- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh Phạm Xuân V về việc xin ly hôn và giao nuôi con chung khi ly hôn đối với chị Nguyễn Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 336/2024/HNGĐ-ST Ngày 30/12/2024 Về việc: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Thu Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đặng Thị Huệ
2. Bà Lộc Thị Kim Thơm
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thảo Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Lương Nguyễn Thảo Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 277/2024/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn và giao nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/11/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 82a/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13/12/2024, giữa:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Xuân V, sinh năm 1990
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1997
Cùng địa chỉ: Thôn 19, xã T, huyện Y, tỉnh T.
(Anh V có đơn xin xét xử vắng mặt, chị T vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - anh Phạm Xuân V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình cưới hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 24/12/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Thái Bình, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Theo anh V thì thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường, đến năm 2023 thì mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do tính tình hai bên không hợp, bất đồng quan điểm sống và lối sống, dẫn đến việc anh và chị T sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay. Nay anh xác định vợ chồng đã không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống với nhau nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.
Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị Tcó 02 con chung là Phạm Quỳnh A, sinh ngày 10/10/2014 và Phạm Bảo L, sinh ngày 14/7/2016. Khi ly hôn, anh V yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cả hai con Phạm Quỳnh A và Phạm Bảo L; anh không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung về vay nợ chung: Anh Phạm Xuân V xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng. Tuy nhiên chị Nguyễn Thị T không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án và không có văn bản trình bày ý kiến. Do đó Tòa án không lấy được lời khai và không tiến hành hòa giải được. Anh Phạm Xuân V có đơn từ chối hòa giải đồng thời có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà, anh giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn khi tham gia tố tụng dân sự đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không tham gia tố tụng dân sự; Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Anh Phạm Xuân V và chị Nguyễn Thị T có đăng ký kết hôn ngày 24/12/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Thái Bình, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn không thể hoà giải được. Anh V xác định mâu thuẫn đã trầm trọng và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị T. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử cho anh Phạm Xuân V được ly hôn với chị Nguyễn Thị T. Về con chung: Giao cháu Phạm Quỳnh A, sinh ngày 10/10/2014 và cháu Phạm Bảo L, sinh ngày 14/7/2016 cho anh Phạm Xuân V trực tiếp trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con chung, do anh V không yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết. Về tài sản chung và vay nợ chung, anh V xác định không có nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết. Đề nghị HĐXX tuyên anh Phạm Xuân V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Phạm Xuân V và chị Nguyễn Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn đúng quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Thái Bình, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 24/12/2015. Như vậy quan hệ hôn nhân của anh V và chị T là hợp pháp. Phạm Xuân V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung, do vậy Toà án nhân dân huyện Yên Sơn xác định quan hệ pháp luật là: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Các tài liệu, chứng cứ thể hiện bị đơn – chị Nguyễn Thị T hiện đang cư trú và sinh sống tại thôn 19, xã T, huyện Y, tỉnh T. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ (tống đạt trực tiếp và niêm yết theo đúng quy định của pháp luật) các văn bản tố tụng cho nguyên đơn và bị đơn. Tại phiên toà, anh Phạm Xuân V có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Nguyễn Thị T vắng mặt 02 lần không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.
Về yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Xuân V, HĐXX nhận định:
Đối với yêu cầu xin ly hôn với chị Nguyễn Thị T: Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày nhưng không có cách giải quyết dẫn đến sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau; anh V xác định vợ chồng không thể đoàn tụ chung sống với nhau được nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T.
Căn cứ kết quả xác minh tại chính quyền địa phương nơi anh Phạm Xuân V và chị Nguyễn Thị T sinh sống thường xuyên xác định: Anh V và chị T kết hôn từ năm 2015. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị sống chung tại thôn 19, xã T, huyện Y, tỉnh T. Cuộc sống vợ chồng anh chị bình thường đến năm 2023 thì thể hiện mâu thuẫn, nguyên nhân cụ thể dẫn tới mâu thuẫn thì địa phương không nắm được nhưng hiện nay anh chị không còn tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ. Anh V và chị T đã sống ly thân nhiều năm nay.
Quá trình Toà án giải quyết vụ án chị T không gửi văn bản nêu ý kiến của mình, không có mặt theo yêu cầu của Tòa án để tiến hành hòa giải, điều đó cho thấy chị T cũng không có thiện chí hòa giải đoàn tụ với anh V. Từ những căn cứ trên xác định, tình trạng hôn nhân giữa anh V và chị T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Xuân V là chính đáng và có căn cứ (theo quy định tại khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình) nên chấp nhận.
Đối với yêu cầu giao nuôi con chung khi ly hôn: Anh Phạm Xuân V và chị Nguyễn Thị T có 02 con chung là Phạm Quỳnh A, sinh ngày 10/10/2014 và Phạm Bảo L, sinh ngày 14/7/2016. Khi ly hôn anh V có yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cả hai con Phạm Quỳnh A, Phạm Bảo L và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung. Xét nguyện vọng của cả hai cháu Phạm Quỳnh A và Phạm Bảo L đều muốn được ở với bố là anh Phạm Xuân V. Quá trình xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương thấy rằng anh V đang là người trực tiếp nuôi hai con trong thời gian vợ chồng sống ly thân; có công việc và thu nhập ổn định để tiếp tục đảm bảo mọi điều kiện nuôi con. Như vậy giao các con chung của anh chị cho anh V là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử cần được chấp nhận yêu cầu của anh V về việc giao nuôi con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chung, do anh V không yêu cầu nên chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Anh Phạm Xuân V không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vay nợ chung: Anh Phạm Xuân V xác định vợ chồng có vay nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Anh Phạm Xuân V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; chị Nguyễn Thị Thơm không phải nộp án phí.
Về quyền kháng cáo: Anh Phạm Xuân V và chị Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 264, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh Phạm Xuân V về việc xin ly hôn và giao nuôi con chung khi ly hôn đối với chị Nguyễn Thị T.
1. Về quan hệ hôn nhân:
Xử: Anh Phạm Xuân V được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.
(Giấy chứng nhận kết hôn số 57 quyển số 01/2025 do UBND xã Thái Bình, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang cấp ngày 24/12/2015).
2. Về con chung: Giao 02 con chung là Phạm Quỳnh A, sinh ngày 10/10/2014 và Phạm Bảo L, sinh ngày 14/7/2016 cho anh Phạm Xuân V trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục sau khi ly hôn. Chị Nguyễn Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung (do hiện tại anh V không yêu cầu) và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh Phạm Xuân V phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000002098648 ký bởi Công ty cổ phần thanh toán Quốc gia Việt Nam ngày 29/10/2024 tương ứng với Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002194 ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Anh Phạm Xuân V đã nộp đủ án phí của vụ án.
Chị Nguyễn Thị T không phải nộp án phí.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Anh Phạm Xuân V và chị Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên toà, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Yên Sơn (02 bản); - CC THA DS huyện Yên Sơn (để thi hành); - UBND xã Thái Bình, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang (để biết); - Các đương sự (để thi hành); - Lưu HS vụ án; - Lưu TA. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG Phạm Tiến Hào Lộc Thị Kim Thơm Báo cáo xét xử vụ án HNGĐ Quang Hội đồng xét xử sơ thẩm: Thẩm phán Đào Thị Thu Thuỷ Các Hội thẩm nhân dân: Lý Thúy Hà và Lý Thị Nhân - Thư ký: Phạm Kim Tuyến - Kiểm sát viên Nguyễn Thị Linh Các đương sự: - Nguyên đơn: Chị Trần Thanh Nga, sinh năm 1989 Địa chỉ: Thôn 1, xã Đạo Viện, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Có đơn xin xét xử vắng mặt. - Bị đơn: Anh Hoàng Văn Sơn, sinh năm 1988 Quang. NỘI DUNG VỤ ÁN: đăng ký kết hôn ngày 03/5/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Đạo Viện, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn anh chị sinh sống tại dân phố 6, phường Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang. Theo chị Nga thì vợ chồng chung sống bình thường đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn lớn do cách sống hai bên không hòa hợp, luôn xảy ra xung khắc nhất là về làm ăn kinh tế, anh Sơn thường xuyên rượu chè và không tôn trọng gia đình chị. Đỉnh điểm là năm 2018, anh Sơn lao vào cờ bạc không dứt ra được mặc dù hai bên gia đình khuyên can, hậu quả phải bán nhà đất để trả nợ. Do cuộc sống như vậy nên chị đã phải đưa con nhỏ về nhà bố mẹ đẻ chị sinh sống, vợ chồng ly thân từ năm 2018 đến nay không còn liên quan gì đến nhau. Nay chị Trần Thanh Nga xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống không có tương lai, không thể đoàn tụ chung sống được nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn Sơn. tên là Hoàng Ngọc Trâm, sinh ngày 30/11/2009, hiện đang do chị Nga nuôi dưỡng. Chị Nga đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng con chung sau ly hôn, không yêu cầu anh Sơn cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Toà án giải quyết. khai chứng cứ và hoà giải giữa chị Trần Thanh Nga và anh Hoàng Văn Sơn nhưng anh Sơn đều vắng mặt không có lý do. Văn Sơn và chị Trần Thanh Nga được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn, có tổ chức cưới theo phong tục địa phương. Anh chị chung sống tại tổ 6, phường Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang thời gian đầu hạnh phúc, sau khoảng 4-5 năm thì mâu thuẫn, trục trặc do bất đồng trong cuộc sống và làm ăn kinh tế, anh Sơn là lao động tự do công việc không ổn định. Sau đó chị Nga đi làm công nhân ở Thái Nguyên, vợ chồng xa cách nên tình cảm không còn. Khoảng năm 2015 chị Nga chuyển về ở nhà ngoại và đến năm 2020 thì chị chuyển khẩu về Đạo Viện, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Anh chị Sơn – Nga có 01 con chung hiện đang do chị Nga nuôi dưỡng. Anh chị không có tài sản chung gì có giá trị và không thấy vay nợ của ai. Hiện anh Sơn đang đi làm xa không biết địa chỉ chính xác, gia đình có thông báo qua điện thoại cho anh Sơn về giải quyết ly hôn theo các văn bản của Tòa án nhưng vì công việc anh không về được, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Trần Thanh Nga và anh Hoàng Văn Sơn tự nguyện kết hôn, sau đó sinh sống tại tổ 6 (tổ 9 cũ), phường Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang. Đến năm 2015, anh chị mâu thuẫn do anh Sơn có hiện tượng nợ nần do cờ bạc, ngoài ra còn hay uống rượu say dẫn đến vợ chồng thường xuyên xô xát cãi vã. Đầu năm 2018, vợ chồng mâu thuẫn gay gắt nên chị Nga đã đưa con nhỏ Hoàng Ngọc Trâm về sống với nhà bố mẹ đẻ tại thôn 1, xã Đạo Viện, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Từ đó không thấy anh Sơn qua lại thăm nom, nghe nói đi làm ăn xa nhưng không rõ đi đâu, làm gì. Đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu ly hôn của chị Nga theo quy định pháp luật. Trần Thanh Nga sau khi đăng ký kết hôn và tổ chức cưới thì về sinh sống tại tổ dân phố 6, phường Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Cách nay 6 -7 năm thì chị Nga không còn ở tổ 6, phường Hưng Thành nữa còn anh Sơn đi làm xa, nhà thường xuyên khóa cửa. Anh chị Sơn – Nga hiện sống ly thân, chị Nga đã đưa con nhỏ của anh chị về ở tại nhà ngoại. Chính quyền tổ 6 có lần có nhận được phong bì của Tòa án gửi cho anh Sơn nhưng cũng không gặp và chuyển được cho anh Sơn. Anh chị Sơn – Nga không vay nợ các tổ chức của tổ dân phố, về vay nợ khác thì địa phương không nắm được. thông báo của Toà án vì vậy không tiến hành được phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải giữa chị Trần Thanh Nga và anh Hoàng Văn Sơn. tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Xử: Cho chị Trần Thanh Nga được ly hôn anh Hoàng Văn Sơn. 2. Về con chung: Thanh Nga trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục sau khi ly hôn. Anh Hoàng Văn Sơn không phải cấp dưỡng nuôi con chung (do hiện tại chị Nga không yêu cầu). Anh Hoàng Văn Sơn có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. 3. Về án phí: nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0000196 ngày 14/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang. Chị Trần Thanh Nga đã nộp đủ án phí của vụ án. Anh Hoàng Văn Sơn không phải nộp án phí. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Thu Thuỷ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Thu Thủy Hồi 14h ngày 10 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Địa chỉ: Tổ dân phố 6, phường Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Chị Trần Thanh Nga và anh Hoàng Văn Sơn kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có Về con chung: Chị Trần Thanh Nga và anh Hoàng Văn Sơn có 01 con chung Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Trần Thanh Nga xác định chị và anh Hoàng Văn Sơn hiện không có tài sản chung và không vay nợ chung nên không đề nghị Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang đã nhiều lần báo gọi làm việc, tiến hành các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công * Kết quả xác minh với gia đình của anh Hoàng Văn Sơn thể hiện: Anh Hoàng * Kết quả xác minh với gia đình của chị Trần Thanh Nga thể hiện: Năm 2009, chị * Kết quả xác minh với chính quyền cơ sở thể hiện: Anh Hoàng Văn Sơn và chị Do anh Hoàng Văn Sơn không có mặt tại các buổi làm việc theo các giấy báo và Đề xuất hướng xét xử vụ án Áp dụng các Điều 28, 35, 147, 166, khoản 2 Điều 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Xử: Giao con chung là Hoàng Ngọc Trâm, sinh ngày 30/11/2009 cho chị Trần Chị Trần Thanh Nga phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm Thẩm phán báo cáo Đào Thị Thu Thuỷ |