vanban.org

Bản án 336/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh Phạm Xuân V về việc xin ly hôn và giao nuôi con chung khi ly hôn đối với chị Nguyễn Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Xử: Anh Phạm Xuân V được ly hôn với chị Nguyễn Thị T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh Phạm Xuân V về việc xin ly hôn và giao nuôi con chung khi ly hôn đối với chị Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN SƠN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 336/2024/HNGĐ-ST
Ngày 30/12/2024
Về việc: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Thu Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đặng Thị Huệ

2. Bà Lộc Thị Kim Thơm

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thảo Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Lương Nguyễn Thảo Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 277/2024/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn và giao nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/11/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 82a/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13/12/2024, giữa:

- Nguyên đơn: Anh Phạm Xuân V, sinh năm 1990

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1997

Cùng địa chỉ: Thôn 19, xã T, huyện Y, tỉnh T.

(Anh V có đơn xin xét xử vắng mặt, chị T vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - anh Phạm Xuân V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình cưới hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 24/12/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Thái Bình, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Theo anh V thì thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường, đến năm 2023 thì mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do tính tình hai bên không hợp, bất đồng quan điểm sống và lối sống, dẫn đến việc anh và chị T sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay. Nay anh xác định vợ chồng đã không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống với nhau nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.

Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị Tcó 02 con chung là Phạm Quỳnh A, sinh ngày 10/10/2014 và Phạm Bảo L, sinh ngày 14/7/2016. Khi ly hôn, anh V yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cả hai con Phạm Quỳnh A và Phạm Bảo L; anh không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung về vay nợ chung: Anh Phạm Xuân V xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng. Tuy nhiên chị Nguyễn Thị T không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án và không có văn bản trình bày ý kiến. Do đó Tòa án không lấy được lời khai và không tiến hành hòa giải được. Anh Phạm Xuân V có đơn từ chối hòa giải đồng thời có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà, anh giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn khi tham gia tố tụng dân sự đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không tham gia tố tụng dân sự; Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Anh Phạm Xuân V và chị Nguyễn Thị T có đăng ký kết hôn ngày 24/12/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Thái Bình, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn không thể hoà giải được. Anh V xác định mâu thuẫn đã trầm trọng và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị T. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử cho anh Phạm Xuân V được ly hôn với chị Nguyễn Thị T. Về con chung: Giao cháu Phạm Quỳnh A, sinh ngày 10/10/2014 và cháu Phạm Bảo L, sinh ngày 14/7/2016 cho anh Phạm Xuân V trực tiếp trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con chung, do anh V không yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết. Về tài sản chung và vay nợ chung, anh V xác định không có nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết. Đề nghị HĐXX tuyên anh Phạm Xuân V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Phạm Xuân V và chị Nguyễn Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn đúng quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Thái Bình, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 24/12/2015. Như vậy quan hệ hôn nhân của anh V và chị T là hợp pháp. Phạm Xuân V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung, do vậy Toà án nhân dân huyện Yên Sơn xác định quan hệ pháp luật là: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Các tài liệu, chứng cứ thể hiện bị đơn – chị Nguyễn Thị T hiện đang cư trú và sinh sống tại thôn 19, xã T, huyện Y, tỉnh T. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ (tống đạt trực tiếp và niêm yết theo đúng quy định của pháp luật) các văn bản tố tụng cho nguyên đơn và bị đơn. Tại phiên toà, anh Phạm Xuân V có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Nguyễn Thị T vắng mặt 02 lần không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

Về yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Xuân V, HĐXX nhận định:

Đối với yêu cầu xin ly hôn với chị Nguyễn Thị T: Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày nhưng không có cách giải quyết dẫn đến sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau; anh V xác định vợ chồng không thể đoàn tụ chung sống với nhau được nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T.

Căn cứ kết quả xác minh tại chính quyền địa phương nơi anh Phạm Xuân V và chị Nguyễn Thị T sinh sống thường xuyên xác định: Anh V và chị T kết hôn từ năm 2015. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị sống chung tại thôn 19, xã T, huyện Y, tỉnh T. Cuộc sống vợ chồng anh chị bình thường đến năm 2023 thì thể hiện mâu thuẫn, nguyên nhân cụ thể dẫn tới mâu thuẫn thì địa phương không nắm được nhưng hiện nay anh chị không còn tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ. Anh V và chị T đã sống ly thân nhiều năm nay.

Quá trình Toà án giải quyết vụ án chị T không gửi văn bản nêu ý kiến của mình, không có mặt theo yêu cầu của Tòa án để tiến hành hòa giải, điều đó cho thấy chị T cũng không có thiện chí hòa giải đoàn tụ với anh V. Từ những căn cứ trên xác định, tình trạng hôn nhân giữa anh V và chị T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Xuân V là chính đáng và có căn cứ (theo quy định tại khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình) nên chấp nhận.

Đối với yêu cầu giao nuôi con chung khi ly hôn: Anh Phạm Xuân V và chị Nguyễn Thị T có 02 con chung là Phạm Quỳnh A, sinh ngày 10/10/2014 và Phạm Bảo L, sinh ngày 14/7/2016. Khi ly hôn anh V có yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cả hai con Phạm Quỳnh A, Phạm Bảo L và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung. Xét nguyện vọng của cả hai cháu Phạm Quỳnh A và Phạm Bảo L đều muốn được ở với bố là anh Phạm Xuân V. Quá trình xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương thấy rằng anh V đang là người trực tiếp nuôi hai con trong thời gian vợ chồng sống ly thân; có công việc và thu nhập ổn định để tiếp tục đảm bảo mọi điều kiện nuôi con. Như vậy giao các con chung của anh chị cho anh V là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử cần được chấp nhận yêu cầu của anh V về việc giao nuôi con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chung, do anh V không yêu cầu nên chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Anh Phạm Xuân V không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vay nợ chung: Anh Phạm Xuân V xác định vợ chồng có vay nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh Phạm Xuân V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; chị Nguyễn Thị Thơm không phải nộp án phí.

Về quyền kháng cáo: Anh Phạm Xuân V và chị Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 264, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh Phạm Xuân V về việc xin ly hôn và giao nuôi con chung khi ly hôn đối với chị Nguyễn Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân:

Xử: Anh Phạm Xuân V được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.

(Giấy chứng nhận kết hôn số 57 quyển số 01/2025 do UBND xã Thái Bình, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang cấp ngày 24/12/2015).

2. Về con chung: Giao 02 con chung là Phạm Quỳnh A, sinh ngày 10/10/2014 và Phạm Bảo L, sinh ngày 14/7/2016 cho anh Phạm Xuân V trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục sau khi ly hôn. Chị Nguyễn Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung (do hiện tại anh V không yêu cầu) và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Phạm Xuân V phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000002098648 ký bởi Công ty cổ phần thanh toán Quốc gia Việt Nam ngày 29/10/2024 tương ứng với Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002194 ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Anh Phạm Xuân V đã nộp đủ án phí của vụ án.

Chị Nguyễn Thị T không phải nộp án phí.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Anh Phạm Xuân V và chị Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên toà, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ