- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Kim V phạm tội “Giết người” - giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Kim V, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 336/2026/HS-PT Ngày 25 - 5 - 2026 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hòa Hiệp
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Văn Ý
Ông Phạm Văn Công
- Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền, Thư ký Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 130/2026/TLPT-HS ngày 04 tháng 3 năm 2026. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2026/HS-ST ngày 20/01/2026 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Kim V; Giới tính: Nam; Sinh ngày : 14/12/1984 tại Tỉnh Long An (nay là tỉnh Tây Ninh); Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: D D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh); Chỗ ở: Phòng A, nhà trọ số C D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Con ông Nguyễn Văn T (chết) và con bà Lê Thị M; Hoàn cảnh gia đình: bị cáo chưa có vợ, chưa có con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2022 (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đặng Thanh S, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, làm việc tại Văn phòng L1 (có mặt).
- Bị hại:
1) Ông Trần Thanh T1, sinh năm 1978, HKTT: H H, ấp F, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã N, Thành phố Hồ Chí Minh); Chỗ ở: 20 đường số D, KDC T, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt).
2) Ông Nguyễn Xuân H1, sinh năm 1972, HKTT: B Quốc lộ A, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh); Nơi ở hiện tại: Hẻm A, Phan Văn Đ, ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai (nay là xã Đ, tỉnh Đồng Nai) (vắng mặt).
3) Ông Trần Minh H2, sinh năm 1992, HKTT: B T, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường V, Thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt).
4) Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1972, HKTT: 5 T, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); Nơi ở hiện tại: 1 P, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh) (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Kim Q, sinh năm 1982; trú tại: C D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh) (vắng mặt).
- Người làm chứng:
1) Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1990; trú tại: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang (nay là xã B, tỉnh An Giang) (vắng mặt).
2) Ông Huỳnh Văn D, sinh năm 1075; trú tại: L, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) (vắng mặt).
3) Ông Hoàng Anh T3, sinh năm 1981; trú tại: T, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) (vắng mặt).
4) Ông Võ Minh C, sinh năm 1974; trú tại: khu phố G, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã N, Thành phố Hồ Chí Minh) (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Kim V làm công nhân trong các Công ty tại Khu chế xuất T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình làm việc tại các Công ty này, V thường xuyên bị các nhân viên quản lý, tổ trưởng nhắc nhở, la mắng nên V thù tức và đã mua a xít tạt vào cơ thể những người này để trả thù. Từ tháng 10/2019 đến tháng 9/2022, V đã thực hiện 04 vụ tạt a xít để trả thù, cụ thể như sau:
1. Vụ thứ nhất.
Từ khoảng giữa năm 2019, Nguyễn Kim V bắt đầu vào làm việc tại bộ phận ép của Công ty K, do anh Trần Thanh T1 làm tổ trưởng. Trong công việc, V cho rằng anh T1 có la mắng và nhắc nhở nên V nảy sinh ý định tạt acid anh T1, từ đó V lên Google tìm hiểu về việc mua acid thì biết được cửa hàng tại địa chỉ A P, Phường A, Quận E (chợ K1) có bán hóa chất này và đã liên hệ mua.
Vào ngày 21/10/2019, V xin nghỉ phép tại Công ty K và lúc này do xe của V bị hư thắng (phanh) nên V qua nhà trọ của Lê Tấn M2 (cùng làm chung Công ty với V), mượn chiếc xe Sirius (không rõ biển số) để ra chợ K1 mua acid, nhưng acid là hóa chất thuộc danh mục độc hại, khó mua nên V đã giả vờ mua túi xút (NAOH) với giá 15.000 đồng trước rồi hỏi mua tiếp acid thì được bán 01 chai Acid Hydrochloric (HCL) với giá 30.000 đồng. Do mục đích mua chai A để tạt anh T1 nên V đã vứt bỏ túi xút dọc đường. Sau đó, V điều khiển xe máy Sirius nêu trên đến tiệm tạp hóa trên đường D, Phường A, Quận H mua ca nhựa để chứa acid rồi chạy về phòng trọ của Lê Tấn M2 cất giấu chai Acid bên ngoài bờ tường phòng trọ.
Quá trình theo dõi, V biết được giờ anh T1 kết thúc ca, đi đường H để về nhà ở huyện N, nên đến khoảng 21 giờ cùng ngày (ngày 21/10/2019), V qua phòng trọ của M2 lấy xe máy Sirius và lấy chai aicd đã cất giấu trước đó đổ vào ca nhựa rồi lấy dây nilong cột ca nhựa có acild vào baga xe, sau đó V điều khiển xe máy Sirius ra đầu đường H chờ anh T1 đi làm về. Khoảng 22 giờ cùng ngày (ngày 21/10/2019), thấy anh T1 đi làm ra, V điều khiển xe máy Sirius bám theo sau, cầm ca acid lên tay trái và khi đến trước số nhà A H, phường T, Quận G, V điều khiển xe vượt lên bên trái anh T1, dùng tay trái tạt ca acid vào mặt anh T1 rồi nhanh chóng tăng ga tẩu thoát và quăng ca nhựa dọc đường H. Sau đó, V chạy xe về nhà trọ của anh M2 trả xe và lấy xe Attila, biển số 54L3-3042 của V để về nhà.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường, ghi nhận:
Hiện trường là trước nhà số A H, phường T, Q, tiến hành khám nghiệm hiện trường từ phải sang trái, từ trước ra sau ghi nhận: trước nhà số A H, phường T, quận G không có hệ thống đèn chiếu sáng, mặt đường trước nhà trải nhựa đường, có dải phân cách và làn xe dành cho xe môtô và ô tô. Bên trái nhà 1142 là hẻm A. Tại vị trí đầu hẻm A sát mép lề đường ghi nhận xe môtô biển số: 59C2 - 364.88 trong tình trạng ngã về bên phải (vị trí số 1). Kiểm tra bên trong cốp xe không có gì nghi vấn. Cách vị trí bánh sau xe môtô l,3m về phía sau ghi nhận 01 (một) nón bảo hiểm trong tình trạng lật ngửa, bên trong nón bảo hiểm thấy miếng mút có màu đỏ lẫn màu đen và cạnh ngoài miếng mút bị rách loang lổ (vị trí số 2). Cách vị trí bánh sau xe môtô 1m về bên trái ghi nhận 01 (một) áo thun màu trắng xanh (vị trí số 3) có dính một số ít bụi dơ trên mặt đường. Ngoài ra, khám nghiệm không ghi nhận gì thêm. Kết quả khám nghiệm hiện trường không thu giữ gì.
* Ngày 31/01/2020, Trung tâm P2 có Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 59/TgT.20 đối với anh Trần Thanh T1, như sau:
- Dấu hiệu chính qua giám định.
Bỏng vùng đầu mặt cổ, thân, tay chân, bỏng 2 mắt độ IV, đã được điều trị ghép màng ối hai mắt, múc bỏ nội nhãn mắt phải, khâu kín mắt trái, ghép da tự thân, hiện còn:
+ Sẹo xấu vùng đầu mặt cổ, ảnh hưởng thẩm mỹ.
+ Đã múc bỏ nội nhãn mắt phải, khâu kín mi mắt trái.
+ Co kéo biến dạng vành tai, chíp chẹp và viêm ống tai ngoài, đang đặt ống cao su ống tai ngoài trái.
+ Sẹo vùng Lưng vai phải, ngực bụng.
+ Hai sẹo mờ nhỏ tại hố nách sau phải và sẹo tại mặt sau ngoài 1/3 trên cánh tay phải.
+ Các sẹo phẳng tăng giảm sắc tố tại: Mặt trước khuỷu cẳng tay trái. Mặt trước khuỷu cẳng tay phải.
+ Sẹo bỏng và sẹo lấy da ghép tại hai chân.
- Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 95% (chín mươi lăm phần trăm).
- Kết luận khác: thương tích do bị bỏng chất ăn mòn, có nguy hiểm đến tính mạng đương sự.
- Tiến hành cho Nguyễn Kim V chỉ điểm, kết quả:
+ Nguyễn Kim V xác định nơi mua acid để tạt anh Trần Thanh T1 là tại cửa hàng P3, số A P, phường A, Quận E (Chợ K1).
+ Nguyễn Kim V xác định nơi tạt acid anh Trần Thanh T1 là tại trước số nhà A H, phường T, Quận G.
- Tiến hành cho Nguyễn Kim V miêu tả và nhận dạng hình ảnh chai acid mua tại cửa hàng P3, chợ K1 để tạt anh H1, kết quả: V xác định là chai acid loại 500ml, chứa trong chai thủy tinh tối màu, bên ngoài có dòng chữ acid H3 (HCL), có dán nhãn bao bì màu xanh lá cây và màu xanh dương.
2. Vụ thứ 2.
Từ khoảng tháng 05/2021, Nguyễn Kim V bắt đầu làm việc tại Công ty O, do anh Nguyễn Xuân H1 làm tổ phó. Trong công việc, do V cho rằng anh H1 thường xuyên la mắng và nhắc nhở nên V nãy sinh ý định tạt acid anh H1 như lần trước, V lên google tìm hiểu về việc mua acid thì biết được cửa hàng M3 địa chỉ C V, Phường A, Quận E (ở chợ K1) có bán hóa chất này và đã liên hệ mua. Chiều ngày 22/12/2021, V về nhà trọ lấy chiếc xe Nouvo, màu đỏ đen, biển số 51R3 - 7747 của V đi mua ca nhựa, rồi đến cửa hàng H4 (chợ K1) giả vờ mua túi xút (NAOH) với giá 30.000 đồng trước rồi liền hỏi mua acid thì được bán 1 chai acid Nitric (HNO3) loại 500ml với giá 60.000 đồng rồi để vào túi nilong màu đen. Do mục đích mua chai acid để tạt anh H1 nên V đã vứt bỏ túi xút dọc đường.
Khoảng 16 giờ 30 ngày 23/12/2021, sau khi đi làm về, V lấy acid và ca nhựa đã chuẩn bị sẵn rồi điều khiển chiếc Nouvo ra hẻm Đ để đổ acid vào ca nhựa, nhưng trong quá trình đổ acid thì bị trượt tay nên acid đã rơi vào 2 bên đùi của V gây bỏng. Sau khi đổ acid vào ca nhựa xong, V lấy dây cột cố định ca nhựa vào baga xe rồi điều khiển xe đến KCX Tân Thuận để chờ anh H1 đi làm ra. Đến khoảng 18 giờ 30 cùng ngày (ngày 23/12/2021), V thấy anh H1 đi làm ra, nên V cầm ca nhựa chứa acid bằng tay trái chạy xe máy bám theo và khi anh H1 vừa qua cổng KCX Tân Thuận đến trước Công ty O1, đường T, phường T, Quận G thì V điều khiển xe chạy vượt lên bên phải anh H1, dùng tay trái tạt acid vào mặt anh H1 rồi nhanh chóng tẩu thoát và vứt ca nhựa dọc đường và sau đó V điều khiển xe về nhà.
Đối với vết bỏng do rót acid rơi vào V không cho gia đình biết mà tự mua thuốc điều trị nhưng do vết thương bị lở loét nặng, nên ngày 18/01/2022, V đã đến Bệnh viện T4 điều trị.
- Tiến hành khám nghiệm hiện trường, qua đó thu giữ tại hiện trường những đồ vật sau:
+ 01 (một) khẩu trang chất liệu bằng vải có màu trắng đã bị ố vàng.
+ 01 (một) xe gắn máy hiệu Future, biển số 59S2 – 649.45.
- Tiến hành rà soát camera, kết quả: ghi nhận sự việc xảy ra tại trước Công ty O1 - Block A, đường T, phường T, Quận G. kết quả vào lúc 18 giờ 27 phút 07 giây - 18 giờ 29 phút 56 giây ngày 23/12/2021, ghi nhận 01 đối tượng đi xe gắn máy (không rõ biển số) tạt đầu xe nạn nhân đang đi xe hiệu Future, biển số 59S2 – 649.45 làm nạn nhân té trên đường.
- Ngày 23/02/2022, Phòng K2 có Kết luận giám định số: 1143/KLGĐ-H, kết luận: 01 (một) khẩu trang ẩm ướt màu vàng tìm thấy thành phần axit nitric (HNO3).
- Ngày 29/04/2022, Trung tâm P2 có bản kết luận giám định Pháp Y về thương tích số 315/TgT.22 của Nguyễn Xuân H1, kết luận: Bỏng da rải rác vùng mặt phải, tráng,vùng cổ, vai, ngực, bụng, vùng lưng, vùng 2 mắt, vành tai phải…với tỷ lệ thương tích là 50%, các thương tích do hóa chất ăn mòn gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng.
- Tiến hành cho Nguyễn Kim V chỉ điểm, kết quả:
+ Nguyễn Kim V xác định nơi mua ca nhựa đựng acid để tạt anh H1 là tại giao lộ đường A-N-T, Phường G, Quận E.
+ Nguyễn Kim V xác định nơi mua acid để tạt anh H1 là tại: Công ty TNHH S1, số C V, Phường A, Quận E.
+ Nguyễn Kim V xác định nơi vứt túi xút là tại thùng rác trước số E A, Phường I, Quận E.
+ Nguyễn Kim V xác định nơi chiết acid ra ca nhựa để tạt anh H1 là tại trước số A D, Phường B, Quận H.
+ Nguyễn Kim V xác định nơi đứng đợi anh Nguyễn Xuân H1 đi làm ra khỏi Công ty để bám theo tạt acid là tại trước Công ty J, địa chỉ: lô B.28-40 đường T, phường T, Quận G.
+ Nguyễn Kim V xác định nơi tạt acid anh Nguyễn Xuân H1 là tại trước Công ty O1, đường T, phường T, Quận G.
+ Nguyễn Kim V xác định nơi vứt ca nhựa sau khi tạt acid anh H1 là tại bãi đất trống, cạnh nhà số A N, phường T, Quận G, TP . Hồ Chí Minh.
- Tiến hành cho Nguyễn Kim V nhận dạng qua camera, kết quả: Nguyễn Kim V xác định chính V là người điều khiển xe Nouvo nêu trên áp sát anh H1 để tạt acid.
- Tiến hành cho Nguyễn Kim V miêu tả và nhận dạng hình ảnh chai acid mua tại cửa hàng H4, chợ K1 để tạt anh H1, kết quả: V xác định là chai acid loại 500ml, chứa trong chai thủy tinh tối màu, bên ngoài có dòng chữ acid Nitric (HNO3), có dán nhãn bao bì màu xanh lá cây và màu xanh dương.
- Tiến hành cho Nguyễn Kim V nhận dạng người đã bán chai acid trên cho mình để gây án, kết quả: Nguyễn Kim V nhận dạng ra được anh Huỳnh Minh P, là nhân viên bán hàng tại cửa hàng H4 là người trực tiếp bán chai acid trên cho V để tạt anh Nguyễn Xuân H1.
- Tiến hành cho Nguyễn Kim V nhận dạng anh Nguyễn Xuân H1, kết quả: V nhận dạng ra được anh Nguyễn Xuân H1 là người làm chung Công ty O với V và bị V tạt acid vào ngày 23/12/2021.
- Cơ quan CSĐT Công an Q1 đã tiến hành cho Nguyễn Kim V thực nghiệm điều tra, kết quả: Nguyễn Kim V thực hiện được hành vi dùng ca acid tạt anh Nguyễn Xuân H1 gây thương tích phù hợp với nội dung vụ án.
- Qua xác minh tại Bệnh viện T4, được biết: ngày 18/01/2022, Nguyễn Kim V có đến Bệnh viện T4 điều trị bỏng hóa chất ở 2 bên đùi. Qua ghi lời khai, V xác nhận: vết bỏng này là do V trong quá trình chế acid để chuẩn bị tạt anh Nguyễn Xuân H1 vào ngày 23/12/2021 đã văng lên 2 bên đùi của V gây bỏng và đến ngày 18/01/2022, V có đến Bệnh viện để khám, điều trị.
- Ngày 30/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an Q1 đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích trên 2 đùi của Nguyễn Kim V, kết quả ghi nhận: thương tích là 6%, thương tích do hóa chất gây ra.
3. Vụ thứ 3.
Khoảng tháng 5/2022, Nguyễn Kim V làm ở phân xưởng Công ty TNHH O, do anh Trần Minh H2 làm tổ trưởng. Trong công việc, V cho rằng anh M2 H2 thường xuyên la mắng và nhắc nhở nên V nảy sinh ý định trả thù bằng cách tạt acid anh Minh H2. Như lần trước, V điều khiển chiếc Nouvo, màu đỏ đen, biển số 51R3 - 7747 mua ca nhựa, đến cửa hàng H4, tại địa chỉ C V, Phường A, Quận E ở chợ K1 để liên hệ mua acid. Đến ngày 07/05/2022, V xin nghỉ phép và V biết anh M2 H2 ra ca lúc 22 giờ, như các lần trước nên V điều khiển xe máy đến KCX T chờ anh Minh H2 ra ca. Sau khi thấy anh M2 H2 đi làm ra, V cầm ca acid bằng tay trái rồi điều khiển xe máy bám theo và lúc anh Minh H2 ra khỏi cổng KCX Tân Thuận, gần đến ngã ba Huỳnh Tấn P1-N, V chạy vượt lên bên trái anh Minh H2, dùng tay trái tạt acid vào mặt anh M2 H2 rồi nhanh chóng tẩu thoát và vứt ca nhựa dọc đường. Sau đó, V điều khiển xe về nhà.
- Tiến hành khám nghiệm hiện trường, ghi nhận các dấu vết như sau:
Hiện trường nơi tiến hành khám nghiệm là đường dẫn giao lộ Nguyễn Văn L theo hướng từ cổng Khu chế xuất T ra đường H, đi về hướng Quận D, thuộc phường T, Quận G (hướng khám nghiệm). Đây là đoạn đường được trải nhựa bằng phẳng, cong phải, rộng 7,5m. Tiến hành khám nghiệm, ghi nhận các vị trí dấu vết như sau:
+ Vị trí số 1: vết dịch chất lỏng trên mặt đường, vết có kích thước (7,3 x 3,8)m, dạng giọt bắn rải rác chuyển dần sang màu đen khô trên mặt đường. Điểm bắt đầu vết cách lề phải đường dẫn 2,5m.
+ Vị trí số 2: Vị trí áo khoác màu đen trên mặt đường. Áo có kích thước (1,4 x 0,6)m, bị thấm ướt bởi dung dịch (nghi là axit), dịch thấm tràn trên mặt đường liền kề dưới vị trí áo khoác. Áo cách vị trí số 1 là 10m và cách lề phải 0,8m.
+ Vị trí số 3: Xe môtô nhãn hiệu Honda Winner X, màu đen trắng, biển số 59C3 - 258.83 dựng chống nghiêng sát lề phải đường. Trục sau xe môtô cách vị trí số 2 là 5,4m và cách lề phải 0,4m. Trục trước nằm trên mép lề phải đường. Liền kề trên vỉa hè phát hiện 01 khẩu trang vải màu trắng, trong tình trạng thấm dịch, kích thước (18 x 14)cm.
+ Vị trí số 4: Mũ bảo hiểm màu xanh, nhãn hiệu Leopard, kích thước (30 x 25 x 20) cm. Mũ dạng phủ 3/4 đầu, có gắn kính chắn gió. Phần vải mặt trong mũ thấm dịch, biến đổi từ màu đen sang màu cam đỏ rải rác.
+ Vị trí số 5: Vị trí áo sơmi sọc caro đen trắng, dài tay kích thước (60 x 45)cm trên vỉa hè phải đường. Áo trong tình trạng thấm dịch và tạp chất. Áo cách vị trí mũ bảo hiểm là 0,6m. Liền kề phát hiện 1 gọng mắt kính màu đen (bị bung rời 2 mắt kính), kích thước (18 x 5)cm. Gọng kính bị cong vênh, biến dạng.
Ngoài ra, không phát hiện ghi nhận gì thêm, qua đó tạm giữ các đồ vật liên quan của nạn nhân, bao gồm:
+ 01 (một) áo khoác bằng vải, màu đen-cam.
+ 01 (một) gọng kính màu đen.
+ 01 (một) khẩu trang vải, màu trắng
+ 01 (một) áo sơmi sọc trắng đen.
+ 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh.
+ 01 (một) xe gắn máy hiệu Winner X, màu trắng đen, biển số 59C3 – 258.83.
- Tiến hành rà soát camera, kết quả: ghi nhận tại giao lộ H – Nguyễn Văn L có 01 mắt camera “Công viên 1” của KCX Tân Thuận, có góc quay ghi nhận sự việc liên quan.
- Ngày 24/06/2022, Phòng K2 có Kết luận giám định số: 3158/KLGĐ-KTHS, kết luận: trên áo sơmi sọc trắng đen, trên gọng kính màu đen, trên áo khoác bằng vải, màu đen-cam, trên nón bảo hiểm màu xanh tìm thấy thành phần axit nitric (HNO3).
- Ngày 28/06/2022, Trung tâm P2 có bản kết luận giám định Pháp Y về thương tích số 490/TgT.22 của Trần Minh H2, kết luận:
Bỏng da rải rác vùng cằm, cổ trước hai bên, cổ sau trái, mặt sau vành tay trái, vùng ngực, bụng, vùng bẹn trái, vùng mặt trước cánh tay trái, vùng cẳng tay phải, vùng mặt trước đùi, gối trái…với tỷ lệ thương tích là 30%, các thương tích do bỏng nhiệt hoặc bỏng hóa chất ăn mòn gây ra, có nguy hiểm đến tính mạng đương sự.
- Tiến hành cho Nguyễn Kim V chỉ điểm, kết quả:
+ Nguyễn Kim V xác định nơi mua ca nhựa đựng acid để tạt anh M2 H2 là tại giao lộ đường A-N-T, Phường G, Quận E.
+ Nguyễn Kim V xác định nơi mua acid để tạt anh Minh H2 là tại: Công ty S1, số C V, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Nguyễn Kim V xác định nơi vứt túi xút là tại thùng rác trước số D A, Phường C, Quận E.
+ Nguyễn Kim V xác định nơi đổ acid vào ca nhựa để tạt anh Minh H2 là tại trước số A D, Phường B, Quận H.
+ Nguyễn Kim V xác định nơi đứng đợi anh Trần Minh H2 đi làm ra khỏi Công ty để bám theo tạt acid là tại giao lộ góc đường số B - đường số A, đối diện Công ty Đ1, KCX T, phường T, Quận G.
+ Nguyễn Kim V xác định nơi tạt acid anh Trần Minh H2 là tại giao lộ N - H, khu phố B, phường T, Quận G.
+ Nguyễn Kim V xác định nơi vứt ca nhựa sau khi tạt acid anh M2 H2 là tại đối diện số I T, phường T, Quận G.
- Tiến hành cho Nguyễn Kim V nhận dạng qua camera, kết quả: Vinh xác định hình ảnh người thanh niên điều khiển xe tạt anh M2 Hiếu ngày 07/05/2022 chính là Nguyễn Kim V.
- Tiến hành cho Nguyễn Kim V miêu tả và nhận dạng hình ảnh chai acid mua tại cửa hàng H4 để tạt anh H1, kết quả: V xác định là chai acid loại 500ml, chứa trong chai thủy tinh tối màu, bên ngoài có dòng chữ acid Nitric (HNO3), có dán nhãn bao bì màu xanh lá cây và màu xanh dương.
- Qua xác minh được biết: Công ty S1 được sở K3 cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu vào ngày 28/03/2006, ngành nghề kinh doanh là sản xuất, mua bán hóa chất. Ngày 14/05/2021, Công ty S1 được Sở C1 cấp giấy chứng nhận số 155, đủ điều kiện kinh doanh hóa chất sản xuất, kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực công nghiệp. Tuy nhiên, theo danh mục không có loại hóa chất acid Nitric (HNO3). Qua ghi lời khai đại diện Công ty S1 cho biết: việc mua bán hóa chất acid Nitric (HNO3) là không có trong doanh mục, tuy nhiên loại acid này không nằm trong danh mục kinh doanh có điều kiện nên việc mua bán vẫn diễn ra bình thường khi có người hỏi mua, còn mục đích người mua sử dụng vào việc gì thì không rõ.
- Tiến hành cho Nguyễn Kim V nhận dạng người đã bán chai acid trên cho mình để gây án, kết quả: Nguyễn Kim V nhận dạng ra được anh Huỳnh Minh P, là nhân viên bán hàng tại cửa hàng H4 là người trực tiếp bán chai acid trên cho V để tạt anh Trần Minh H2.
- Tiến hành cho Nguyễn Kim V nhận dạng anh Trần Minh H2, kết quả: V nhận dạng ra được anh Trần Minh H2 là người làm chung Công ty O với V và bị V tạt acid vào ngày 07/05/2022.
- Cơ quan CSĐT Công an Q1 đã tiến hành cho Nguyễn Kim V thực nghiệm điều tra, kết quả: Nguyễn Kim V thực hiện được hành vi dùng chai acid tạt anh Trần Minh H2 gây thương tích phù hợp với nội dung vụ án.
4. Vụ thứ 4.
Khoảng tháng 8/2022, Nguyễn Kim V làm công nhân tại bộ phận sửa máy tạo kim may tại tổ số 03, xưởng số 1 của Công ty O do anh Nguyễn Văn M1 làm quản lý, đôn đốc công việc. Khoảng giữa tháng 08/2022, anh M1 gặp Nguyễn Kim V nhắc nhở và phàn nàn về công việc do V làm chậm chạp nên V thù ghét và nảy sinh ý định tạt acid anh M1 để trả thù như các lần trước. Thực hiện ý định trên, V điều khiển chiếc Nouvo màu đỏ đen, biển số 51R3 - 7747 đến đường T, Quận E mua áo mưa, găng tay nhựa, ca nhựa với giá 100.000 đồng và gói lại cất trong cốp xe Nouvo để chuẩn bị gây án. Đến khoảng 13 giờ 30 ngày 28/09/2022, V điều khiển xe Novou đến cửa hàng H4, chợ K1, Quận E gặp một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) mua 1 tú xút (NAOH) và 1 chai acid với giá 60.000 đồng, người đàn ông này đồng ý và đưa cho V 1 túi xút và 1 chai thủy tinh chứa acid Nitric (HNO3) bên trong. Sau đó, V điều khiển xe về đến bên hông nhà số B N, Phường C, Quận E, V đổ acid từ chai thủy tinh vào ca nhựa màu xanh rồi để ca nhựa chứa acid trên ba ga xe và buộc cố định bằng dây kim loại. V tiếp tục điều khiển xe về đến đường N, Quận G thì trời mưa nên V dừng xe lại và mặc áo mưa, đeo găng tay và nhặt 01 áo mưa bị rách, màu xám kẹp vào yên xe phía sau để che biển số xe.
Sau khi chuẩn bị xong, V điều khiển xe đến đường nội bộ KCX Tân Thuận để chờ anh Nguyễn Văn M1 tan ca ra về và khi V đi đến ngã ba đường số A - đường số D thì thấy anh M1 mặc áo mưa điều khiển xe AirBlade, màu đỏ đen, biển số 55P9 - 6474 đi ra khỏi khu chế xuất T hướng ra đường H, Quận G thì V liền điều khiển xe bám theo sau anh M1. Khi đến chân cầu T hướng từ Quận G về Quận D, V dùng tay trái cầm ca acid đang để tại ba ga xe Nouvo, còn tay phải cầm tay ga và tiếp tục chạy bám theo phía sau anh M1 và lúc qua cầu T, đối diện số 488bis N, Phường A, Quận D, V tăng ga áp sát bên phải xe anh M1, cầm ca acid trên tay trái tạt ngang vào mặt, người anh M1 rồi tăng ga bỏ chạy rồi rẽ trái vào đường T, quay đầu xe trở ra đường N đi hướng về Quận G tẩu thoát. Trên đường đi, V ném ca vào thùng rác trên đoạn đường từ trước số C đến C N, Phường A, Quận D và đến đối diện số A N, phường T, Quận G, V tiếp tục ném đôi găng tay cùng áo mưa rách dùng che chắn biển số xe rồi chạy xe hướng về nhà ở Quận H.
Khi về đến gần nhà, V cởi bộ Á đang mặc ném vào thùng rác trên đường D, Phường A, Quận H rồi đi về nhà tại Phòng trọ số A, nhà trọ C D, Phường A, Quận H và khi về nhà V để xe Nouvo sát vào tường phía trước bên ngoài cửa phòng trọ. Sau đó, V tắm rửa, thay đồ và điều khiển xe Attila màu đen, biển số 54L3-3042 của mình đi làm bình thường như thường ngày để mọi người không nghi ngờ V là người tạt acid cho anh M1.
- Kết quả khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Kim V, thu giữ:
+ 01 (một) xe gắn máy hiệu Nouvo màu đỏ đen, biển số: 51R3 – 7747, là xe gắn máy V sử dụng làm phương tiện gây án;
+ 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh, có kính chắn gió, là nón bảo hiểm V đội khi gây án.
+ 01 (một) đôi găng tay cao su màu hồng, 01 (một) bộ áo mưa màu xanh, 03 (ba) ca nhựa màu xanh nghi vấn là công cụ V sử dụng gây án. Sau khi đấu tranh làm rõ V khai nhận các vật dụng này là đồ dùng sinh hoạt gia đình.
+ 01 (một) sổ khám bệnh tên Nguyễn Kim V, thể hiện vào ngày 18/01/2022, V chữa trị tại Bệnh viện T4, địa chỉ: B L, Phường A, Quận A do bị bỏng hóa chất ở đùi;
+ 01 (một) bộ quần áo: quần tây màu đen, áo sơ mi sọc caro là trang phục của Công ty TNHH O.
- Kết quả giám định thương tích của anh Nguyễn Văn M1, ghi nhận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 54%, thương tích trên do bỏng hóa chất gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng đương sự.
- Tiến hành rà soát camera khu vực cầu T, trên tuyến đường hướng về cầu K, Quận D và phối hợp Công an Q1 rà soát mở rộng có 04 camera không ghi nhận hình ảnh nơi xảy ra vụ việc tạt acid nhưng có ghi nhận hình ảnh nạn nhân và đối tượng, như sau:
+ Camera tại cầu T: lúc 16 giờ 35 phút 04 giây: ghi nhận hình ảnh nạn nhân mặc áo mưa màu tối, điều khiển xe lưu thông trên cầu hướng về quận D, lúc 16 giờ 35 phút 54 giây, ghi nhận hình ảnh đối tượng nghi vấn mặc áo mưa bộ, đội nón bảo hiểm màu xanh dương, che kín đầu mặt, mang găng tay màu hồng, tay trái cầm ca màu xanh, điều khiển xe kiểu dáng Novou 3, màu đỏ lưu thông trên cầu, cùng chiều phía sau nạn nhân.
+ 03 camera trên đường N ghi nhận hình ảnh đối tượng nghi vấn tăng ga bỏ chạy về hướng cầu K, trên tay cầm ca màu xanh.
- Tiến hành đưa Nguyễn Kim V chỉ điểm, kết quả:
+ Nơi V tạt acid cho anh M1 là tại đối diện số D B N, Phường A, Quận D.
+ Nơi V mua acid là tại cửa hàng H4, số C V, Phường A, Quận E.
+ Nơi V nhìn thấy bị hại Nguyễn Văn M1 đi làm ra là tại ngã ba Đường số A - Đường số D, KCX T, phường T, Quận G.
+ Nơi V sau khi tạt acid anh M1 đã ném ca nhựa là tại đoạn đường trước số 332 đến C N, Phường A, Quận D.
+ Nơi V ném đôi găng tay và bao ny lon dùng che biển số xe là tại đối diện số A N, phường T, Quận G.
- Tiến hành cho Nguyễn Kim V nhận dạng người đã bán chai acid trên cho mình để gây án, kết quả: Nguyễn Kim V nhận dạng ra được anh Huỳnh Minh P, là nhân viên bán hàng tại cửa hàng H4 là người trực tiếp bán chai acid trên cho V để tạt anh Nguyễn Văn M1.
- Tiến hành cho Nguyễn Kim V nhận dạng anh Nguyễn Văn M1, kết quả: V nhận dạng ra được anh Nguyễn Văn M1 là người làm chung Công ty O với V và bị V tạt acid vào ngày 28/09/2022.
- Đã tiến hành thực nghiệm điều tra, tiến hành cho Nguyễn Kim V diễn tả lại toàn bộ hành vi tạt acid nói trên cho anh Nguyễn Văn M1 phù hợp với nội dung vụ án.
- Tiến hành thu mẫu trên xe gắn máy biển số: 51R3 – 7747 của Nguyễn Kim V gồm: 01 mặt nạ đầu đèn xe, 01 mặt nhựa đồng hồ xe, 02 ốp nhựa màu đen gác chân và tiến hành thu mẫu giám định các dấu vết hư hỏng lớp sơn bên ngoài xe gắn máy biển số 55P9 - 6474 của nạn nhân Nguyễn Văn M1 nghi vấn do acid gây ra cùng quần áo, nón bảo hiểm, đôi dép mà anh M1 sử dụng khi xảy ra vụ việc để tiến hành trưng cầu C09 giám định, kết quả: không phát hiện ghi nhận gì.
Quá trình điều tra, Nguyễn Kim V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.
Tại Cáo trạng số 151/CT-VKS-P2 ngày 04/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Nguyễn Kim Vinh về tội “Giết người” theo các điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2026/HS-ST ngày 20/01/2026 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
Căn cứ các điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm m khoản 1 Điều 52; Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Kim V 20 (hai mươi) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 21/01/2026, bị cáo Nguyễn Kim V có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 03/02/2026, bị cáo Nguyễn Kim V có đơn kháng cáo bổ sung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét toàn bộ nội dung vụ án, kêu oan.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Kim V thừa nhận hành vi phạm tội đã tạt acid vào anh Nguyễn Xuân H1, anh Trần Minh H2, anh Nguyễn Văn M1, không phạm tội đối với vụ tạt acid vào người bị hại Trần Thanh T1. Bị cáo xác định kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì mức án cao.
Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Kim V thừa nhận hành vi phạm tội đã tạt acid vào anh Nguyễn Xuân H1, anh Trần Minh H2, anh Nguyễn Văn M1, không thừa nhận tạt acid vào người bị hại Trần Thanh T1. Tuy nhiên, qua lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của các bị hại, lời khai của những người làm chứng, các kết luận giám định, kết quả thực nghiệm điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở xác định từ tháng 10/2019 đến tháng 9/2022, Nguyễn Kim V đã thực hiện 04 vụ tạt acid vào mặt 04 bị hại, trong đó có anh Trần Thanh T1. Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, xử phạt bị cáo Nguyễn Kim V 20 (hai mươi) năm tù về tội “Giết người” theo điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, là có căn cứ, đúng người đúng tội. Bị cáo kháng cáo không xuất trình tài liệu chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo; nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Kim V, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Về mục đích, động cơ phạm tội, bị cáo V là công nhân người hiền lành, làm việc năng nổ, xuất phát từ mâu thuẫn, muốn dằn mặt, xả giận, hoàn toàn không muốn tước đoạt mạng sống của bị hại. Chất lỏng bị cáo dùng phạm tội không mang tính sát thương cao. Bị cáo tạt acid vào các nạn nhân khi chạy xe, trúng vào tay chân, không chủ đích nhắm vào vùng trọng yếu trên cơ thể, hậu quả chết người không xảy ra, trên thực tế đây không phải là hành vi giết người. Hành vi của bị cáo thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 134 Bộ luật Hình sự. Cấp sơ thẩm xử bị cáo tội “Giết người” là sai tội danh. Ngoài ra, năng lực hành vi dân sự của bị cáo rất hạn chế, bị cáo có tiền sử bệnh tâm thần, có biểu hiện nói nhảm, trầm cảm. Dù chưa có kết luận chính thức từ cơ quan chuyên môn, nhưng những biểu hiện này chứng minh bị cáo bị bế tắc về tâm lý khi gây án, khả năng điều khiển hành vi hạn chế. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, có mẹ già cần chăm sóc. Đặc biệt tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm q, s khoản 1 Điều 51, Điều 134 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 1 (mười hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, tạo điều kiện để bị cáo sớm trở về với gia đình, chuộc lại lỗi lầm, khắc phục hậu quả cho bị hại và tiếp tục có ích cho xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát tranh luận: bị cáo đã dùng acid - là hóa chất độc hại để phạm tội, hậu quả gây ra để lại di chứng vô cùng nặng nề. Về tội danh “Giết người” là có căn cứ, không oan sai. Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên tại phiên tòa phúc thẩm thái độ thật thà khai báo của bị cáo không phải là tình tiết giảm nhẹ mới.
Bị cáo nói lời sau cùng: xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Kim V cho rằng trong quá trình điều tra tại Công an Q2, Quận G bị cáo đã bị ép cung, nhục hình nên buộc phải khai nhận hành vi phạm tội nhưng bị cáo không có chứng cứ nào chứng minh cho lời khai của mình. Do đó, không có căn cứ xác định hành vi tố tụng của cơ quan điều tra, của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có sai phạm.
Về nội dung vụ án: Trong quá trình làm công nhân tại các công ty ở Khu chế xuất T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) chỉ vì lý do bị cáo cho rằng các nhân viên quản lý, tổ trưởng nhắc nhở trong quá trình làm việc, Nguyễn Kim V đã nãy sinh lòng thù ghét nên V đã đến chợ K1, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh mua acid Nitric (HNO3) tại các cửa hàng mua bán hóa chất. Sau đó, V theo dõi các bị hại khi đi làm về để chạy xe máy bám theo và đã tạt thẳng aicd vào người bị hại để trả thù.
Từ tháng 10/2019 đến tháng 9/2022, Nguyễn Kim V đã thực hiện 04 vụ tạt acid, cụ thể như sau: ngày 21/10/2019, V đã tạt a xít vào mặt anh Trần Thanh T1 gây thương tích (qua giám định có tỷ lệ thương tật là 95%); ngày 23/12/2021, V đã tạt acid vào mặt anh Nguyễn Xuân H1 gây thương tích (qua giám định có tỷ lệ thương tật là 50%); ngày 07/5/2022, V đã tạt acid vào mặt anh Trần Minh H2 gây thương tích (qua giám định có tỷ lệ thương tật là 30%) và ngày 28/9/2022, V đã tạt acid vào mặt anh Nguyễn Văn M1 gây thương tích (qua giám định có tỷ lệ thương tật là 54%).
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Kim V kháng cáo kêu oan, bị cáo cho rằng mình không thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Kim V thừa nhận hành vi phạm tội đã tạt acid vào anh Nguyễn Xuân H1, anh Trần Minh H2, anh Nguyễn Văn M1, lúc đầu bị cáo vẫn kêu oan đối với hành vi thực hiện với bị hại Trần Thanh T1, yêu cầu được đối chất với người bán hàng Huỳnh Minh P. Hội đồng xét xử xét thấy:
Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành cho bị cáo V đi xác định địa điểm 04 vụ tạt acid và kết quả bị cáo V đều xác định đúng địa điểm thực hiện xảy ra 04 vụ tạt acid đối với 04 bị hại trong vụ án này; bị cáo V còn xác định được các cửa hàng bán acid, nhận dạng được các chai acid đã mua và còn nhận dạng được anh Huỳnh Minh P người bán acid cho V; bị cáo chỉ điểm được chiếc xe gắn máy Sirius mà bị cáo sử dụng trong vụ tạt acid vào người bị hại T1; Cơ quan điều tra đã thực nghiệm điều tra và đều phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của các bị hại; Cơ quan điều tra đã xác minh tai Bệnh viện T4, qua đó xác định V có đến điều trị vết thương bỏng ở đùi phù hợp với lời khai của V và Kết luận giám định vết bỏng trên đùi V là do hóa chất gây ra; Cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc xe Nouvo tại nhà trọ của bị cáo và xe này phù hợp với chiếc xe khi gây án được camera ghi lại. Kết quả điều tra nêu trên là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và phù hợp với lời khai của các bị hại, người làm.
Như vậy, đã có đủ căn cứ xác định bị cáo V chính là người thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Hành vi phạm tội của bị cáo nêu trên đã gây ra thương tích cho bị hại là phạm vào tội “Giết người” theo quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai. Theo đó không chấp nhận luận cứ bào chữa của Luật sư về việc đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”.
Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét đầy đủ tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ như: Bị cáo Nguyễn Kim V phạm tội “Giết người” nhưng thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã dùng acid để phạm tội, hậu quả gây ra để lại di chứng vô cùng nặng nề, nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “dùng thủ đoạn tàn ác để phạm tội”.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra bị cáo V khai báo thành khẩn, nhưng tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội. Tại phiên tòa phúc thẩm ngay từ đầu nhận thức của bị cáo chưa hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội, chỉ sau khi phân tích xem xét bị cáo mới thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Tuy vậy, trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, rất tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong việc xác định địa điểm tạt acid, xác định các cửa hàng bán acid, nhận dạng được các chai acid đã mua và còn nhận dạng được người bán acid cho bị cáo.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm m khoản 1 Điều 52; Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo với mức án phù hợp, không nặng.
Sau quá trình tranh tụng thẩm vấn công khai tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt nhưng tình tiết này đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét áp dụng giảm nhẹ cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.
Về án phí:
Do Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo nên bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Căn cứ các điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm m khoản 1 Điều 52; Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Kim V, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
2/ Xử phạt: bị cáo Nguyễn Kim V 20 (hai mươi) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2022.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Kim V theo quyết định của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.
3/ Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Kim V phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4/ Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
CÁC THẨM PHÁN
| Đặng Văn Ý Phạm Văn Công | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hòa Hiệp |