vanban.org

Bản án 335/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị A đối với ông Đinh Văn T về việc "Ly hôn". Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị A ly hôn Đinh Văn Th"
  • Tòa quyết gì? Căn các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình xác định quan hệ pháp luật tranh
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 335/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11/9/2023
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bàng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Khánh

Ông Trần Đức Hiếu

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Thoảng - Thư ký, Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thùy Linh – kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 213/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2023 về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/8/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 119/2023/QĐHPT-HNGĐ ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị A, sinh năm: 1958; địa chỉ: đường B, phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Đinh Văn T, sinh năm: 1959; địa chỉ: đường B, phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/6/2023, bản tự khai đề ngày 31/7/2023 và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn là bà Trần Thị A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị A và ông Đinh Văn T xây dựng gia đình, có đăng ký kết hôn tại UBND phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chung sống với nhau từ năm 1983 sau đó mới đăng ký kết hôn và sống chung đến nay. Quá trình chung sống vợ chồng đã trải qua nhiều nơi sinh sống làm ăn và hiện sống chung tại phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống có nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Nguyên nhân do tính tình, quan điểm sống không hòa hợp, không có tiếng nói chung, không còn quan tâm nhau nữa. Mâu thuẫn kéo dài nhiều năm và ngày càng trầm trọng không giải quyết được. Vợ chồng đã sống ly thân, phần ai nấy sống từ năm 2021 đến nay, không ai còn quan tâm chăm sóc đến nhau, vợ chồng không còn tình nghĩa, không thể hàn gắn được nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Đinh Văn T.

- Về quan hệ con chung: Bà A và ông T có 01 con chung tên là Đinh Văn H, sinh ngày: 19/11/1998. Con đã trên 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn Đinh Văn T: mặc dù đã được Tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông T đều vắng mặt, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không đến Tòa án để làm việc, vắng mặt không có lý do và không văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị A.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật. Đối với các đương sự: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quan điểm giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị A đối với ông Đinh Văn T.

Về nuôi con chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

Về án phí: Bà Trần Thị A thuộc diện người cao tuổi được miễn án phí HNGĐ sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ

vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Trần Thị A khởi kiện bị đơn là ông Đinh Văn T để yêu cầu ly hôn. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn”; bị đơn có địa chỉ nơi cư trú tại phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ theo quy định.

[1.2] Nguyên đơn bà Trần Thị A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn.

Bị đơn Ông Đinh Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Đinh Văn T.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị A và ông Đinh Văn T xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng vào ngày 11/12/2017 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Trước khi đăng ký kết hôn, ông bà đã sống chung với nhau từ năm 1983, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến những năm gần đây thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân theo bà A xác định là do tính tình, quan điểm sống không phù hợp, không có tiếng nói chung, ông A thường xuyên chửi bới, cằn nhằn không thể giải quyết được, vợ chồng không còn quan tâm nhau nữa. Vợ chồng không thể giải quyết mâu thuẫn nên đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay bà A xác định không còn tình cảm, yêu thương ông T nữa, không ai còn quan tâm chăm sóc đến nhau, vợ chồng không còn tình nghĩa nên bà Trần Thị A yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Đinh Văn T

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa để cho Đinh Văn T có ý kiến trình bày nhưng ông T đều vắng mặt, không tham gia tất cả các phiên hòa giải. Tại phiên tòa ngày 29/8/2023 cũng như tại phiên tòa hôm nay ông Đinh Văn T vẫn không có mặt và không có văn bản phản hồi ý kiến. Điều đó thể hiện ông T không có thiện chí hàn gắn tình cảm, xây dựng hạnh phúc gia đình và từ bỏ việc trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị A.

Qua xác minh tại tổ dân phố nơi ông Đinh Văn T đang sinh sống, thuộc phường H, quận C xác định được ông Đinh Văn T và bà Trần Thị A hiện nay sống chung nhưng phần ai nấy sống, vợ chồng thường xuyên cãi vả, mâu thuẫn, lục đục kéo dài và có báo chính quyền địa phương biết.

Với những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà A và ông T đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà A đối với ông Đinh Văn T là phù hợp.

Về con chung: Bà A và ông T có với nhau 01 con chung tên là Đinh Văn H, sinh ngày: 19/11/1998 đã trên 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đề cập.

Án phí Hôn nhân gia đình: Bà Trần Thị A thuộc diện người cao tuổi nên được miễn án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị A đối với ông Đinh Văn T về việc "Ly hôn".

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị A được ly hôn ông Đinh Văn T. (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 129, đăng ký ngày 11/12/2017 tại UBND phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng).

2. Về con chung: Bà A và ông T có 01 con chung tên là Đinh Văn H, sinh ngày: 19/11/1998 đã trên 18 tuổi, bà A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí HNGĐ-ST: Bà Trần Thị A thuộc diện người cao tuổi nên được miễn án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

5. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ