện bà đang và bán thêm cho bà 02 nền, không nhớ số nền. Trong đó, 01 nền thì bà bán cho con ruột là Nguy n Thị T6, với giá 200.000.000đ, 01 nền bán cho ông Ư, không nhớ giá bán bao nhiêu. hi cha mẹ chồng c n sống thì bà H, bà T1, ông X, ông C3 khá giả nên không được cho đất c n ông T2, ông Q2, ông H11 nghèo khó nên cha mẹ chồng cho đất mỗi ngư i được 1.000m2, việc cho đất không làm giấy t , cũng không ai chứng kiến. Bà H có chồng về V l u l u mới về một lần. Bà H chưa từng làm phần đất tranh chấp. Bà có nghe nói ông H11 bán đất cho bà Tuyết H2 nhưng sau đó anh D con ông H11 chuộc đất l i. hi bà H thưa kiện xã, nghe ông R nói bà H yêu cầu mỗi ngư i chia 5.000.000đ, ông R động viên mỗi ngư i hùn 4.000.000đ chia cho bà H và bà đã đưa 4.000.000đ cho ông R, sau đó sự việc như thế nào bà không biết. Lúc trước bà H thưa kiện ra T a án bà cũng không hay biết. Bà không thống nhất toàn bộ yêu cầu của bà H. Vì đất của cha mẹ chồng cho ông T2, khi bà và ông T2 ly hôn thì ông T2 để l i cho bà nuôi các con.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị T1, trình bày: Cha bà là ông Nguy n Thiện C2, mẹ là bà Lê Thị T19, không nhớ cha mẹ chết năm nào, cha mẹ bà chết không để l i di chúc. Khi ông C2, bà T19 c n sống đến khi chết thì với bà, chi ph mai táng, đám giỗ ông C2, bà T19 cũng do bà lo. Cha mẹ chết không có thiếu nợ ai. hi cha mẹ c n sống không có để l i tài sản nhưng có để l i 03 công đất trồng lúa (3.000m2), đất t a l c t i ấp1, xã T, huyện H cho bà. hông nhớ cha mẹ cho đất khi nào, lúc cho đất cha mẹ bà có nói, bà làm đất để nuôi cha mẹ. Việc cha mẹ cho đất thì có anh em trong gia đình biết, không có làm giấy t , đất không có giấy đỏ. Bà canh tác đất được 05 năm, sau đó ai làm bà không nhớ. Ch nhớ anh em ngư i nào đói thì đưa ngư i đó làm, ngư i nào no thì không được làm. 03 công đất của cha mẹ để l i thì bà và con ruột là ông S2 làm. Ngoài ra, không có ai làm. Những ngư i làm đất giáp ranh gồm có ph a trên giáp đất bà Năm T20, ph a dưới giáp đất bà Sáu Ó, ph a ngoài giáp đất bà Bảy L7, ph a trong giáp đất ai không nhớ. ng T2 không có làm 03 công đất của cha mẹ để l i, bà X là vợ ông T2 chê đất sỏi nên cũng không có làm, không biết việc bà X được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Q2, ông H11 bán đất cho bà Tuyết H2 và anh D chuộc đất cũng không biết. hông biết việc Nhà nước thu hồi đất, kê khai đền bù như thế nào nhưng lúc đó bà không tranh chấp hay khiếu n i gì. hông nhớ cùng bà H từng kh i kiện t i T a án, không nhớ việc khiếu n i bồi thư ng đất. Bà H có chồng nên l u l u mới về nhà thăm cha mẹ, khoảng 01 năm thì về được 2-3 lần. Việc bà X, anh D, bà Tuyết H2 nhận tiền bồi thư ng bà không biết. hông biết việc bà H yêu cầu bà X, anh D, bà Tuyết H2 mỗi ngư i đưa 5.000.000đ thì không khiếu n i hay kh i kiện gì. Bà làm 03 công đất của cha mẹ cho đến khi ông S2 làm, khi Nhà nước đền bù thì không có ai cho bà tiền và bà cũng không có nhận tiền gì của Nhà nước. Hiện 03 công đất vẫn c n là chỗ nền nhà, nơi đoàn xem xét thẩm định. Nay bà yêu cầu anh D, bà H2, bà X chia nền nhà và tiền của ông C2, bà T19 để l i và thống nhất theo yêu cầu của bà H.

+ Ông Nguyễn Văn T2, trình bày: ng thống nhất l i trình bày của bà H về quan hệ huyết thống gia đình. Cha mẹ ông chết có để l i 3.000m2 t a l c t i ấp A, xã T, huyện H, làm xoay v ng. Trước giải phóng năm 1975 thì ông được trực tiếp canh tác 3.000m2 đất vì ông chung với cha mẹ. Sau năm 1975 thì cha mẹ ông cho bà T1 canh tác từ năm 1991, 1992, 1993 đến năm 1994, 1995, 1996 thì ông H11 làm nhưng ông H11 không làm mà cho ông S2 mướn trồng bắp, x lúa và cất nhà, sau đó đất bỏ trống, không thấy ai làm khoảng 5-6 năm, còn phần của ông Q2 thì cho ông G2 mướn không nhớ năm nào. ng không có cho bà X 1.000m2, bà X tự làm, việc Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà X ông cũng không biết nhưng bà X bán đất thì không có quyền bán, thì vì đất của cha mẹ cho, khi bà X nhận tiền và được cấp nền nhà cũng như khi bà X làm đất thì ông không có tranh chấp hay khiếu n i gì. Ngoài 3.000m2 đất thì cha mẹ ông không có tài sản nào khác. Việc bồi thư ng thì Nhà nước có niêm yết công khai danh sách bồi thư ng và ông cũng không có khiếu n i. Từ nhỏ cho đến nay ông T. Năm 2009 bà H có kh i kiện là tranh chấp quyền sử dụng đất này thì ông có ủy quyền cho bà H tranh chấp với anh D, bà Tuyết H2 về việc đo nền nhà. Th i gian cha mẹ c n sống thì ai cũng có nuôi cha mẹ, khi cha mẹ ông chết thì chi ph mai táng, đám giỗ đều do bà T1 lo. Bà H có chồng về V nhưng cũng thư ng xuyên qua l i với gia đình. Bà H cũng biết ngư i canh tác diện t ch đất cha mẹ để l i nhưng không có kiến. Bà H không có canh tác đất. Vì khi đó bà H khá giả. ng yêu cầu bà X, anh D, bà H2 chia tiền và nền nhà cho 07 anh chị em như yêu cầu của bà H.

+ Ông Phạm Văn S2, trình bày: ng là con ruột bà Nguy n Thị T1. Nguồn gốc đất bà H yêu cầu chia di sản thừa kế là của ông ngo i Nguy n Thiện C2 và bà ngo i Lê Thị T19 để l i, diện t ch đất 3.000m2, t a l c t i ấp A, xã T, huyện H. Ông C2, bà T19 chưa chia cho các con mà ch để ai nghèo ngư i đó làm mỗi ngư i làm 03 năm. Bà T1 làm đất trước, không nhớ ngày tháng năm. Bà T1 làm hết 03 công đất, làm được 02 năm thì như ng l i cho ngư i khác làm nhưng không nhớ ai làm. ng Q2, ông H11, ông T2, bà X, ông C3, bà H chưa từng làm đất. Năm 2010 ông cất nhà trên phần đất tranh chấp, không nhớ diện t ch ông cất nhà bao nhiêu, lúc cất nhà ông có hỏi ông H11, ông H11 nói cất bên nào có bên để con cái ông H11 c n cất nhà. ng cất nhà và mướn luôn phần đất c n l i để canh tác, ông không nhớ trả tiền mướn đất cho ai, trả bao nhiêu tiền. hông nhớ đất vô quy ho ch năm nào, bồi thư ng bao nhiêu, ch nhớ Nhà nước có cấp cho ông 01 nền nhà. ng chưa từng nghe việc ông H11 bán đất cho bà Tuyết H2 và việc ông Dương c l i đất từ bà H2. Bà H có chồng bên Vĩnh Xương đám giỗ ông bà cũng thư ng xuyên về Thư ng hước 1. Lúc ông C2, bà T19 bệnh, đám giỗ hàng năm của ông C2, bà T19 là do các con bà T1 lo. Nền nhà và tiền Nhà nước bồi thư ng cho ông là của ông, ông không nhớ nền số mấy, c n các nền nhà c n l i mà bà H, các con ông C3, bà T1, ông T2 yêu cầu anh D, bà X, bà H2 chia thừa kế thì ông không có kiến hay tranh chấp.

+ Bà Nguyễn Thị Thu N11 trình bày: Cha bà ngoài tên Nguy n Văn C4, trong giấy chứng minh nh n d n là Nguy n Văn H13. ng nội bà tên C2, bà nội tên T19. hông biết ông bà nội có tất cả bao nhiêu ngư i con, không nhớ ông bà nội chết năm nào. Cha bà chết năm 63 tuổi, không nhớ năm. Sau khi cưới vợ thì sống L được mư i mấy năm thì về Thư ng hước 1 làm ăn khoảng hơn 10 năm thì về L sinh sống cho đến khi chết. ng C4 có vợ là Dương im A1 và 06 ngư i con gồm: 1. Nguy n Ng c V1 (tên khác V1), 2. Nguy n im N7, 3. Nguy n Thu N11, 4. Nguy n Hùng D2, 5. Nguy n Thị Thúy N12, 6. Nguy n Thanh H15 (chết, không nhớ năm, không biết vợ và con ông H15 đ u), 7. Nguy n Thanh S3. Bà nghe mẹ ruột kể l i ông bà nội bà để l i mấy miếng đất, không rõ bao nhiêu mét vuông, vị tr đ u, giao cho bà T1 giữ để th cúng ông bà, không có cho ai hết. Bà cũng không biết từ trước đến nay đất ai làm, ai quản l . hoảng năm 1973, thì cha bà có tr về Thư ng hước 1 làm ăn hơn 10 năm lúc đó cha bà không có canh tác đất, bà có theo cha về T chơi vài lần, lúc đó cha bà làm thợ sửa xe, cha bà là ngư i nghèo nhất trong số anh chị em. hi đất vô quy ho ch bà không biết, sau đó khi bà H kh i kiện thì thông báo cho bà hay, mới biết, không biết đất vô quy ho ch và Nhà nước bồi thư ng được bao nhiêu tiền, được bao nhiêu nền nhà. Nay bà yêu cầu bà X, anh D, bà H2 chia thừa kế tài sản của ông bà nội để l i và thống nhất như yêu cầu của bà H.

+ Chị Đặng Thị N trình bày: Chị là con ruột của ông Nguy n Văn S5, cha mẹ bà có 08 ngư i con gồm Đặng Văn S, Đặng Thị B ch L, Đặng Văn M2, Đặng Thị , Đặng Thị T21, Đặng Văn M, Đặng Thị C và chị Đặng Thị N. Nguồn gốc diện t ch đất đang tranh chấp chị không biết như thế nào, cha bà không có canh tác diện t ch đất tranh chấp, không biết gì sao anh em mang h “Đặng”. Cha chị chết năm 1978, việc bà H kh i kiện trước đ y chị không biết, việc đất tranh chấp trúng quy ho ch không có ai khiếu n i. hi ông bà nội c n sống, khi chết, đám giỗ hàng năm do bà T1 lo, ông bà nội không có thiếu nợ ai. Chị yêu cầu anh D, bà H2, bà X chia di sản của ông bà nội để l i cho cha để cho 08 anh chị em được hư ng và thống nhất nhận tiền và nền nhà như yêu cầu của bà H, sau khi được chia tiền và nền nhà thì anh chị em của chị sẽ tự thỏa thuận chia không yêu cầu chia.

+ Ông Đặng Văn S trình bày: ng là anh ruột của chị N, ông nghe rõ l i trình bày của chị N và thống nhất theo l i trình bày của chị N. Thống nhất nhận di sản của cha ông để l i. Ngoài ra, không trình bày gì thêm.

+ Bà Phạm Thị N2 trình bày: Bà con ruột của bà T1, khi Thẩm phán lấy l i khai bà T1 thì bà ngồi bên c nh nên nghe rõ, bà T1 vẫn c n minh mẫn, có lúc lãng tai, lớn tuổi nên không nhớ được nhiều. Lúc đầu thì đất của ông bà ngo i để l i thì cho bà T1 làm, vì ông bà ngo i chung nhà với bà T1, sau đó ch y giặc nên ông bà ngo i dưới ghe nhưng vẫn chung với vợ chồng bà T1. Bà không nhớ mẹ bà làm đất khi nào, tất cả anh em của bà T1 thì bà không thấy ai làm 03 công đất của ông bà ngo i để l i, bà X có làm đất, sau đó chê đất làm không được bỏ lên “Miên” sống. Khi ông T2 ly hôn với bà X thì cho bà X 03 công đất ruộng trong c y khô, nền nhà ngoài lộ làng đối diện nhà ông Ư thì của ông bà ngo i cho ông T2 nên ông T2 cho l i bà X. Ông S2 là em ruột của bà không có đất nên hỏi ông T2, ông H11 vô cất nhà, ông S2 có làm 03 công đất đến khi Nhà nước bồi thư ng thì ông S2 được Nhà nước cho tiền di d i nhà và nền nhà, c n đất thì bà H kê khai nhưng không được nhận. L do có tranh chấp với bà Tuyết H2, bà X. Bà H khai với Nhà nước tổng cộng 03 công đất, không nhận được tiền thì bà H khiếu n i, lúc đó bà H yêu cầu tiền bồi thư ng, nền nhà phải chia cho 07 anh chị em. hông nhớ ngày tháng năm có lần ông R kêu bà đến nói là bà Tuyết H2 nhận tiền đưa l i cho bà H 11.000.000đ, kêu bà nhận dùm, bà nhận 11.000.000đ của ông R đưa. hi ông R đưa tiền không có nói gì hết, nhận tiền không có làm giấy t , không nói bà H không được khiếu n i hay thưa kiện gì nữa. Sau khi nhận tiền thì T a án huyện Hồng N13 kêu bà xuống trả l i tiền để đưa cho bà H, phần của ông R gom l i cũng trả cho bà H. Sau đó, số tiền ba mươi mấy triệu không có đưa cho bà H, Tòa án kêu bà H về xã nhận nhưng xã không cho bà H nhận nên chị G là con ruột của bà H khiếu n i về t nh, không nhớ kết quả giải quyết như thế nào. Bà H bị tai n n giao thông gãy ch n lên Bệnh viện C5 phẩu thuật điều trị rồi đến nay mới kh i kiện l i. Từ khi sinh ra cho đến nay bà đều sinh sống t i xã T, không có đi đ u, nhà bà cách nhà bà T1 khoảng 200 - 300m. Bà H thư ng xuyên về nhà thăm bà T1, khi ông bà ngo i c n sống thì bà H cũng thư ng về thăm. hi đất để l i cho bà T1 làm, ông S2 cất nhà thì không có ai khiếu n i hay tranh chấp, ch khi đất trúng vào quy ho ch nên phát sinh tranh chấp cho đến nay. Bà T1 có nói với bà H đất của cha mẹ mà ngư i khác được hư ng nên bà T1 mới giao nghĩa là ủy quyền cho bà H đi khiếu n i. Đất của ông bà nên 07 anh chị em ủy quyền cho bà H khiếu n i để chia cho các anh chị em của bà H. Ông Q2, ông H11, ông T2 không sử dụng đất nhưng trên đất ông T2 có trồng chuối. Việc ông Q2, ông H11 bán đất cho bà Tuyết H2 bà không biết. Bà H2, anh D không có sử dụng đất. Hiện t i phần đất 03 công của ông bà ngo i để l i trúng quy ho ch thì ph a ngoài sông thì có nhà của bà X, bà T6, ông Ư, c n ph a trong đồng thì đất trống, không biết bán cho ai, bà không có tranh chấp hay yêu cầu gì đối với tài sản của ông bà ngo i để l i. Ngoài ra, bà không biết gì khác.

+ Bà Dương Thị H7 trình bày: Bà là vợ ông H11. Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông C2, bà T19. Sau khi giải phóng ông C2, bà T19 cho ông Q2, ông H16, ông T2ngư i 1.000m2, việc cho đất không ai chứng kiến, không có làm giấy t , theo bà thì bà Hbiết, vì anh chị em khác khá giả nên mẹ chồng bà ch cho đất cho ông Q2, ông H11, ông T2, việc cho đất là cha, mẹ chồng bà cho luôn, làm đất được một năm vì đất t quá nên ông Q2, ông H11, ông T2 thuận mỗi ngư i làm một năm, không nhớ làm được bao nhiêu năm. Sau đó bà bán tiệm khá giả nên không làm nửa mà giao cho ông Q2, ông T2 hông nhớ ngày tháng năm ông T2ợ nhỏ nên giao 1.000m2 đất l i cho vợ là bà X. Ông H11 vợ nhỏ, đưa đất cho bà làm, bà dự định làm bằng khoáng đất nhưng ông H11ăn cản bà, ông H11i đất ông H11 l i cho bà T1th cúng cha mẹ nên bà không làm bằng khoán được, c n bà T1hần đất của ông H11ợc 01 năm thì ông H11i l i. hông nhớ ngày tháng năm ch nhớ cách đ y khoảng mư i mấy năm ông H11n phần đất l i cho bà Tuyết H2giá 08 ch vàng 24kra, lúc bán không ai ngăn cản, tranh chấp. Bà H2êu bà T1 i phần ăn của ông H11ưng bà T1 chịu mua. Việc ông H11n đất cho bà H2iệc anh D i đất từ bà H2 bà bà Hbiết vì hàng năm đám giỗ cha, mẹ chồng bà Hua. Anh Dất l i với giá 08 ch vàng 24kra, con bà T1 X1i bà giấu anh Dất cho bà X1, bà X1 đưa vàng cho bà nhưng bà không đồng , sự việc này không ai chứng kiến. C n phần ăn của ông Q2cũng bán cho bà H2. Bà không có yêu cầu chia di sản thừa kế của ông C2, bà T19, vì phần đất này mẹ chồng bà đã cho ông Q2, ông H11, ông T2.

+ Chị Nguyễn Thị T12h bày: Chị là con ruột của ông H11, bà H7, là em ruột của anh D. Chị không biết nguồn gốc đất tài sản tranh chấp là của ai. Từ nhỏ đến lớn chị chưa từng nghe ba, mẹ nhắc chuyện ông, bà nội để l i đất cho ba và các cô, chú. Chị ch thấy ba mẹ làm đất bên ngo i không thấy làm phần đất ông, bà nội để l i. Chị đi làm thành phố nên chị không biết chuyện ba chị bán đất cho bà H2huyện anh D i đất từ bà H2. Việc anh DNhà nước thu hồi đất và bồi thư ng tiền chị cũng không biết. hi T a án đưa chị vào tham gia tố tụng là ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị mới biết sự việc. Nay chị không yêu cầu chia di sản thừa kế của ông C2, bà T19, vì đất đó ông bà nội đã chia cho ba và các chú rồi, ba chị cũng bán cho ngư i khác và anh Dất l i từ bà H2chị không yêu cầu chia di sản.

+ Ông Nguyễn Văn Qnh bày: Ông là con thứ sáu của ông Q2, cháu nội ông C2, bà T19. Nguồn gốc đất tranh chấp của bà nội cho ông Q2, ông H11, ông T2ngư i một công đất ruộng, không biết cho khi nào, cha ông trồng bắp, đậu. Thấy mỗi ngư i làm một công đất không hiệu quả nên nhập l i mỗi ngư i làm 03 công trong một năm, xoay v ng. Sau đó, bà T1àm 03 năm để th cúng ông, bà sau 03 năm bà T1ất l i cho ông Q2, ông H11, ông T2. hông nhớ năm nào, ông T2 vợ nhỏ để đất l i cho bà X công đất làm nuôi con. Lúc em ông là bà M9 chôn trên phần ăn của ông T2, bà Xnhà đào hầm nên gia đình ông d i mộ bà M9hần đất của ông Q2. Bà H, ông C4 từng làm phần đất, khi ông bà c n sống ch cho cha ông, ông H11, ông T2 hoảng năm 2000 cha ông bệnh nên bán 01 công đất được hư ng cho chị ông là bà H2, có làm giấy t , với giá bao nhiêu ông không rõ. Nhưng ông xác định cha ông đã bán phần đất 01 công cho bà H2 anh em ông đã k tên vào giấy sang nhượng đất. Nay bà Hầu bà H2, anh D, bà Xia di sản thừa kế ông không thống nhất, vì đất này cha ông đã bán cho bà H2, c n phần ăn của ông H11ng bán cho bà H2, không biết giá bao nhiêu nhưng mấy ngày sau anh Dhà năn n mua đất l i nên bà H2án l i cho anh D. Ông không có tranh chấp gì đối với tài sản bà Hầu chia. ng nhớ bà T1t cồn, còn bà Hán t p hóa nên cũng thống nhất cho ông Q2, ông H11, ông T2 Ông phải đi làm xa nên xin vắng mặt t i phiên h a giải, phiên t a của T a án các cấp.

+ Ông Nguyễn Văn N6 bày: ng đã nghe ông Qnh bày, thống nhất những gì ông Qnh bày, không bổ sung gì thêm. ng thư ng đi làm xa nên xin vắng mặt t i các phiên h a giải, phiên t a của T a án các cấp. hi bà nội c n sống thì cất quán cà phê, ông nội thư ng đi chùa, khi bà nội bệnh sống bên bà Hgày, khi chết thì nhà bà T1. Lúc ông nội già thì nhà bà T1, bệnh vài ngày thì chết. Chi ph mai táng thì ai có tiền thì lo, bà nội có để l i một số vàng không biết bao nhiêu nên con cháu lấy đó lo mai táng cho ông, bà. ng không có tranh chấp hay yêu cầu gì đối với tài sản bà Hầu chia, vì đó không phải là tài sản của ông bà nội.

+ Anh Nguyễn Văn Úình bày: Anh là con ruột ông Q2, cháu nội của bà T19, ông C2. Nguồn gốc đất là của ông bà nội cho cha anh, ông H11, ông T2ngư i một công đất ấp A, xã T. hông biết cha anh được cho đất, sử dụng đất khi nào. hần đất của ông T2 cho thì ông T2ao, lúc đó mộ bà M9 t lỡ nên di d i về phần đất của cha anh, sau đó, cha anh bệnh nên bán đất l i cho bà Tuyết H2, không biết giá bán bao nhiêu, vì lúc đó anh đi làm Campuchia, khi anh về thì có k tên vào t sang nhượng đất là cha anh và các anh chị em thống nhất để l i 01 công cho bà H2. Ông T2ư ng phần đất c y khô nhưng đã bán từ l u, không nhớ bán cho ai. Trước khi cha anh kêu bà H2đất thì cha anh có kêu anh chị em bán đất nhưng ai mua nên bà H2l i. Nay phần đất của ông bà nội cho cha anh, cha anh bán l i cho bà H2không có tranh chấp hay yêu cầu gì đối với phần đất bà H2 Anh không biết bà H2ua đất của ông H11ông, vì lúc đó anh không có nhà, đi làm Campuchia. Anh rút l i l i trình bày là ông T2 hư ng phần đất c y khô. Anh đi làm Campuchia không thư ng xuyên về nhà nên yêu cầu được vắng mặt t i các phiên h a giải, phiên h p và các phiên t a xét xử t i các T a án các cấp.

+ Ông Nguyễn Văn D6h bày: ng có biết bà H, bà H2g không có h hàng, không biết các bên đang tranh chấp. ng cũng không có quen biết với anh V2. Có một ngư i quen giới thiệu với ông là anh Nguy n Hoàng V2n chuyển nhượng l i nền nhà có chiều ngang 4,5m x dài 15, diện t ch 67,5m2, đất nông thôn, thuộc thửa 131, t bản đồ số 29, đất t i xã T. ng có đến gặp anh V2 trao đổi chuyển nhượng phần đất này, anh V2a ra giá là 1.075.000.000 đồng (Một tỷ, không trăm bảy mươi lăm triệu đồng). Anh V2 cho ông xem là phần đất này anh V2 được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông đồng nhận chuyển nhượng phần đất này với giá anh V2a ra. Ông và anh V2n phòng C6hành phố Hlàm hợp đồng chuyển nhượng ngày 15/01/2021, ông đã giao tiền đủ cho anh V2. Sau đó ông về Ủy ban nh n d n xã Tể làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được biết phần đất này đang tranh chấp thừa kế giữa bà Hà H2.

ng có làm đơn tố cáo anh Nguy n Hoàng V2 tội lừa đảo chiếm đo t tài sản. Công an có m i làm việc sau đó ông rút đơn không yêu cầu xử l hình sự để kh i kiện vụ án d n sự. Nay ông yêu cầu anh Nguy n Hoàng V2ực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện t ch 67,5m2, thửa số 131, t bản đồ số 29, đất t a l c t i xã T, huyện H, t nh Đồng Thápông. Ông không tranh chấp gì với bà H, bà H2ác đương sự khác trong vụ án. Ngày 27/01/2023, ông D6đơn xin rút đơn yeu cầu kh i kiện đối vưới ông Ngô Hoàng V4.

T i Bản án sơ thẩm số 02/DS-ST ngày 02/02/2023 của T a án nh n d n huyện Hồng Ngự đã quyết định:

Đình ch giải quyết yêu cầu độc lập của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguy n Văn D6út, về việc yêu cầu anh Nguy n Hoàng V2ực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện t ch 67,5m2, thửa số 131, t bản đồ số 29, đất t a l c t i xã T, huyện H, t nh Đồng Tháp Tháp.

Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguy n Thị H, bà Nguy n Thị T1, ông Nguy n Văn T2, những ngư i thừa kế tài sản của ông Nguy n Văn S5 chị Đặng Thị N, ông Đặng Văn S, ông Đặng Văn M, chị Đặng Thị C, bà Đặng Thị Bích L, ông Đặng Văn M2, bà Đặng Thị , bà Đặng Thị T3, những ngư i thừa kế tài sản của ông Nguy n Văn H13ng) là bà Nguy n im N7, bà Nguy n Thúy N12, ông Nguy n Thanh S3, bà Nguy n Thu N11, ông Nguy n Ng c V1, ông Nguy n Hùng D2.

Buộc bà Lê Thị Xải chia thừa kế bằng giá trị cho bà Nguy n Thị H, Nguy n Thị T1, Nguy n Văn T2ngư i được nhận 16.232.000 đồng (Mư i sáu triệu, hai trăm ba mươi hai nghìn đồng); Những ngư i thừa kế của ông Nguy n Văn H13ng) là bà Nguy n im N7, bà Nguy n Thúy N12, ông Nguy n Thanh S3, bà Nguy n Thu N11, ông Nguy n Hùng D2ngư i 2.705.000 đồng (Hai triệu, bảy trăm lẻ năm nghìn đồng), những ngư i thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguy n Ng c V1bà Nguy n Thị Tuyết M6, chị Nguy n Thị Cẩm T11, chị Nguy n Thị Cẩm D4được chia 2.705.000 đồng (Hai triệu, bảy trăm lẻ năm nghìn đồng); Những ngư i thừa kế của ông Nguy n Văn S5 bà Đặng Thị N, ông Đặng Văn S, ông Đặng Văn M, bà Đặng Thị C, bà Đặng Thị B ch L, ông Đăng Văn M8, bà Đặng Thị , bà Đặng Thị T3ngư i là 2.029.000 đồng (Hai triệu, không trăm hai mươi ch n nghìn đồng).

Bà Lê Thị Xợc quyền sử dụng diện t ch đất 81,9m2, trong ph m vi các mốc M1, M2, M5, M6 tr về mốc M1, thuộc thửa số 39, t bản đồ số 28, xã T, huyện H, t nh Đồng Tháp.

Buộc bà Nguy n Thị H2y n Thị Tuyết H2) phải chia thừa kế bằng giá trị cho bà Nguy n Thị H, Nguy n Thị T1, Nguy n Văn T2ngư i được nhận 12.411.000 đồng (Mư i hai triệu, bốn trăm mư i một nghìn đồng); Những ngư i thừa kế của ông Nguy n Văn H13ng) là bà Nguy n im N7, bà Nguy n Thúy N12, ông Nguy n Thanh S3, bà Nguy n Thu N11, ông Nguy n Hùng D2 chia mỗi ngư i 2.068.000 đồng (Hai triệu, không trăm sáu mươi tám nghìn đồng), những ngư i kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguy n Ng c V1bà Nguy n Thị Tuyết M6, chị Nguy n Thị Cẩm T11, chị Nguy n Thị Cẩm D4được chia 2.068.000 đồng (Hai triệu, không trăm sáu mươi tám nghìn đồng); Những ngư i thừa kế của ông Nguy n Văn S5 bà Đặng Thị N, ông Đặng Văn S, ông Đặng Văn M, bà Đặng Thị C, bà Đặng Thị B ch L, ông Đăng Văn M8, bà Đặng Thị , bà Đặng Thị T3 chia mỗi ngư i là 1.551.000 đồng (Một triệu, năm trăm năm mươi mốt nghìn đồng).

Buộc ông Nguy n Văn Dchia thừa kế bằng giá trị cho bà Nguy n Thị H, Nguy n Thị T1, Nguy n Văn T2ngư i 11.243.000 đồng (Mư i một triệu, hai trăm bốn mươi ba nghìn đồng); Những ngư i thừa kế của ông Nguy n Văn H13ng) là bà Nguy n im N7, bà Nguy n Thúy N12, ông Nguy n Thanh S3, bà Nguy n Thu N11, ông Nguy n Hùng D2ngư i được chia 1.873.000 đồng (Một triệu, tám trăm bảy mươi ba nghìn đồng), những ngư i kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguy n Ng c V1bà Nguy n Thị Tuyết M6, chị Nguy n Thị Cẩm T11, chị Nguy n Thị Cẩm D4được chia 1.873.000 đồng (Một triệu, tám trăm bảy mươi ba nghìn đồng); Những ngư i thừa kế của ông Nguy n Văn S5 bà Đặng Thị N, ông Đặng Văn S, ông Đặng Văn M, bà Đặng Thị C, bà Đặng Thị B ch L, ông Đặng Văn M2, bà Đặng Thị , bà Đặng Thị T3 chia mỗi ngư i là 1.405.000 đồng (Một triệu, bốn trăm lẻ năm nghìn đồng).

( èm theo biên bản xem xét, thẩm định t i chỗ ngày 02/7/2020; Sơ đồ đo đ c hiện tr ng đất tranh chấp số TĐ07-2020 ngày 02/7/2020 của Chi nhánh Văn ph ng đăng k đất đai huyện H).

Ngoài ra, bản án c n tuyên về án ph , chi ph xem xét thẩm định t i chỗ, quyền và th i h n kháng cáo, quyền, nghĩa vụ và th i hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

- Sau khi xét xử sơ thẩm bà Nguy n Thị H, bà Nguy n Thị T1 cáo không đồng theo quyết định của bản án sơ thẩm, yêu cầu xem xét l i bản án sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm.

- T i phiên t a phúc thẩm: Chị Huỳnh Thị Ng c Gh bày bà Nguy n Thị H, bà Nguy n Thị T1iữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Đ i diện Viện kiểm sát nh n d n t nh Đồng Tháp phát biểu kiến về giải quyết vụ án:

+ Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư k và đương sự, Luật sư đều thực hiện đúng quy định của pháp luật.

+ Về nội dung: hông chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguy n Thị H, bà Nguy n Thị T1. Giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra t i phiên t a và căn cứ vào kết quả tranh tụng t i phiên t a.

NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:

[1] Bà Hkiện bà H2, bà X, ông Dệc tranh chấp thừa kế SDĐ, T a nh n dân huyện H l giải quyết là đúng thẩm quyền. Bà H, bà T1 cáo trong th i h n nên chấp nhận. Bà H, bà T1ủy quyền cho chị G, thủ tục ủy quyền tham gia tố tụng t i cấp phúc thẩm phù hợp quy định nên chấp nhận. Đ i diện Ủy ban nh n d n huyện Hđơn đề nghị xét xử vắng mặt là phù hợp nên chấp nhận. Các bị đơn và ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên xét xử theo quy định.

[2] Theo chị Gh bày cụ C2t năm 1990), cụ T19hết năm 1976) là cha mẹ của bà H T1ện t ch đất 2.579m2. Hiện nay đất do Nhà nước thu hồi theo quy ho ch cụm d n cư T22, đã cấp l i 03 nền nhà tái định cư và bán 03 nền nhà gồm: Thửa số 39 diện t ch 81,9m2; thửa số 40 diện t ch 81,9m2 cùng t bản đồ số 28 do hộ bà Lê Thị Xng tên giấy chứng nhận SDĐ; thửa số 47 diện t ch 81,9m2 t bản đồ số 28 do bà Võ Thị 2ên giấy chứng nhận SDĐ; thửa 124 diện t ch 67,5m2 t bản đồ 29 do ông han Văn B tên giấy chứng nhận SDĐ; thửa 131 diện t ch 67,5m2 t bản đồ 29 do ông Nguy n Hoàng V2ng tên giấy chứng nhận SDĐ; thửa 136 diện t ch 67,5m2 t bản đồ 29 do Huỳnh Thị im T16tên giấy chứng nhận SDĐ; đất t i xã T, huyện H, t nh Đồng Tháp. Đồng th i Nhà nước đã bồi thư ng giá trị đất gồm: Bà Xận số tiền 35.000.000đ; bà H2 số tiền 22.083.354đ; ông Dsố tiền 13.904.334đ. Chị Grằng do vợ chồng cụ C2 không để l i di chúc nên bà H, bà T1êu cầu T a án xem xét đối với 06 thửa và tiền bồi thư ng nói trên, cụ thể là giao các nền nhà và tiền bồi thư ng cho bà Htrách nhiệm chia đều cho các anh em của bà H thừa kế cho các con của cụ C2ụ T19). Ông D, bà X ngư i được nhà nước bồi thư ng tiền, nhận nền nhà tái định cư và mua nền do Nhà nước bán nên không đồng theo yêu cầu của bà H, bà T1. Đối với bà H2g có văn bản kiến.

[3] Xét thấy, vợ chồng cụ C27 ngư i con gồm: ng Nguy n Văn H11hết 2015), ông Nguy n Văn 2t 2001), ông Nguy n Văn H13ết 1998), ông Nguy n Văn S5hết năm1978) bà Nguy n Thị T1, ông Nguy n Văn T2, bà Nguy n Thị H. Về tài sản là diện t ch đất đã bị Nhà nước thu hồi để quy ho ch cụm d n cư Thư ng hước 1.

Theo bà Hlúc cha mẹ bà Hống thì sắp xếp cho các con lu n phiên canh tác mỗi ngư i 03 năm trong đó bà T1ng từ năm 1980 đến 1997. Nhưng bà Hcó l i khai là ông Q2, ông T2, ông H11 chia đất mỗi ngư i 1.000m2, đồng th i trước năm 1976 thì ông T2dẹp đất, chặt cỏ sử dụng đất nhưng không biết bao lâu thì bà T1, ông H11, ông Q2ụng đất rồi cho ông S2 đất trước khi trúng quy ho ch. Đối với bà T1là bà canh tác đất được 05 năm sau đó ai canh tác thì bà không nhớ ch biết trong anh em ngư i nào nghèo khổ thì đưa đất cho ngư i đó canh tác. Tuy nhiên bà T1ó l i khai cho rằng 03 công đất của cha mẹ là do bà và con ruột của bà là ông S2 tác chứ không có ai canh tác. T i phiên t a phúc thẩm thì chị G các con của cụ C2 nhau sử dụng đất lu n phiên nhưng cũng không xác định cụ thể mỗi ngư i sử dụng th i gian nào, vị tr đất của từng ngư i sử dụng. ng D bày cụ C2hia đất tranh chấp cho ông T2, ông H11i ngư i 1.000m2. Ông H11uyển nhượng cho bà H2 t ch thực tế 612m2 sau đó ông Dủa ông H11ận chuyển nhượng l i phần đất này (phần đất c n l i 421m2 d nh vào lộ ĐT 841). Bà Xo rằng ông T2ôn với bà Xn làm t giao kèo giao đất cho bà X, nên bà Xợc cấp giấy chứng nhận SDĐ vào năm 1995, diện t ch 1.016m2.

Qua đó cho thấy việc ông D, bà Xo rằng ông H11 được vợ chồng cụ C2đất, bà Xì được ông T2đất nhưng không có tài liệu chứng cứ chứng minh và bà H, bà T1 thừa nhận (những ngư i cháu của cụ C2g biết rõ). Thực tế bà H, bà T1không thể đưa ra chứng cứ chứng minh rõ ràng về quá trình quản l sử dụng đất của cha mẹ để l i. Đồng th i Nhà nước đã thu hồi đất để làm cụm d n cư và đã thực hiện việc bồi thư ng, cụ thể: Bà Xận tiền bồi thư ng 35.000.000đ, một nền tái định cư số 11 (tương ứng thửa 39); bà H2 bồi thư ng 22.083.354đ, một nền tái định cư số 15 (tương ứng thửa 124); ông Dtiền bồi thư ng 13.904.334đ, một nền tái định cư số 17 (tương ứng thửa 136). T a án cấp sơ thẩm xác định số tiền do ông D, bà X, bà H2 tiền bồi thư ng giá trị đất bị thu hồi và 03 nền tái định cư là di sản thừa kế và căn cứ kết quả định giá tài sản ngày 10/8/2022 xácđịnh giá trị các nền tái định cư với giá 960.000đ/m2 để chia thừa kế cho bà H, bà T1, ông T2hững ngư i thừa kế của ông H13, ông S5 có căn cứ pháp luật.

Đối với các nền nhà do Nhà nước bán gồm: Bà Xa hai nền số 12, 13 (tương ứng thửa 40, 47), bà H2một nền số 16 (tương ứng thửa 131). Tài sản này do bà X bà H2 thuận mua của Nhà nước nên thuộc quyền s hữu của bà X bà H2. Vì vậy T a án cấp sơ thẩm xác định không phải là di sản thừa kế của vợ chồng cụ C2hông chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của bà H, bà T1ù hợp.

T i phiên t a phúc thẩm chị Gcầu hủy các quyết định bồi thư ng tiền giá trị đất và yêu cầu Ủy ban nh n d n huyện Hc hiện l i việc bồi thư ng và bố tr nền cho bà H, bà T1ông có cơ s , b i vì: T i phiên t a phúc thẩm chị G không chứng minh được vì sao trước khi Nhà nước thu hồi đất thì bà H, bà T1được ông Q2, ông T2, ông H11 ph n chia đất không được sự đồng của các đồng thừa kế của vợ chồng cụ C2g cũng không kh i kiện. Trong khi đó các bị đơn quản l sử dụng đất được Nhà nước quyết định thu hồi, bồi thư ng và cấp nền tái định cư là đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Mặt khác, t i phiên t a sơ thẩm bà H, bà T1êu cầu thu hồi 06 nền nhà nói trên để giao cho bà H Hia giá trị cho 06 anh em c n l i và yêu cầu bà X, bà H2, ông Dsố tiền của mỗi ngư i đã nhận và chia đều cho 07 anh em.

[4] Đ i diện Viện kiểm sát T nh phát biểu kiến: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà H, bà T1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm là có cơ s nên chấp nhận.

Do đó không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà H, bà T1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các phần khác không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

[5] Án ph phúc thẩm: Bà H, bà T1ư i cao tuổi có đơn xin mi n tiền án ph là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 5, khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1, 4 Điều 91, Điều 144, 147, khoản 1 Điều 157, Điều 158, khoản 1 Điều 165, Điều 166, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 229 và 244, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng d n sự; Điều 623, 649, 650, 651, 660 và 688 của Bộ luật D n sự; các Điều 95, 99, 100, 179, 188 và 203 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTV H14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thư ng vụ uốc hội quy định về án ph và lệ ph T a án.

1. hông chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguy n Thị H Nguy n Thị T1.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

2. Đình ch giải quyết yêu cầu độc lập của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguy n Văn D6út, về việc yêu cầu anh Nguy n Hoàng V2ực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện t ch 67,5m2, thửa số 131, t bản đồ số 29, đất t a l c t i xã T, huyện H, t nh Đồng Tháp Tháp.

3. Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguy n Thị H, bà Nguy n Thị T1, ông Nguy n Văn T2, những ngư i thừa kế tài sản của ông Nguy n Văn S5 chị Đặng Thị N, ông Đặng Văn S, ông Đặng Văn M, chị Đặng Thị C, bà Đặng Thị B ch L, ông Đặng Văn M2, bà Đặng Thị , bà Đặng Thị T3, những ngư i thừa kế tài sản của ông Nguy n Văn H13ng) là bà Nguy n im N7, bà Nguy n Thúy N12, ông Nguy n Thanh S3, bà Nguy n Thu N11, ông Nguy n Ng c V1, ông Nguy n Hùng D2.

3.1. Buộc bà Lê Thị Xải chia thừa kế bằng giá trị cho bà Nguy n Thị H, Nguy n Thị T1, Nguy n Văn T2ngư i được nhận 16.232.000 đồng (Mư i sáu triệu, hai trăm ba mươi hai nghìn đồng); Những ngư i thừa kế của ông Nguy n Văn H13ng) là bà Nguy n im N7, bà Nguy n Thúy N12, ông Nguy n Thanh S3, bà Nguy n Thu N11, ông Nguy n Hùng D2ngư i 2.705.000 đồng (Hai triệu, bảy trăm lẻ năm nghìn đồng), những ngư i thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguy n Ng c V1bà Nguy n Thị Tuyết M6, chị Nguy n Thị Cẩm T11, chị Nguy n Thị Cẩm D4được chia 2.705.000 đồng (Hai triệu, bảy trăm lẻ năm nghìn đồng); Những ngư i thừa kế của ông Nguy n Văn S5 bà Đặng Thị N, ông Đặng Văn S, ông Đặng Văn M, bà Đặng Thị C, bà Đặng Thị B ch L, ông Đăng Văn M8, bà Đặng Thị , bà Đặng Thị T3ngư i là 2.029.000 đồng (Hai triệu, không trăm hai mươi ch n nghìn đồng).

3.2. Bà Lê Thị Xợc quyền sử dụng diện t ch đất 81,9m2, trong ph m vi các mốc M1, M2, M5, M6 tr về mốc M1, thuộc thửa số 39, t bản đồ số 28, xã T, huyện H, t nh Đồng Tháp.

3.3. Buộc bà Nguy n Thị H2y n Thị Tuyết H2) phải chia thừa kế bằng giá trị cho bà Nguy n Thị H, Nguy n Thị T1, Nguy n Văn T2ngư i được nhận 12.411.000 đồng (Mư i hai triệu, bốn trăm mư i một nghìn đồng); Những ngư i thừa kế của ông Nguy n Văn H13ng) là bà Nguy n im N7, bà Nguy n Thúy N12, ông Nguy n Thanh S3, bà Nguy n Thu N11, ông Nguy n Hùng D2 chia mỗi ngư i 2.068.000 đồng (Hai triệu, không trăm sáu mươi tám nghìn đồng), những ngư i kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguy n Ng c V1bà Nguy n Thị Tuyết M6, chị Nguy n Thị Cẩm T11, chị Nguy n Thị Cẩm D4được chia 2.068.000 đồng (Hai triệu, không trăm sáu mươi tám nghìn đồng); Những ngư i thừa kế của ông Nguy n Văn S5 bà Đặng Thị N, ông Đặng Văn S, ông Đặng Văn M, bà Đặng Thị C, bà Đặng Thị B ch L, ông Đăng Văn M8, bà Đặng Thị , bà Đặng Thị T3 chia mỗi ngư i là 1.551.000 đồng (Một triệu, năm trăm năm mươi mốt nghìn đồng).

3.4. Buộc ông Nguy n Văn Dchia thừa kế bằng giá trị cho bà Nguy n Thị H, Nguy n Thị T1, Nguy n Văn T2ngư i 11.243.000 đồng (Mư i một triệu, hai trăm bốn mươi ba nghìn đồng); Những ngư i thừa kế của ông Nguy n Văn H13ng) là bà Nguy n im N7, bà Nguy n Thúy N12, ông Nguy n Thanh S3, bà Nguy n Thu N11, ông Nguy n Hùng D2ngư i được chia 1.873.000 đồng (Một triệu, tám trăm bảy mươi ba nghìn đồng), những ngư i kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguy n Ng c V1bà Nguy n Thị Tuyết M6, chị Nguy n Thị Cẩm T11, chị Nguy n Thị Cẩm D4được chia 1.873.000 đồng (Một triệu, tám trăm bảy mươi ba nghìn đồng); Những ngư i thừa kế của ông Nguy n Văn S5 bà Đặng Thị N, ông Đặng Văn S, ông Đặng Văn M, bà Đặng Thị C, bà Đặng Thị B ch L, ông Đặng Văn M2, bà Đặng Thị P, bà Đặng Thị T3 chia mỗi ngư i là 1.405.000 đồng (Một triệu, bốn trăm lẻ năm nghìn đồng).

( èm theo biên bản xem xét, thẩm định t i chỗ ngày 02/7/2020; Sơ đồ đo đ c hiện tr ng đất tranh chấp số TĐ07-2020 ngày 02/7/2020 của Chi nhánh Văn ph ng đăng k đất đai huyện H.)

4. Về án ph :

4.1. Án ph d n sự sơ thẩm:

Bà Nguy n Thị H, Nguy n Thị T1, Nguy n Văn T2, Nguy n im N7, Nguy n Thu N11, Đặng Thị N, Đặng Văn S, Đặng Thị B ch L, Nguy n Thu N11, Nguy n Văn D6gư i cao tuổi có đơn xin mi n án ph nên được mi n nộp.

Bà Nguy n Thúy N12i chịu án ph 332.000 đồng được trừ vào tiền t m ứng án ph đã nộp 955.000 đồng theo biên lai thu số 14541 ngày 18/12/2017, bà N12c nhận l i 622.700 đồng.

Ông Nguy n Thanh S3 chịu án ph 332.000 đồng được trừ vào tiền t m ứng án ph đã nộp 955.000 đồng theo biên lai thu số 14542 ngày 18/12/2017, được nhận l i 622.700 đồng.

Ông Nguy n Hùng D2 chịu án ph 332.000 đồng được trừ vào tiền t m ứng án ph đã nộp 955.000 đồng theo biên lai thu số 14540 ngày 18/12/2017, được nhận l i 622.700 đồng.

Bà Đặng Thị B ch L chịu án ph 300.000 đồng được trừ vào tiền t m ứng án ph đã nộp 836.000 đồng, được nhận l i 236.000 đồng theo biên lai thu số 14551 ngày 27/12/2017.

Bà Đặng Thị T3 chịu án ph 300.000 đồng được trừ vào tiền t m ứng án ph đã nộp 836.000 đồng, được nhận l i 236.000 đồng theo biên lai thu số 14553 ngày 27/12/2017.

Ông Đặng Văn M2ải chịu án ph 300.000 đồng được trừ vào tiền t m ứng án ph đã nộp 836.000 đồng, được nhận l i 236.000đ theo biên lai thu số 14552 ngày 27/12/2017.

Bà Đặng Thị chịu án ph 300.000 đồng được trừ vào tiền t m ứng án ph đã nộp 836.000 đồng, được nhận l i 236.000 đông theo biên lai thu số theo biên lai thu số 14554 ngày 27/12/2017.

Ông Đặng Văn S chịu án ph 300.000 đồng được trừ vào tiền t m ứng án ph đã nộp 836.000 đồng, được nhận l i 236.000 đồng theo biên lai thu số 14550 ngày 27/12/2017.

Bà Đặng Thị Ci chịu án ph 300.000 đồng được trừ vào tiền t m ứng án ph đã nộp 836.000 đồng, được nhận l i 236.000 đồng theo biên lai thu số 14555 ngày 27/12/2017.

Ông Đặng Văn Mải chịu án ph 300.000 đồng được trừ vào tiền t m ứng án ph đã nộp 836.000 đồng, được nhận l i 236.000 đồng theo biên lai thu số 14556 ngày 27/12/2017.

Trả l i bà Nguy n Thu N11tiền t m ứng án ph đã nộp 955.000 đồng theo biên lai thu số 14538 ngày 18/12/2017.

Trả l i bà Nguy n im N700 đồng theo biên lai thu 14539 ngày 18/12/2017.

4.2. Án ph d n sự phúc thẩm: Bà Nguy n Thị H, bà Nguy n Thị T1mi n tiền án ph d n sự phúc thẩm.

5. Về chi ph xem xét thẩm định và định giá tài sản: Bà Nguy n Thị H; bà Nguy n Thị T1; ông Nguy n Văn T2; những ngư i thừa kế tài sản của ông Nguy n Văn 2hị Đặng Thị N, ông Đặng Văn S, ông Đặng Văn M, chị Đặng Thị C, bà Đặng Thị B ch L, ông Đặng Văn M2, bà Đặng Thị , bà Đặng Thị T3; những ngư i thừa kế của ông Nguy n Văn H13ng) là bà Nguy n im N7, chị Nguy n Thúy N12, ông Nguy n Thanh S3, bà Nguy n Thu N11, ông Nguy n Ng c V1ững ngư i thừa kế thế vị của ông V1bà Nguy n Thị Tuyết M6, chị Nguy n Thị Cẩm T11, chị Nguy n Thị Cẩm D4), ông Nguy n Hùng D2 đới chịu 467.000đ để trả l i cho bà H00 đồng (do bà H m ứng và đã chi xong).

6. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: ể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngư i được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ngư i được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án c n phải chịu khoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi suất quy định t i Điều 357, Điều 468 của Bộ luật D n sự năm 2015.

Trư ng hợp bản án được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án d n sự thì ngư i được thi hành án, ngư i phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án d n sự; th i hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật Thi hành án d n sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ