vanban.org

Bản án 337/2023/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/03/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu háng cáo của bị đơn bà Trần Thị C.

Hủy Bản án d n sự sơ thẩm số: 389/2022/DS-ST ngày 21/10/2022 của Tòa án nh n d n huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Chuyển hồ sơ v án cho Tòa án nh n d n huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết l i v án theo thủ t c sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản — án dân sự — "Lê Thị Tuyết N - Trần Thị C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu háng cáo của bị đơn bà Trần Thị C.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Luật Thi hành án d n sự; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 296 Bộ luật Tố t ng d n sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 337/2023/DS-PT
Ngày: 22-3-2023
V/v Tranh chấp đòi l i tài sản,
hủy hợp đồng tặng cho quyền s hữu
nhà và quyền sử d ng đất ; hủy
cập nhật biến động trên giấy chứng
nhận quyền sử d ng đất, quyền s
hữu nhà và tài sản hác gắn liền
với đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hương

Các Thẩm phán:

Bà Đỗ Thị Hòa

Ông Uông Văn Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Thư Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Tào Minh Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2023 t i Tr s Tòa án nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai v án th l số: 623/2022/TLPT-DS ngày 28 tháng 12 năm 2022 về việc: “Tranh chấp đòi l i tài sản, hủy hợp đồng tặng cho quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất ; hủy cập nhật biến động trên giấy chứng nhận quyền sử d ng đất, quyền s hữu nhà và tài sản hác gắn liền với đất”.

Do Bản án d n sự sơ thẩm số: 389/2022/DS-ST ngày 21/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh bị háng cáo.

Theo Quyết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm số: 187/2023/QĐPT-DS ngày 31/01/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 1923/2023/QĐPT-DS ngày 27/02/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Tuyết N, sinh năm 1994

Địa chỉ: 10/8 hu phố 5, thị trấn B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; t m trú: 983 tổ Q, ấp E, xã R, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh - là người có hó hăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1966; địa chỉ: 983 tổ Q, ấp E, xã R, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trương Thị H, Văn phòng Luật sư Trương Thị H – Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. -Bị đơn: Bà Trần Thị C, sinh năm 1942 Địa chỉ: 10/8 hu phố 5, thị trấn B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1975 Địa chỉ liên hệ: Nhà thuốc B, số 4382 đường T, phường Y, quận O, Thành phố Hồ Chí Minh. -Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1/Ông Trần Văn T, sinh năm 1972 2/Bà Nguyễn Thị Hoàng O, sinh năm 1978 3/Ông Trần Văn T1, sinh năm 1980 4/Ông Phan Văn L 5/Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1989 Cùng địa chỉ: 6/4 P, hu phố A, thị trấn B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. 6/Văn phòng Công chứng S Địa chỉ: 223/12 P, hu phố D, thị trấn B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đ i diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tấn T– Trư ng văn phòng.

- Người làm chứng: Bà Lương Thị Thu T, sinh năm 1974 Địa chỉ: 2736A ấp 5, xã R, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh

- Người kháng cáo: Bà Trần Thị C. (Bà G, ông H, bà T, Luật sư H có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn h i iện ngày 09 tháng 6 năm 2021 và Đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu h i iện ngày 01/12/2021, các lời hai trong quá trình giải quyết v án cũng như t i phiên tòa sơ thẩm, người đ i diện theo pháp luật của nguyên đơn bà Nguyễn Thị G trình bày: Chị Lê Thị Tuyết N là con của bà Nguyễn Thị G và ông Lê Văn P. Bà G và ông P ly hôn năm 2005. Năm 2014, ông P chết. Trước hi chết, ông P cho chị N nhà, đất t i số 6/4 P, Khu phố A, thị trấn B, huyện B (sau đ y gọi tắt là nhà, đất số 6/4 P) theo giấy chứng nhận quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất số: 476/2009/GCN-UB do Ủy ban nh n d n huyện B cấp ngày 07/12/2009, đăng biến động ngày 08/11/2013 t i Văn phòng đăng đất đai huyện B.

Ngày 02/8/2014, bà Trần Thị C (là bà nội của chị N) đã cùng với chị N tiến hành thủ t c về việc chị N tặng cho bà C nhà, đất số 6/4 P theo hợp đồng tặng cho toàn bộ quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất t i Văn phòng công chứng S ngày 02/8/2014, số công chứng: 002622, quyển số: 02, đăng biến động ngày 06/8/2014 t i Văn phòng đăng quyền sử d ng đất huyện B.

Cùng ngày 02/8/2014, bà C có làm giấy cam ết với nội dung: “Tôi đồng ý trả lại căn nhà 6/4 và miếng đất của căn nhà 6/4 P, khu phố A và miếng đất 144,5 m2 của căn nhà 6/4 P thửa đất số 18 và bản đồ số 18 diện tích 159,6 m2. Tôi đồng ý trả lại căn nhà và miếng đất nói trên cho bà Lê Thị Tuyết N và trả lại số tiền hai tỷ gửi trong Ngân hàng A cho cháu N vì lúc trước tôi kêu cháu Lê Thị Tuyết N cho tặng tôi để giữ dùm. Lý do là: Cháu tôi bị chậm phát triển từ lúc mẹ mới sinh ra. Tôi có hứa chừng nào cháu tôi có con tôi sẽ trả lại căn nhà 6/4 và miếng đất cho bà Lê Thị Tuyết N và hai tỷ. Tôi cam đoan lời hứa của tôi là đúng sự thật nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật”.

Tháng 11/2020, chị N đã sinh con nhưng bà C hông thực hiện theo nội dung đã cam ết vào ngày 02/8/2014.

Theo bà G trình bày: Chị N là người hông có năng lực hành vi d n sự từ hi mới sinh ra, bà G đã tiến hành thủ t c xác định trình độ t m thần, trí tuệ của chị N. Theo ết quả t i Thang đo trí nhớ và tập trung chú số 16025316 ngày 02/9/2019 và ết quả đánh giá thang đo lường MMSE số 16025316 ngày 02/9/2019 của Khoa T m l y học Bệnh viện t m thần thì Lê Thị Tuyết N được nhận xét và ết luận như sau: Khả năng tập trung: hông thực hiện được, hả năng nhớ: ém. Kết luận: Mức độ suy giảm nhận thức: severe.

Do đó, bà G có đơn yêu cầu giải quyết việc d n sự, yêu cầu Tòa án nh n dân huyện B tuyên bố chị N là người có hó hăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Theo Quyết định số: 69/2021/QĐST-DS ngày 17/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện B tuyên bố chị N là người có hó hăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, đồng thời chỉ định bà G là người giám hộ của chị N.

Nay bà G (người giám hộ của chị N) là người đ i diện theo pháp luật của chị N kh i iện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Buộc bà Trần Thị C thực hiện theo Giấy cam ết ngày 02/8/2014, trả l i quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất đối với nhà, đất t i số 6/4 P cho chị N do bà G là người giám hộ, ngay sau hi bản án có hiệu lực pháp luật;

- Hủy hợp đồng tặng cho toàn bộ quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất

ết t i Văn phòng công chứng S ngày 02/8/2014, số công chứng: 002622, quyển số: 02 TP/CC-SCC/HĐGD;

- Hủy phần đăng biến động ngày 06/8/2014 t i Văn phòng đăng quyền sử d ng đất huyện B về việc tặng cho bà Trần Thị C đối với nhà đất t i số 6/4 P theo hồ sơ số 4628. T i bản hai ngày 22/11/2021 và các lời hai trong quá trình giải quyết v án cũng như t i phiên tòa, bà Trần Thị C là bị đơn ủy quyền cho Ông Hoàng Văn H trình bày: Bị đơn hông đồng yêu cầu h i iện của nguyên đơn với những l do: T i bản án số: 189/HNPT ngày 28/01/2005 của Tòa án nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh về việc ly hôn giữa ông P và bà G, thời điểm này trẻ Lê Thị Tuyết N đã hơn 10 tuổi, Tòa án có xét nguyện vọng của trẻ N để giao trẻ N cho ông P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Điều này cho thấy trẻ N có nhận thức hoàn toàn bình thường. Ngày 08/11/2013, ông P hợp đồng tặng cho chị N quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất t i địa chỉ 6/4 P. T i thời điểm này, chị N đã đủ 18 tuổi, Văn phòng Công chứng đã chứng nhận hợp đồng tặng cho giữa ông P và chị N, thể hiện chị N là người có đầy đủ năng lực hành vi d n sự. Văn phòng đăng đất đai huyện B căn cứ vào hợp đồng tặng cho này để cập nhật biến động tên chị N trên giấy chứng nhận quyền s hữu nhà t i địa chỉ số 6/4 P. Ngày 02/8/2014, chị N hợp đồng tặng cho bà C quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất t i địa chỉ số 6/4 P. Hợp đồng này đã được Văn phòng công chứng S chứng thực và được Văn phòng đăng đất đai huyện B cập nhật biến động sang tên bà C đối với căn nhà nêu trên vào ngày 06/8/2014. Đối với Giấy cam ết ngày 02/8/2014, theo bị đơn là vào năm 2020 chứ hông phải năm 2014, thời điểm đó bà C có đến nhà bà G dự tiệc sinh nhật và bà G có nói bà C tên vào tờ giấy để cho chị N về với bà G, bà C hông xem ỹ nội dung nên đã tên vào tờ giấy đó vì bà C tin tư ng bà G, đến hi bà G căn cứ vào nội dung giấy cam ết để h i iện thì bà C mới biết được nội dung của tờ giấy này. Từ đó, cho thấy chị N từ nhỏ đến lớn là một người bình thường và t i thời điểm hợp đồng tặng cho căn nhà nêu trên cho bà C vào ngày 02/8/2014 thì chị N là người có đầy đủ năng lực hành vi d n sự, nội dung hợp đồng tặng cho thể hiện đúng chí của chị N. Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan ông Trần Văn T, sinh năm 1972 trình bày: Ông T có thuê căn nhà t i số 6/4 P từ năm 2001 của ông P, đến năm 2006 thì do bà C là người đứng ra cho ông T thuê và thu tiền thuê. Ông T thuê nhà để inh doanh nhôm, iếng. Trong thời gian thuê nhà ông T có cải t o, sửa chữa một phần mái nhà và n ng nền do nền thấp bị ngập nước. Ông T t i căn nhà trên cùng vợ là Bà Nguyễn Thị Hoàng O và 03 người thợ của ông T là ông Phan Văn L, ông Trần Văn T1, ông Nguyễn Văn Q nhưng hiện nay ông L đã nghỉ việc và hông còn t i địa chỉ trên. Ông T xác định hông có yêu cầu bồi thường, hông có yêu cầu độc lập trong v án này. Trường hợp có yêu cầu giao nhà thì ông T đồng bàn giao và hông có hiếu n i gì. Ông T xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết v án và phiên tòa xét xử.

Những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan bà Nguyễn Thị Hoàng O, ông Trần Văn T1, sinh năm 1980, ông Phan Văn L, ông Nguyễn Văn Q trình bày: Các ông bà thống nhất lời trình của ông Trần Văn T, sinh năm 1972, các ông, bà xác định hông có yêu cầu độc lập trong v án và xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết v án và phiên tòa xét xử.

T i bản hai số 46/CV-CCNTT ngày 13/7/2022, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan Văn phòng công chứng S trình bày:

Nhà, đất số 6/4 P do ông Lê Văn P s hữu và đã được Ủy ban nh n d n huyện B cấp giấy chứng nhận quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất , hồ sơ gốc số: 476/2009/GCN-UB ngày 07/12/2009.

Ngày 03/11/2013, căn nhà số 6/4 P do chị N s hữu (do ông Lê Văn P tặng cho) đã được Văn phòng đăng quyền sử d ng đất huyện B cập nhật biến động trên giấy chứng nhận.

Ngày 02/8/2014, chị N tặng cho căn nhà trên cho bà Trần Thị C và đã được Văn phòng công chứng S chứng nhận số 002622.

Sau hi xem xét toàn bộ hồ sơ và căn cứ Điều 8, 36 Luật Công chứng năm 2006; Điều 122, 123, 197 Bộ luật D n sự 2005; Điều 91, 92 Luật Nhà năm 2005. Văn phòng công chứng S chứng nhận Hợp đồng tặng cho số 002622 ngày 02/8/2014 là đúng quy định pháp luật. Văn phòng Công chứng S xin vắng mặt trong quá trình giải quyết v án.

T i biên bản lấy lời hai ngày 09/11/2021 cũng như t i phiên tòa, người làm chứng bà T trình bày: Vào ngày 02/8/2014, bà Trần Thị C có xuống nhà chị N và hai bà cháu trao đổi nội dung như thế nào thì bà T hông rõ nhưng sau đó bà C và chị N có nhờ bà T làm chứng cho sự việc là bà C có đứng tên giữ dùm cho chị N căn nhà số 6/4 P và một số tiền, bà C cam ết là chỉ đứng tên dùm cháu là N do ba cháu N là ông P đã chết có để l i căn nhà trên cho chị N và bà C cam ết sẽ trả l i tài sản cho chị N khi chị N có con. Sau hi chứng iến sự việc trên thì chị N nhờ bà T giữ Giấy cam ết. Đến năm 2020, bà T thấy cháu N có thai nên bà T đã đưa l i tờ Giấy cam ết cho bà Nguyễn Thị G là mẹ của chị N.

T i Bản án d n sự sơ thẩm số: 389/2022/DS-ST ngày 21/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

1/Chấp nhận toàn bộ yêu cầu h i iện của nguyên đơn.

- Buộc bà Trần Thị C có trách nhiệm trả l i quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất đối với nhà đất t i địa chỉ 6/4 P thuộc thửa 18, tờ bản đồ 18, thị trấn B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Lê Thị Tuyết N (do bà Nguyễn Thị G là người giám hộ) theo Giấy cam ết ngày 02/8/2014. (Theo bản đồ hiện tr ng vị trí – áp ranh do Trung t m đo đ c bản đồ thuộc S Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 08/4/2022). Ông Trần Văn T, bà Nguyễn Thị Hoàng O, ông Phan Văn L, ông Trần Văn T1, ông Nguyễn Văn Q có trách nhiệm bàn giao quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất đối với nhà đất t i địa chỉ 6/4 P thuộc thửa 18, tờ bản đồ 18, thị trấn B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Lê Thị Tuyết N (do bà Nguyễn Thị G là người giám hộ).

- Hủy hợp đồng tặng cho toàn bộ quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất , giữa bên tặng cho là bà Lê Thị Tuyết N và bên nhận là bà Trần Thị C do Văn phòng công chứng S công chứng, vào sổ công chứng số 002622, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 02/8/2014.

- Hủy phần đăng biến động ngày 06/8/2014 t i Văn phòng đăng quyền sử d ng đất huyện B về việc tặng cho bà Trần Thị C, sinh năm 1942, CMND số xxxxxxxxx, thường trú t i 10/8 Tổ 5, Khu phố 5, thị trấn B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo hồ sơ số 4628 đối với nhà đất t i số 6/4 P, Khu phố A, thị trấn B trên Giấy chứng nhận quyền s hữu nhà , quyền sử d ng đất , số hồ sơ gốc 476/2009/GCN-UB do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 07/12/2009. Sau hi bản án có hiệu lực pháp luật, bà Lê Thị Tuyết N (do bà Nguyễn Thị G là người giám hộ) được quyền liên hệ cơ quan chuyên môn điều chỉnh hôi ph c l i phần đăng biến động ngày 08/11/2013 t i Văn phòng đăng ký quyền sử d ng đất huyện B về việc tặng cho bà Lê Thị Tuyết N theo hồ sơ số 4984 đối với nhà đất t i số 6/4 P, Khu phố A, thị trấn B trên Giấy chứng nhận quyền s hữu nhà , quyền sử d ng đất , số hồ sơ gốc 476/2009/GCN-UB do Ủy ban nh n d n huyện B cấp ngày 07/12/2009. 2/Về chi phí tố t ng: Buộc bà Trần Thị C phải trả l i cho bà Lê Thị Tuyết N (do bà Nguyễn Thị G là người giám hộ) chi phí đo đ c, chi phí thẩm định giá tổng cộng là 25.678.640 (Hai mươi lăm triệu sáu trăm bảy mươi tám ngàn sáu trăm bốn mươi) đồng. Thi hành sau hi bản án có hiệu lực pháp luật t i cơ quan Thi hành án d n sự có thẩm quyền. Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền háng cáo và quyền yêu cầu thi hành án. Ngày 02/11/2022, bị đơn là bà C háng cáo toàn bộ nội dung bản án d n sự sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm hông chấp nhận toàn bộ yêu cầu h i iện của nguyên đơn. T i phiên tòa phúc thẩm: Các đương sự hông thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết v án.

- Bà G là người đ i diện theo pháp luật của nguyên đơn chị N trình bày: Bà G giữ nguyên yêu cầu h i iện, hông chấp nhận toàn bộ yêu cầu háng cáo của bị đơn. Đề nghị cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án d n sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phát biểu – đề nghị: Đề nghị cấp phúc thẩm hông chấp nhận toàn bộ yêu cầu háng cáo của bị đơn. Phía bị đơn nêu ra hai căn cứ đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm nhưng hông có cơ s , c thể:

Thứ nhất, bị đơn cho rằng cấp sơ thẩm có vi ph m nghiêm trọng thủ t c tố t ng do hông triệu tập bà Nguyễn Trần Thanh M là người s hữu căn nhà 6/4 P vào tham gia tố t ng trong v án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa v liên quan. Nhận thấy, việc cấp sơ thẩm hông triệu tập bà M hông vi ph m tố t ng vì căn cứ vào hoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố t ng d n sự năm 2015 quy định người có quyền lợi, nghĩa v liên quan trong v án là người tự mình đề nghị hoặc đương sự hác đề nghị hoặc Tòa án đưa họ vào tham gia tố t ng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa v liên quan. Tuy nhiên, trong v án này bà M hông yêu cầu, nguyên đơn hông yêu cầu và nhất là bị đơn cho rằng đã báo với Tòa án cấp sơ thẩm nhưng hoàn toàn hông có chứng cứ về việc yêu cầu đưa bà M vào tham gia tố t ng. Tòa án cấp sơ thẩm hông thể biết là bà C đã chuyển nhượng cho bà M nên hông đưa bà M vào tham gia tố t ng là hông vi ph m. Trường hợp cần thiết thì bà M có thể h i iện thành một v án hác hi có yêu cầu. Theo giấy chứng nhận quyền sử d ng đất bị đơn nộp cho Tòa án cấp phúc thẩm thể hiện bà C chuyển nhượng cho bà M theo hợp đồng chuyển nhượng ngày 11/12/2021 và bà M được cấp giấy chứng nhận vào ngày 05/5/2022. Tòa án cấp sơ thẩm đã th l v án vào tháng 06/2021, bị đơn đã được thông báo th l v án nhưng l i ra Phòng công chứng hợp đồng chuyển nhượng cho bà M là hông đúng quy định.

Thứ hai, đối với tài liệu đ i diện bị đơn cung cấp t i cấp phúc thẩm cho rằng chính nguyên đơn là chị N đưa cho bị đơn gồm giấy cam ết ngày 02/8/2014 có chữ sống ghi và ký tên người làm chứng là Lương Thị Thu T. T i phiên tòa, bà T cũng phủ nhận đó là chữ , chữ viết của mình cũng như phía bị đơn trình bày đ y là bản photo từ giấy cam ết nguyên đơn đang giữ và sau đó bà T thêm chữ sống thì đ y hông phải là bản chính. Đối với giấy trình bày ngày 30/12/2020 của chị N thì thực tế chị N đã có quyết định tuyên bố là một người có hó hăn trong nhận thức, làm chủ hành vi nên mọi giao dịch của chị N đều phải thông qua người giám hộ. Phía bị đơn cung cấp t i phiên tòa phúc thẩm và cho rằng những tài liệu này chị N đưa cho bị đơn là hông phù hợp quy định.

Từ những căn cứ trên, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên hông chấp nhận toàn bộ yêu cầu háng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án d n sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện B.

- Ông H là người đ i diện theo ủy quyền của bị đơn bà C nộp bổ sung các tài liệu, chứng cứ là bản sao giấy chứng nhận quyền sử d ng đất quyền s hữu nhà và tài sản hác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS12317 do S Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/5/2022 cho bà Nguyễn Trần Thanh M; giấy cam ết ngày 02/8/2014; giấy trình bày ngày 30/12/2020 của chị N. Đồng thời ông H trình bày: Ông giữ nguyên nội dung đơn háng cáo ngày 02/11/2022 của bà C, đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm, lý do cấp sơ thẩm đưa thiếu người tham gia tố t ng là bà Nguyễn Trần Thanh M, sinh năm 1995, địa chỉ: 71 đường C, khu K–L hu phố D, phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh vào tham gia tố t ng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa v liên quan trong v án. Thực tế, bà C đã hợp đồng chuyển nhượng căn nhà số 6/4 P cho bà M vào ngày 11/12/2021 t i Văn phòng công chứng D. Bà M được cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất, quyền s hữu nhà và tài sản hác gắn liền với đất vào ngày 05/5/2022 và từ tháng 5/2022 đến nay bà M là người thực tế sử d ng, quản l nhà, đất nêu trên. Ngoài ra, bị đơn cũng thu thập được tài liệu, chứng cứ mới cho chính chị N là nguyên đơn đưa cho là giấy cam ết ngày 02/8/2014 có nội dung hác với giấy cam ết cùng ngày 02/8/2014 do bà G giao nộp, t i giấy cam ết này hông có dòng chữ: “Tôi đã đọc và đồng ” và còn nhiều điểm hác nhau trên hai giấy cam ết này cho thấy có sự giả dối để t o nên giấy cam ết mà phía nguyên đơn xuất trình. Mặt hác, bị đơn cũng thu thập được giấy trình bày ngày 30/12/2020 do chính nguyên đơn là chị N viết thể hiện nội dung chị N bị bà G ép buộc phải viết giấy cam ết và viết lùi ngày 02/8/2014, thực tế giấy cam ết đưa cho bà C ký là vào ngày 29/12/2020 t i bữa tiệc sinh nhật. Chị N viết giấy trình bày ngày 30/12/2020 là trước thời điểm bị Tòa án tuyên bố là người có hó hăn trong nhận thức, làm chủ hành vi nên vẫn có giá trị. Những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan: Ông Trần Văn T, sinh năm 1972, bà Nguyễn Thị Hoàng O, ông Trần Văn T1, sinh năm 1980, ông Phan Văn L, ông Nguyễn Văn Q vắng mặt. Đ i diện Văn phòng công chứng S vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người làm chứng bà T trình bày: Bà hẳng định bà là người chứng iến bà C đọc cho chị N ghi nội dung giấy cam ết ngày 02/8/2014, sau đó chị N và bà C đưa cho bà nhờ giữ dùm. Bà cũng xác định chỉ tên vào giấy cam ết ngày 02/8/2014 do phía nguyên đơn có bà G đ i diện xuất trình, còn chữ ý và ghi tên Lương Thị Thu T trong giấy cam ết ngày 02/8/2014 mà bị đơn xuất trình cấp phúc thẩm hông phải chữ và chữ viết của bà. Đ i diện Viện Kiểm sát nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu, đề nghị: Từ hi th l v án cho đến hi có quyết định đưa v án ra xét xử, Thẩm phán thực hiện đúng theo quy định của pháp luật và t i phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố t ng của Bộ luật Tố t ng d n sự năm 2015 quy định. T i phiên tòa các đương sự chấp hành đúng theo quy định pháp luật. Về nội dung: T i phiên tòa phúc thẩm, bị đơn nộp bổ sung chứng cứ mới thể hiện sự thay đổi về chủ s hữu đối với căn nhà 6/4 P, theo giấy chứng nhận quyền sử d ng đất quyền s hữu nhà và tài sản hác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS12317 do S Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/5/2022 cho bà Nguyễn Trần Thanh M. Tuy nhiên, trong quá trình xét xử sơ thẩm, bà M chưa được tham gia tố t ng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là chưa đảm bảo quyền lợi của đương sự.

Ngoài ra, bị đơn còn cung cấp giấy trình bày ngày 30/12/2020 của chị N thể hiện nội dung chị N bị bà G ép ký giấy cam ết ngày 02/8/2014. Mặt khác, t i giấy cam ết ngày 02/8/2014 do bị đơn mới cung cấp cho cấp phúc thẩm không có ghi dòng chữ: “Tôi đã đọc và đồng ”, còn giấy cam ết nguyên đơn nộp cho cấp sơ thẩm có dòng chữ: “Tôi đã đọc và đồng ”. Đ y là chứng cứ mới đương sự bổ sung nhưng chưa được làm rõ nên chưa đảm bảo hách quan.

Nhận thấy, chứng cứ mà đương sự mới bổ sung cho thấy cần phải đưa bà M vào tham gia tố t ng và làm rõ một số chứng cứ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được.

Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận háng cáo của bị đơn. Căn cứ hoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố t ng d n sự năm 2015 hủy Bản án d n sự sơ thẩm số: 389/2022/DS-ST ngày 21/10/2022 của Tòa án nh n d n huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, giao l i cho cấp sơ thẩm giải quyết theo thẩm quyền.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ v án được thẩm tra t i phiên tòa và căn cứ vào ết quả tranh t ng, tranh luận t i phiên tòa, iến phát biểu của Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức và thời h n háng cáo: Đơn háng cáo ngày 02/11/2022 của bị đơn bà C còn trong h n luật định theo quy định t i hoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố t ng d n sự năm 2015 nên hợp lệ.

Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Trần Văn T, sinh năm 1972, bà Nguyễn Thị Hoàng O, ông Trần Văn T1, sinh năm 1980, ông Phan Văn L, ông Nguyễn Văn Q vắng mặt lần thứ hai t i phiên tòa dù được triệu tập hợp lệ. Đ i diện Văn phòng công chứng S vắng mặt t i phiên tòa và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào hoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố t ng d n sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.

Xét háng cáo của bị đơn là bà C háng cáo toàn bộ nội dung bản án d n sự sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án d n sự sơ thẩm.

Về tố t ng: Xét thấy, t i giai đo n xét xử phúc thẩm, đ i diện theo ủy quyền của bị đơn bà C cung cấp tài liệu, chứng cứ mới là bản sao giấy chứng nhận quyền sử d ng đất quyền s hữu nhà và tài sản hác gắn liền với đất căn nhà số 6/4 P mang tên bà Nguyễn Trần Thanh M do S Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/5/2022 theo hợp đồng công chứng số: 005215, quyển số: 12/2021/TP CC-SC/HĐGD do Văn phòng công chứng D chứng thực ngày 11/12/2021. Xét, yêu cầu h i iện của nguyên đơn buộc bà C và những người đang quản l , sử d ng căn nhà phải có trách nhiệm trả l i quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất đối với nhà, đất t i địa chỉ 6/4 P cũng như yêu cầu hủy phần đăng biến động mang tên bà Trần Thị C t i Văn phòng đăng quyền sử d ng đất huyện B ngày 06/8/2014 trên giấy chứng nhận nêu trên. Xét thấy, việc chấp nhận yêu cầu h i iện của nguyên đơn hay hông chấp nhận yêu cầu h i iện của nguyên đơn đều liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa v của bà Nguyễn Trần Thanh M là người hiện nay đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử d ng đất quyền s hữu nhà và tài sản hác gắn liền với đất của căn nhà số 6/4 P. Như vậy, để việc giải quyết yêu cầu của các đương sự trong v án được triệt để, chính xác và khách quan cũng như việc đảm bảo việc thi hành bản án trong giai đo n thi hành án thì cần thiết phải đưa bà Nguyễn Trần Thanh M vào tham gia tố t ng trong v án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa v liên quan để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự cũng như đảm bảo hai cấp xét xử cần phải hủy bản án sơ thẩm giao hồ sơ v án cho cấp sơ thẩm xét xử l i. [3.2] Về nội dung: Ông H là người đ i diện theo ủy quyền của bị đơn cung cấp bổ sung tài liệu, chứng cứ là giấy cam ết ngày 02/8/2014 có nhiều điểm hác so với giấy cam ết ngày 02/8/2014 mà nguyên đơn xuất trình t i tòa. Phía người làm chứng là bà T hẳng định chữ viết và chữ tên Lương Thị Thu T hông phải do bà và viết. Mặc hác, ông H xuất trình giấy tường trình ngày 30/12/2020 của chị N thể hiện nội dung chị N bị ép viết và ký vào giấy cam ết ngày 02/8/2014 và viết lùi ngày. Xét, đương sự nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ mới và các đương sự cũng như người làm chứng có lời hai m u thuẫn với nhau. Khi v án được xem xét, giải quyết l i theo thủ t c sơ thẩm thì các đương sự phải có nghĩa v chứng minh theo quy định của Bộ luật tố t ng d n sự năm 2015. [3.3] Từ những ph n tích nêu trên, xét thấy lời đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nh n d n huyện B là hông có cơ s . Hội đồng xét xử xét thấy, háng cáo của bị đơn là có cơ s chấp nhận. Đề nghị của đ i diện Viện Kiểm sát nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ. Căn cứ vào hoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố t ng d n sự năm 2015. Hội đồng xét xử hủy Bản án d n sự sơ thẩm số: 389/2022/DS-ST ngày 21/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. [3.4] Do bản án d n sự sơ thẩm của Tòa án nh n d n huyện B bị hủy nên yêu cầu của các đương sự, các tài liệu, chứng cứ đã nộp được Tòa án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh xem xét, quyết định sau hi th l , giải quyết l i v án. [4]Về án phí:

- n phí d n sự sơ thẩm: Nghĩa v chịu án phí được xác định l i hi giải quyết l i v án theo thủ t c sơ thẩm.

- Án phí d n sự phúc thẩm: Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án bị háng cáo để xét xử l i theo thủ t c sơ thẩm thì đương sự háng cáo hông phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn l i tiền t m ứng án phí phúc thẩm cho bà C.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 148, hoản 3 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố t ng d n sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 26 của Luật Thi hành án d n sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Căn cứ vào hoản 3 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu háng cáo của bị đơn bà Trần Thị C.

2. Hủy Bản án d n sự sơ thẩm số: 389/2022/DS-ST ngày 21/10/2022 của Tòa án nh n d n huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Chuyển hồ sơ v án cho Tòa án nh n d n huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết l i v án theo thủ t c sơ thẩm.

4. Về án phí:

- n phí d n sự sơ thẩm được xác định hi v án được giải quyết l i.

- n phí d n sự phúc thẩm: Bà C hông phải chịu án phí phúc thẩm.

Hoàn l i tiền t m ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) cho bà Trần Thị C theo biên lai thu tiền t m ứng án phí lệ phí Tòa án số: AA/2022/0014418 ngày 14/11/2022 của Chi c c Thi hành án d n sự huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ