- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh C - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh C phạm tội cƣớp tài sản và bắt ngƣời trái pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 335/2022/HS-ST Ngày 11-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ;
2. Bà Phạm Tú Nhi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Phƣơng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2022 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 320/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 324/2022/QĐXXST-HS ngày 27/10/2022 đối với bị cáo:
Lê Thanh C, sinh năm 1991 tại tỉnh Sóc Trăng; thƣờng trú: Ấp số 1, xã Đ, huyện K, tỉnh S; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lê Văn T, sinh năm 1950 và bà Trƣơng Thị H, sinh năm 1953; bị cáo có 05 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1989; bị cáo chƣa có vợ con; bị bắt tạm giam từ ngày 29/6/2022; tiền án, tiền sự: Không. Có mặt.
Người bào chữa: Luật sƣ Đồng Ngọc V, Văn phòng luật sƣ Đồng Văn thuộc đoàn luật sƣ tỉnh B. Có mặt.
- Bị hại: Chị Trần Thị Huyền T, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ 4, ấp 3, xã P, huyện T, tỉnh Đ; địa chỉ liên hệ: 243/17 khu phố B, phƣờng B, thành phố T, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê Thanh N, sinh năm 1986; thƣờng trú: Ấp số 1, xã Đ, huyện K, tỉnh S. Có mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Hoài N; vắng mặt.
+ Anh Lê Chí C; vắng mặt.
+ Anh Hồ Văn D; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 04/01/2011, Lê Thanh C, Nguyễn Hoài N, Lê Chí C, Hồ Văn D cùng với N, C, T (chƣa rõ lai lịch) nhậu chung tại quán lẩu “Chí Phèo” trong khu dân cƣ C thuộc khu phố B, phƣờng B, huyện T (nay là thành phố T), tỉnh B. Lê Thanh C nói cho cả nhóm nghe trƣớc đây làm chung với chị Trần Thị Huyền T, chị T có nhiều tài sản. C rủ cả nhóm chặn đƣờng chị T khi đi làm về, khống chế đƣa vào vƣờn tràm thuộc khu phố B, huyện T chiếm đoạt tài sản. D không đồng ý và nói “tụi bây làm gì thì làm tao không biết”. C nói T về lấy thêm xe mô tô để làm phƣơng tiện. C đƣa cho C 01 cây roi điện, đƣa cho N, C một cây kềm cắt loại nhỏ. N, C mang theo 01 con dao Thái Lan. Khoảng 15 phút sau, T chạy xe môtô loại WaveS màu xanh (không rõ biển số) đến. Từ khu dân cƣ Chung Quý, C điều khiển xe cúp 50 màu xanh (không rõ biển số), N chở C bằng xe của T; N, C đi xe Wave màu đỏ đen (không rõ biển số) của N chạy đến đƣờng M, phƣờng A, T đứng chờ chị T đi làm về. Khi cả nhóm đi khỏi, D đến khách sạn Ngọc Lan thuê phòng ngủ.
Khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, chị T điều khiển xe Wave biển số 61Z3 - 4598 chạy ngang qua. Thấy chị T, Ca chỉ cho cả nhóm biết, còn C quay về khu dân cƣ Chung Quý. Từ đƣờng M, N, C, N, C đi 02 xe mô tô chạy theo sau xe chị T. Khi đi đến trƣớc cổng văn hóa khu phố T, phƣờng T, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dƣơng, N cho xe chạy vƣợt lên ép đầu xe chị T, chị T dừng xe lại. N, C cũng chạy đến chặn phía sau. Tại đây, C xuống xe nói với chị T “có ngƣời mƣớn tụi tôi bắt chị, chị theo tui đi nói chuyện 01 tí”. Chị T hoảng sợ lấy điện thoại ra định gọi cho ngƣời thân nhƣng C không cho nên chị T cất điện thoại vào túi quần. Công kêu chị T lên xe chở đi nhƣng chị T không đồng ý. Lúc này, Công dùng roi điện chích vào ngƣời chị T và cùng với Núi ôm chị T bỏ lên xe mô tô. Nam thò tay vào túi quần chị T lấy 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 5130c. Sau khi khống chế đƣợc chị T lên xe, Nam và Công chở chị T đến khu vực vƣờn tràm thuộc khu phố Bình Phƣớc B, phƣờng Bình Chuẩn, thị xã Thuận An (nay là thành phố Thuận An). Chớp chiếm đọat xe Wave của chị T chạy theo sau. Tại vƣờn tràm, N dùng kềm cắt 14 chiếc vòng ximen bằng vàng 18k của chị T đang đeo trên tay. Chiếm đoạt tài sản xong cả nhóm về lại khu dân cƣ Chung Quý, N đƣa bộ vòng của chị T cho C giữ còn C mang xe của chị T đến phòng trọ của D cất giấu. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, C đến khách sạn N trong khu dân cƣ Chung Quý đƣa cho D cất giữ 13 chiếc vòng ximen bằng vàng. N chở D xuống bến xe Miền Đông. Tại đây, N ngồi uống nƣớc trƣớc cổng bến xe chờ, D đi đến tiệm vàng (không rõ địa chỉ) bán 13 chiếc vòng đƣợc 13.500.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, cả nhóm tập trung tại phòng trọ của D. N nói bán bộ vòng đƣợc 13.500.000 đồng trừ chi phí đi đƣờng còn lại 13.000.000 đồng và chia cho N 2.000.000 đồng, C 2.000.000 đồng, C 2.000.000 đồng, C 2.000.000 đồng, T 2.000.000 đồng, còn lại 3.000.000 đồng N giữ. Cả nhóm mỗi ngƣời bỏ ra 200.000 đồng (tổng cộng 1.000.000 đồng) đƣa cho D. Chiếc vòng còn sót lại, khoảng 01 tuần sau, N và C đến khách sạn N tìm đƣợc. Sau đó, C mang đến 01 tiệm vàng (không rõ hiệu) ở khu vực chợ A, thuộc phƣờng A, thành phố T bán đƣợc 925.000 đồng và sử dụng số tiền trên cùng đồng phạm ăn nhậu hết.
Ngày 05/01/2011, C điều khiển xe mô tô biển số 61Z3 – 4598 về L tìm nơi tiêu thụ, nhƣng không đƣợc nên mang về khu dân cƣ C bán cho 01 thanh niên không rõ lai lịch đƣợc 5.000.000 đồng; C lấy ra 500.000 đồng ăn nhậu, số tiền còn lại chia đều cho C, N, C mỗi ngƣời 1.500.000 đồng.
Theo biên bản kết luận định giá số 84 ngày 04/5/2011 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An: Vàng 18 Kara (trọng lƣợng 08 chỉ) trị giá thực tế 18.500.000 đồng, xe mô tô hiêu Wave biển số 61Z3-4598 trị giá 15.000.000 đồng, điện thại di động Nokia 5130 C trị giá 800.000 đồng; tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 34.300.000 đồng.
Tại cáo trạng số 351/CT-VKS ngày 20 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Lê Thanh C về các tội “Cƣớp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tội “Bắt ngƣời trái pháp luật” quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Lê Thanh C mức án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 123; điểm b, h, s khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 để xử phạt bị cáo Lê Thanh C mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 09 năm đến 09 năm 06 tháng.
Đối với Nguyễn Hoài N, Lê Chí C, Hồ Văn D đã bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An) xét xử tại bản án số 223/2011/HSST ngày 27/7/2011, đồng thời xử lý vật chứng và giải quyết trách nhiệm dân sự.
Đối với C, N, T (chƣa rõ lai lịch) bỏ trốn, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý.
Lê Thanh C tác động đến gia đình bồi thƣờng cho bị hại Trần Thị Huyền T số tiền 20.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
Đối với xe cúp 50 màu xanh (không rõ biển số), Lê Thanh C sử dụng làm phƣơng tiện phạm tội là do C mƣợn của ngƣời bạn không rõ lai lịch nên không thu hồi đƣợc.
Ngƣời bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt của đại diện Viện kiểm. Về hình phạt Viện kiểm sát đƣa ra cũng sát với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhƣng hơi cao. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, vì lo sợ nên bị cáo mới bỏ trốn, đƣợc sự vận động của gia đình nên bị cáo đầu thú. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thƣờng thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Gia đình bên ngoại của bị cáo là gia đình có công với cách mạng. Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, cha mẹ già yếu nên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không tranh luận đối đáp gì. Tại phần lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại đơn xin giải quyết vắng mặt, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã bồi thƣờng cho bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Quá trình điều tra, bị hại, ngƣời làm chứng không có ý kiến gì về hành vi tố tụng. Do đó, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 21 giờ 20 phút ngày 04/01/2011, tại khu phố T, phƣờng T, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh B, Lê Thanh C, Nguyễn Hoài N, Lê Chí C, cùng với N, C, T (chƣa rõ lai lịch) dùng vũ lực bắt chị Trần Thị Huyền T đi đến nơi vắng ngƣời chiếm đoạt tài sản của chị Trần Thị Huyền T gồm 14 chiếc vòng simen bằng Vàng 18 Kara (trọng lƣợng 08 chỉ), 01 xe mô tô hiêu Wave biển số 61Z3-4598, 01 điện thại di động Nokia 5130 C; tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt 34.300.000 đồng.
Hành vi trên đây của Lê Thanh C cùng đồng phạm đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Cƣớp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội “Bắt ngƣời trái pháp luật” quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Do đó, Cáo trạng số 351/CT - VKS ngày 20 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo Lê Thanh C là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, tính mạng, sức khỏe của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo Lê Thanh C là ngƣời đã thành niên nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về vai trò: Đây là vụ án có đồng phạm nhƣng là đồng phạm giản đơn, không có phân công vai trò cụ thể. Bị cáo là rủ rê các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo là ngƣời chuẩn bị công cụ phạm tội đƣa cho các bị cáo khác; là ngƣời đem tài sản bị chiếm đoạt đi tiếu thụ.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thƣờng thiệt hại cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đối với tội bắt ngƣời trái pháp luật thì thêm tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiệm trọng.
Nhân thân: Gia đình khó khăn, chƣa tiền án tiền sự. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng.
Xét thấy, gia đình bị cáo có cung cấp tài liệu của bà ngoại là bà mẹ Việt Nam anh hùng, ông ngoại là thƣơng binh, bác ruột là thƣơng binh. Tuy nhiên, bị cáo không có công chăm sóc, nuôi dƣỡng bà ngoại, ông ngoại và bác nên không đƣợc xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Theo điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thi hành Bộ luật Hình sự 2015 đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là nhẹ hơn so với quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Do đó, cần xem xét áp dụng hình phạt theo hƣớng có lợi cho bị cáo.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung. Cần tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội theo quy định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng: Đã đƣợc xem xét giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 223/2011/HSST ngày 27/7/2011 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Bị cáo tác động với gia đình bồi thƣờng cho bị hại chị Trần Thị Huyền T 20.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với C, N, T (chƣa rõ lai lịch) bỏ trốn, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là phù hợp. Lời trình bày của ngƣời bào chữa là phù hợp.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Thanh C phạm tội cƣớp tài sản và bắt ngƣời trái pháp luật.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Lê Thanh C 08 (tám) năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 123; điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
- Xử phạt bị cáo Lê Thanh C 01 (một) năm tù.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bộ sung năm 2017: Tổng hợp hình phạt của hai tội; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội là 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/6/2022.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Lê Thanh C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận đƣợc Bản án hoặc kể từ ngày Bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Dĩ An; - Công an thành phố Dĩ An; - Chi cục THA dân sự thành phố Dĩ An; - Trại tạm giam CA tỉnh BD; - TAND tỉnh BD; - UBND nơi bị cáo cƣ trú; - Phòng PV 27 CA tỉnh BD; - Phòng PC 81 CA tỉnh BD; - Ngƣời tham gia tố tụng; - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - VKS nhân dân tỉnh Bình Dƣơng; - Lƣu: VT, HS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hiền |