vanban.org

Bản án 336/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 30/11/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Trương Hữu T phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Căn cứ chính? Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 336/2019/HS-PT
Ngày: 30-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh

Các Thẩm phán:

Ông Trần Phước Hội

Bà Nguyễn Thị Võ Trinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhựt Minh - Thư T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp.

- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Hóa - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp xét xử công hai vụ án hình sự phúc th m thụ l số: 233/2019/TLPT-HS ngày 16 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo Trương Hữu T. Do có háng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ th m số: 60/2019/HS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2019 của T a án nh n d n thành phố C.

- Bị cáo có háng cáo: Trương Hữu T, sinh ngày 19XX, tại t nh Đ; Hộ kh u thường trú: Tổ XX, hóm Mỹ H, phường X, thành phố C, t nh Đ; D n tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: XX/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Cha: Trương Văn L; Mẹ: Nguyễn Thị N; Vợ: Cao Thị P; Con: có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: hông; Nh n th n: Ngày 23/10/2001, bị T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp xử phạt 09 tháng tù về tội “Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai”; Tạm giữ, tạm giam: Không; Áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi hỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên t a.

- Người bị hại: Huỳnh Văn T2, sinh năm 19XX (vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp X, xã Thường P, huyện H, t nh Đ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Thành T1, sinh năm 19XX (có mặt);

Nơi cư trú: Tổ XX, ấp H a D, xã Nhị M, huyện C, t nh Đ.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Nguyễn Thành T1 là Luật sư Nguyễn Tấn Tới - Công ty Luật TNHH Luật Hoàng và Cộng sự thuộc đoàn Luật sư t nh Đ ng Tháp (có mặt).

- Người làm chứng: Huỳnh Văn Q, sinh năm 19XX (có mặt);

Nơi cư trú: Ấp X, xã Thường P, huyện H, t nh Đ.

Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI D NG V ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào năm 2014, Huỳnh Văn Q cùng với Nguyễn Thành T1 đi nghĩa vụ qu n sự tại Công an thành phố C nên quen biết nhau.

Năm 2016, khi chu n bị thi Đại học và Trung học Công an thì anh Q nói với anh Thành T1 khả năng sẽ hó thi đậu vào ngành Công an. Do biết bị cáo Trương Hữu T có mối quan hệ quen biết nhiều người nên anh Thành T1 cho số điện thoại của bị cáo Hữu T (số: 0907677109) để Q liên lạc. Qua điện thoại, bị cáo Hữu T cho rằng có quen với Hội đ ng thi Đại học Đ ng Tháp và có thể lo cho anh Q vào ngành Công an với số tiền 100.000.000 đ ng, nhưng Q phải đưa trước 70.000.000 đ ng, hi có ết quả đậu sẽ đưa 30.000.000 đ ng c n lại. Sau đó, anh Q, bị cáo Hữu T và anh Thành T1 gặp nhau tại quán Đỏ Đen, phường X, thành phố C, tại đ y Hữu T vẫn đưa ra vấn đề như trên đối với Q. Nghĩ là bị cáo Hữu T nói thật nên anh Q nói lại sự việc cho cha là ông Huỳnh Văn T2 để xin tiền đưa cho bị cáo Hữu T.

Đến ngày 27/6/2016, tại quán giải hát Sông Trà, thuộc phường X, thành phố C, cùng có mặt ông T2, anh Q, anh Thành T1, bị cáo Hữu T êu ông T2 đưa bị cáo Hữu T 70.000.000 đ ng để đi lo cho anh Q thi đậu vào ngành Công an. Bị cáo Hữu T nhận 70.000.000 đ ng và làm biên nhận nhận tiền, thỏa thuận nếu quá 02 tháng hôngthiđậusẽđónglãi choông T210%.

Đến tháng 12 năm 2016, sau hi biết kết quả trượt cả Đại học và Trung học Công an, ông T2 yêu cầu bị cáo Hữu T trả lại tiền, bị cáo Hữu T êu anh đưa lại giấy nhận tiền 70.000.000 đ ng để bị cáo Hữu T đi lấy tiền trả lại cho ông T2. Tuy nhiên, hi nhận lại biên nhận tiền thì bị cáo Hữu T tắt máy điện thoại, nên ông T2 hông liên lạc được với bị cáo Hữu T.

Đầu tháng 3 năm 2017, anh Q và ông T2 đến nhà của bị cáo Hữu T đ i lại số tiền 70.000.000 đ ng thì bị cáo Hữu T cho biết số tiền trên đã giao cho anh Thành T1 để anh Thành T1 trả lại cho ông T2. Tuy nhiên, anh Thành T1 cho rằng hông có nhận số tiền 70.000.000 đ ng như bị cáo Hữu T nói. Do đó, ngày 20/3/2017, ông T2 làm đơn tố cáo Hữu T đến Công an thành phố C.

Trong quá trình xác minh, giải quyết tin báo của ông T2, bị cáo Hữu T đã giao nộp 01 biên nhận có nội dung là anh Thành T1 có nhận của bị cáo Hữu T 02 lần tiền của Q nhờ nhận giùm là 25.000.000 đ ng và 45.000.000 đ ng, tổng cộng 70.000.000 đ ng, ghi ngày 27/6/2016, có chữ và ghi tên Nguyễn Thành T1 phía dưới mục người nhận, bị cáo Hữu T cho rằng đ y là căn cứ đã trả tiền lại cho ông T2.

Tại kết luận giám định số 519/KL- KTHS ngày 09/9/2017 của Ph ng ỹ thuật hình sự công an t nh Đ ng Tháp, ết luận chữ viết trên biên nhận ghi ngày 26/7/2016 so với chữ viết của Trương Hữu T trên các tài liệu mẫu so sánh là cùng một người viết ra (trừ chữ viết họtên Nguyễn ThànhT1dưới mụcngườinhận).

Tại kết luật số 249/C09-P5, ngày 11/9/2018 của Viện khoa học hình sự Bộ công an, ết luật: Chữ , các chữ “Nguyễn Thành T1” dưới mục “người nhận” trên biên nhận đề ngày 27/6/2016 so với chữ và chữa viết Nguyễn Thành T1 trên các mẫu so sánh là do Nguyễn Thành T1 và viết.

Ngày 30/01/2018, bị cáo Hữu T giao nộp 70.000.000 đ ng cho Cơ quan điều tra Công an thành phố C để trả cho ông T2, ông T2 hông yêu cầu b i thường gì hác.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Hữu T khai nhận: Quen biết anh Thành T1 từ năm 2014, chính anh Thành T1 là người chủ mưu sắp xếp để chiếm đoạt tài sản của ông T2, nhưng do quen biết với anh Q nên anh Thành T1 êu bị cáo Hữu T nói dối việc lo điểm thi vào ngành Công an để lấy 100.000.000 đ ng (đưa trước 70.000.000 đ ng, hi có ết quả đậu sẽ đưa tiếp 30.000.000 đ ng). Xong việc, anh Thành T1 sẽ cho bị cáo Hữu T 10.000.000 đ ng nên bị cáo Hữu T đ ng và làm theo lời anh Thành T1. Khi gặp ông T2 thì bị cáo Hữu T tự hứa nếu trễ hẹn sẽ trả lãi suất 10%, khi nhận được 70.000.000 đ ng thì bị cáo Hữu T ch đưa anh Thành T1 25.000.000 đ ng, giữ lại 45.000.000 đ ng. Đến tháng 12/2016, thì bị cáo T êu anh Q đi chung để lấy tiền, nhưng do anh Q bận trực tại Ng n hàng nên êu anh Q đưa biên nhận cho bị cáo T đi lấy tiền, bị cáo T cầm biên nhận đến quán Cỏi Riêng ở phường X, thành phố C, gặp anh Thành T1. Tại đ y, anh Thành T1 đưa vào 25.000.000 đ ng, bị cáo Hữu T 45.000.000 đ ng, r i anh Thành T1 lấy biên nhận xé bỏ. Bị cáo T điện thoại êu anh Q đến lấy tiền thì anh Q êu đưa cho anh Thành T1 nên bị cáo T đưa 70.000.000 đ ng cho anh Thành T1 giữ và bị cáo T viết biên nhận đưa anh Thành T1 , nội dung biên nhận ghi ngày 27/6/2016 như đã nêu trên.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 60/2019/HS-ST ngày 30/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố C đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Trương Hữu T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174 và điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trương Hữu T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày chấp hành hình phạt tù.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 09 tháng 8 năm 2019, bị cáo Trương Hữu T có đơn háng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Ngày 21 tháng 8 năm 2019, bị cáo Trương Hữu T có đơn háng cáo bổ sung yêu cầu xem xét tình tiết bị cáo ch là người được anh Thành T1 nhờ nhận tiền dùm, sau đó bị cáo đã đưa tiền lại cho anh Thành T1 nhận xong, anh Thành T1 có vào biên nhận, giám định là chữ của anh Thành T1 nên bị cáo là người thực hành c n anh Thành T1 là chủ mưu. Bị cáo bị xét xử tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với vai tr chính, c n Thành T1 thì T a án và Viện kiểm sát cấp sơ th m cho rằng hông liên quan trong việc nhận tiền của Q, T2. Thành T1 đã nhận tiền của bị cáo, có liên quan đến vụ án lại hông xử l trong vụ án này mà tách ra giải quyết bằng vụ án d n sự hác là hông công bằng cho bị cáo. T a án nh n d n thành phố C chưa xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thật thà hai nhận hành vi vi phạm của mình, khắc phục xong số tiền cho bị hại được người bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xin qu T a, qu Viện xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

Tại phiên t a, bị cáo Trương Hữu T bổ sung háng cáo yêu cầu Hội đ ng xét xử làm rõ hành vi của anh Nguyễn Thành T1 để xác định anh Thành T1 có đ ng phạm với bị cáo hay hông vì khi nhận được 70.000.000 đ ng thì bị cáo ch đưa anh Thành T1 25.000.000 đ ng, giữ lại 45.000.000 đ ng. Đến tháng 12/2016, khi Q đ i lại tiền thì bị cáo êu anh Q đi chung để lấy tiền, nhưng do anh Q bận trực tại Ng n hàng nên bị cáo êu anh Q đưa biên nhận cho bị cáo đi lấy tiền, bị cáo cầm biên nhận đến quán Cỏi Riêng ở phường X, thành phố C, gặp anh Thành T1. Tại đ y, anh Thành T1 đưa vào 25.000.000 đ ng, bị cáo Hữu T cũng đưa ra 45.000.000 đ ng, r i anh Thành T1 lấy biên nhận xé bỏ. Bị cáo T điện thoại êu anh Q đến lấy tiền thì anh Q êu đưa cho anh Thành T1 nên bị cáo T đưa 70.000.000 đ ng cho anh Thành T1 giữ và bị cáo T viết biên nhận đưa anh Thành T1 , nội dung biên nhận ghi ngày 27/6/2016. Như vậy, bị cáo ch giữ 45.000.000 đ ng chứ hông phải 70.000.000 đ ng và ngay hi ông T2 và Q đ i lại tiền thì bị cáo trả ngay nhưng tiền hông đến Q và ông T2 là do Thành T1 hông đưa lại cho Q và ông T2. Bị cáo Hữu T đã giao nộp biên nhận ghi ngày 27/6/2016, có chữ nhận của anh Thành T1 và cho rằng đ y là căn cứ đã trả tiền lại cho ông T2 cũng như chứng minh cho việc anh Thành T1 có liên quan với bị cáo trong vụ lừa đảo ông T2.

Tại phiên t a, vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Trương Hữu T bị T a án cấp sơ th m quy ết về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c hoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Xét mức hình phạt 02 năm 06 tháng tù mà T a án cấp sơ th m tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ và hậu quả từ hành vi phạm tội của bị cáo g y ra. Bị cáo háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo nhưng hông cung cấp thêm được tình tiết nào mới có cơ sở để xem xét cho bị cáo ngoài các tình tiết giảm nhẹ đã được T a án cấp sơ th m xem xét, giải quyết. Việc bị cáo Hữu T yêu cầu anh Thành T1 có trách nhiệm trả lại cho bị cáo số tiền 70.000.000 đ ng, án sơ th m tách ra giải quyết bằng một vụ án d n sự hác tại T a án có th m quyền theo quy định, khi bị cáo Hữu T có đơn yêu cầu là có căn cứ. Do đó, đề nghị Hội đ ng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, hông chấp nhận háng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo, giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ th m.

Trong phần tranh luận, bị cáo Trương Hữu T cho rằng T a án cấp sơ th m ch xử phạt một mình bị cáo là bỏ lọt tội phạm và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là quá nặng. Bị cáo ch giữ 45.000.000 đ ng r i trả lại chứ bị cáo hông chiếm đoạt, xin Hội đ ng xét xử phúc th m xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thành T1 hông có kiến tranh luận.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Nguyễn Thành T1 phát biểu quan điểm thống nhất với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên t a. Đ ng thời, cho rằng trong quá trình điều tra cũng như tại các phiên t a sơ, phúc th m, bị cáo Hữu T cũng xác định là hông có chứng cứ xác định Thành T1 là người chủ mưu. Bị cáo là người trực tiếp nhận tiền từ bị hại và ngay cả khi có ết quả anh Q thi trượt, bị cáo c n êu anh Q tiếp tục lo việc chấm phúc khảo. Bị cáo Hữu T khai Thành T1 là chủ mưu, nhưng bị cáo Hữu T khai ch giao cho anh Thành T1 25.000.000 đ ng, lời trình bày của bị cáo có sự m u thuẫn. Đối với biên nhận bị cáo xuất trình tại cơ quan điều tra để chứng minh cho việc anh Thành T1 có liên quan thì biên nhận này hông đ ng nhất, có viết thêm vào nội dung biên nhận. Bị cáo háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo nhưng hông có tình tiết gì mới. Đề nghị Hội đ ng xét xử hông chấp nhận háng cáo của bị cáo, giữ y án sơ th m.

NH N Đ NH ỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên t a bị cáo Trương Hữu T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đ ng thời bị cáo cũng cho rằng chính anh Thành T1 là người chủ mưu sắp xếp để chiếm đoạt tài sản của ông T2, nhưng do quen biết với anh Q nên anh Thành T1 êu bị cáo Hữu T nói dối việc lo điểm thi vào ngành Công an để lấy 100.000.000 đ ng (đưa trước 70.000.000 đ ng, hi có ết quả đậu sẽ đưa tiếp 30.000.000 đ ng); xong việc, anh Thành T1 sẽ cho bị cáo Hữu T 10.000.000 đ ng nên bị cáo Hữu T đ ng và làm theo lời anh Thành T1. Khi gặp ông T2 thì bị cáo Hữu T tự hứa nếu trễ hẹn sẽ trả lãi suất 10%, khi nhận được 70.000.000 đ ng thì bị cáo Hữu T ch đưa anh Thành T1 25.000.000 đ ng, giữ lại 45.000.000 đ ng. Đến tháng 12/2016, thì bị cáo T êu anh Q đi chung để lấy tiền, nhưng do anh Q bận trực tại Ng n hàng nên êu anh Q đưa biên nhận cho bị cáo T đi lấy tiền, bị cáo T cầm biên nhận đến gặp anh Thành T1. Tại đ y, anh Thành T1 đưa vào 25.000.000 đ ng, bị cáo Hữu T 45.000.000 đ ng, r i anh Thành T1 lấy biên nhận xé bỏ. Bị cáo T điện thoại êu anh Q đến lấy tiền thì anh Q êu đưa cho anh Thành T1 nên bị cáo T đưa 70.000.000 đ ng cho anh Thành T1 giữ và bị cáo T viết biên nhận đưa anh Thành T1 , nội dung thể hiện tại biên nhận ghi ngày 27/6/2016. Bị cáo thực hiện hành vi nêu trên là do anh Thành T1 êu bị cáo thực hiện để được anh Thành T1 cho bị cáo 10.000.000 đ ng, do ham lợi nên bị cáo thực hiện. Việc T a án cấp sơ th m ch xử phạt một mình bị cáo là bỏ lọt tội phạm và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là quá nặng. Bị cáo xin Hội đ ng xét xử phúc th m xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo đ ng thời xem xét lại hành vi của anh Nguyễn Thành T1.

[2] Hội đ ng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã x m phạm đến tài sản thuộc sở hữu của người hác một cách trái pháp luật. Hành vi đó đã g y xôn xao dư luận, g y hoang mang trong quần chúng nh n d n, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe để lao động ch n chính tạo ra thu nhập nuôi sống bản th n. Ch vì động cơ tư lợi, muốn nhanh chóng có được tiền để tiêu xài cá nh n nên bị cáo đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối bằng cách bị cáo cho rằng có quen với Hội đ ng thi Đại học Đ ng Tháp và có thể lo cho anh Q thi đậu vào ngành Công an với số tiền 100.000.000 đ ng, đưa trước 70.000.000 đ ng, hi có ết quả đậu sẽ đưa tiếp 30.000.000 đ ng. Khi gặp ông T2 là cha ruột của Q, bị cáo Hữu T tự hứa nếu trễ hẹn sẽ trả lãi suất 10%, làm cho ông T2 tin tưởng đưa cho bị cáo 70.000.000 đ ng để lo cho anh Q thi đậu vào ngành Công an. Sau khi biết kết quả anh Q thi trượt, ông T2 và anh Q đ i lại tiền, bị cáo Hữu T gặp anh Q êu đưa lại cho bị cáo biên nhận nhận tiền để bị cáo đi lấy tiền trả lại ông T2. Tuy nhiên, hi nhận lại biên nhận nhận tiền, bị cáo tắt máy điện thoại để ông T2 hông liên lạc được với bị cáo, chiếm đoạt số tiền đã nhận của ông T2.

Trong vụ án này, bị cáo Trương Hữu T là người trực tiếp hứa hẹn với ông T2 sẽ lo cho anh Q thi đậu đại học hoặc trung cấp công an và bị cáo cũng là người trực tiếp nhận tiền của ông T2. Sau khi nhận được tiền, bị cáo hông thực hiện như những gì đã hứa với ông T2 cũng hông trả lại số tiền như đã hứa. Với những chứng cứ và luận cứ nêu trên đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Khi thực hiện hành vi, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật và sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Chứng tỏ hành vi của bị cáo là cố trực tiếp và tội phạm đã hoàn thành.

[3] T a án cấp sơ th m đã xét xử bị cáo Trương Hữu T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, bị cáo Hữu T có yêu cầu giám định chữ , các chữ “Nguyễn Thành T1” dưới mục “người nhận” trên biên nhận ngày 27/6/2016. Thế nhưng, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cấp sơ th m hông trưng cầu giám định chữ , các chữ “Nguyễn Thành T1” dưới mục “người nhận” trên biên nhận này ở cơ quan giám định cao hơn theo yêu cầu của bị cáo T mà tiếp tục truy tố bị cáo với quan điểm cho rằng: ... “trong trường hợp này giám định chữ viết và chữ trong biên nhận của Nguyễn Thành T1 ch xác định vai tr đ ng phạm của Nguyễn Thành T1 chứ hông ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của Trương Hữu T”.

T a án nh n d n thành phố C đã trưng cầu giám định lại biên nhận nêu trên. Tại kết luật số 249/C09-P5, ngày 11/9/2018 của Viện khoa học hình sự Bộ công an, ết luật: Chữ , các chữ “Nguyễn Thành T1” dưới mục “người nhận” trên biên nhận đề ngày 27/6/2016 so với chữ và chữ viết Nguyễn Thành T1 trên các mẫu so sánh là do Nguyễn Thành T1 và viết. T a án cấp sơ th m đã trả h sơ vụ án để điều tra bổ sung làm rõ hành vi của Nguyễn Thành T1 có đ ng phạm với bị cáo Hữu T hay hông nhưng Viện kiểm sát cho rằng hông có chứng cứ Nguyễn Thành T1 đ ng phạm lừa đảo với bị cáo Hữu T.

Cấp sơ th m đã xét xử vụ án với nhận định (BL304) “ hông có tài liệu, chứng cứ chứng minh anh Thành T1 là người chủ mưu, đề xuất” mà chưa xem xét anh Thành T1 có đ ng phạm với bị cáo hay hông trong hi đã có ết quả giám định là có sự m u thuẫn trong việc đánh giá chứng cứ. Mặt hác, cấp sơ th m chưa làm rõ mối quan hệ giữa bị cáo Hữu T và anh Thành T1 cũng như khả năng lo cho người hác vào Đại học và Trung học Công an của hai người. Điều này thể hiện ở việc cơ quan điều tra chưa lấy lời khai của anh T3 và anh H là hai người bạn mà anh Thành T1 khai rằng có cùng anh Thành T1 nhờ bị cáo Hữu T lo vào Đại học và Trung học Công an thông qua ông Huỳnh Hùng P1. Cơ quan điều tra cũng chưa cho bị cáo T được đối chất với ông Huỳnh Hùng P1 để làm rõ. Hơn nữa, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên t a sơ th m, phúc th m, anh Thành T1 trình bày là bản th n anh cũng có nhờ bị cáo Hữu T lo cho anh thi đậu vào ngành công an, bị cáo yêu cầu anh Thành T1 đưa trước 45.000.000 đ ng và anh Thành T1 đã đưa cho bị cáo số tiền 45.000.000 đ ng. Sau hi có ết quả thi, anh cũng bị trượt, nên bị cáo Hữu T đã trả lại cho anh số tiền 45.000.000 đ ng này, khi nhận lại tiền, bị cáo Hữu T có viết biên nhận với nội dung là anh Thành T1 có nhận của bị cáo Hữu T 45.000.000 đ ng đưa cho anh Thành T1 , hông có nội dung nào hác. Anh Thành T1 yêu cầu giám định phần chữ viết trên biên nhận ngày 27/6/2016 do nghi ngờ bị cáo Hữu T viết thêm nội dung vào vì có hai màu mực. Đ y cũng là căn cứ để xác định sự thật hách quan của vụ án, xác định anh Thành T1 có nhận bao nhiêu hoản tiền, ngu n tiền gì từ bị cáo Hữu T để xác định anh Thành T1 có đ ng phạm với bị cáo hay hông cũng như xác định quan hệ pháp luật d n sự giữa anh Thành T1 và bị cáo Hữu T, nhưng cấp sơ th m lại hông chấp nhận mà lại cho rằng hông có đủ căn cứ để xem xét giải quyết trong vụ án này nên tách ra giải quyết bằng một vụ án d n sự hác tại T a án có th m quyền theo quy định, khi bị cáo Hữu T có đơn yêu cầu. Việc tách ra như vậy là hông phù hợp vì chưa làm rõ số tiền thể hiện trên biên nhận là hoản tiền gì, việc giao nhận tiền giữa bị cáo và anh Thành T1 là quan hệ d n sự hay giao nhận số tiền chiếm đoạt; trong khi nếu bị cáo Hữu T trả lại tiền cho anh Thành T1 do bị cáo hông lo cho anh Thành T1 thi đậu vào ngành công an được như anh Thành T1 trình bày thì l do gì hi nhận lại tiền, anh Thành T1 phải biên nhận với bị cáo.

Mặt hác, anh Nguyễn Thành T1 là người giới thiệu, cho số điện thoại của bị cáo Hữu T cho anh Q. Lúc anh Q và bị cáo Hữu T gặp nhau ở quán cà phê để bàn bạc về việc lo vào Đại học và Trung học Công an thì cũng có mặt Thành T1. Lúc bị cáo Hữu T nhận 70.000.000 đ ng từ ông T2 thì Thành T1 cũng có mặt và

tên vào biên nhận và lúc bị cáo T trả tiền cho Q thì anh Thành T1 lại nhận thay Q trong khi Q hông yêu cầu Thành T1 nhận thay. Cấp sơ th m chưa làm rõ vai tr của anh Thành T1, điều này cho thấy có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra, tại phiên t a sơ th m, phúc th m, bị cáo đã thành h n hai báo về hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải. Đ y là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng cấp sơ th m chưa xem xét cho bị cáo là thiếu sót.

Xét thấy, cấp sơ th m đã có vi phạm về áp dụng pháp luật nội dung và có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm như đã nêu trên nên cần phải hủy toàn bộ bản án sơ th m để điều tra, xét xử lại theo thủ tục chung. Chính vì vậy, Hội đ ng xét xử hông thống nhất với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[4] Do hủy toàn bộ bản án sơ th m nên hông xem xét háng cáo của bị cáo. Bị cáo Trương Hữu T hông phải chịu án phí hình sự phúc th m.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ vào điểm a hoản 1, điểm đ hoản 2 Điều 358 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Hủy toàn bộ bản án hình sự sơ th m số 60/2019/HS-ST ngày 30/7/2019 của T a án nh n d n thành phố C. Chuyển toàn bộ h sơ vụ án cho cấp sơ th m để điều tra, xét xử lại theo thủ tục chung.

Giao toàn bộ h sơ vụ án cho Viện kiểm sát nh n d n thành phố C để điều tra, xét xử lại theo thủ tục chung.

Do hủy toàn bộ bản án sơ th m nên hông xem xét háng cáo của bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Trương Hữu T hông phải chịu án phí hình sự phúc th m.

Bản án phúc th m này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ