- Tranh chấp gì? án hình sự — "TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hải N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 335/2020/HSST Ngày: 24/12/2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đình Đạt
2. Bà Trần Thị Lân
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hùng Lâm – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thu Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên,
thành phố Hà Nội, xét xử công khai vụ án hình sự sở thẩm thụ lý số: 344/2020/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 355/2020/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
NGUYỄN HẢI N , sinh năm: 1992; HKTT: Số B ngõ C đường H,
phường N, Ba Đình, Hà Nội; chỗ ở: không cố định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa:11/12; con ông: Nguyễn Văn N(đã chết) và con bà Nguyễn Thị M (đã chết); gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ là Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1991 (đã ly hôn); có 02 con (con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018). Tiền án, tiền sự: Không.
Tạm giữ từ ngày 24/9/2020, tạm giam từ ngày 03/10/2020 tại Trại tạm
giam số 2 Công an thành phố Hà Nội (có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Anh Đặng Việt P , sinh năm: 1973, HKTT: Số X ngõ O N, Tổ M
phường P, Long Biên, Hà Nội (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 40 phút ngày 24/9/2020, Công an phường Phúc Đồng nhận
được đơn trình báo của anh Đặng Việt P , sinh năm: 1973, HKTT: Số 7 ngõ 467 Nguyễn Văn Cừ, Tổ 8 phường Phúc Đồng, Long Biên, Hà Nội về việc: Hồi 22 giờ 25 phút ngày 24/9/2020, tại nhà số 7 ngõ 467 Nguyễn Văn Cừ, Long Biên, Hà Nội, anh P bắt quả tang Nguyễn Hải N có hành vi trộm cắp chiếc xe máy Honda AirBlade màu đen bạc, BKS: 30K5 - 5496 của anh. Công an phường Phúc Đồng đã lập biên bản tiếp nhận Nguyễn Hải N , đưa N và tang vật về trụ sở để xác minh làm rõ. Tang vật thu giữ: 01 xe máy Honda AirBlade màu đen bạc, BKS: 30K5 - 5496, SM: 0410534, SK: 361957.
Tại kết luận định giá tài sản số 195 ngày 13/10/2020 của Hội đồng định
giá trong tố tụng hình sự kết luận: 01 xe máy Honda AirBlade màu đen bạc, BKS: 30K5 - 5496, SM: 0410534, SK: 361957 đăng ký năm 2010 đã qua sử dụng trị giá 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng chẵn).
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã làm rõ: Khoảng 12 giờ 00 phút
ngày 24/9/2020, N đi xe buýt sang khu vực phường Phúc Đồng, Long Biên, Hà Nội và đi bộ lang thang mục đích tìm kiếm sơ hở để trộm cắp tài sản. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến số nhà 7 ngõ 467 Nguyễn Văn Linh, Long Biên, Hà Nội, N phát hiện cổng sắt không khóa, chỉ cài chốt, bên trong sân nhà có 01 chiếc xe máy Honda AirBlade, BKS: 30K5-5496 vẫn cắm chìa khóa xe, đầu xe hướng vào trong, đuôi xe quay ra phía cổng, xe dựng chân chống phụ. Quan sát không có ai trông giữ, N nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy trên. N dùng tay trái mở chốt cổng đi vào nhà, dắt xe máy ra ngoài. Khi vừa ra đến cổng thì bị anh Đặng Việt P phát hiện. Anh P hô hoán và cùng với quần chúng nhân dân bắt giữ N , trình báo Công an phường Phúc Đồng.
Tại cơ quan điều tra, N khai nhận như trên. Lời khai của Nguyễn Hải N
phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đối với chiếc xe máy Honda AirBlade màu đen bạc, BKS: 30K5-5496,
quá trình điều tra xác định anh Đặng Việt P mua mới xe máy trên tháng 9/2010, xe đăng ký chính chủ. Ngày 20/11/2020, cơ quan điều tra trao trả chiếc xe máy trên cho anh Đặng Việt P .
Về dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, anh P không có yêu cầu đề nghị gì về
dân sự, đề nghị xử lý Nguyễn Hải N theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 333/CT-VKS-LB ngày 24/11/2020 Viện kiểm sát
nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo Nguyễn Hải N về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Người bị hại anh Đặng Việt P có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, và đề
nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà sau khi phân tích tính chất hành vi
phạm tội và nhân thân bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hải N từ 04 đến 06 tháng tù giam; Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Không.
Nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình là sai, vi
phạm pháp luật. Mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt, để sớm trở về hòa nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận
Long Biên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa
thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, của người làm chứng, biên bản về việc bắt người, vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 22 giờ 25 phút ngày 24/9/2020, tại số nhà 7 ngõ 467 Nguyễn Văn Cừ, Long Biên, Hà Nội, Nguyễn Hải N có hành vi trộm cắp 01 xe máy Honda AirBlade màu đen bạc, BKS: 30K5 - 5496 của anh Đặng Việt P , tài sản trị giá 5.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã đủ cấu thành tội "Trộm cắp tài sản". Do đó Viện
Kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của
bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người bị hại trong quản lý tài sản, lén lút thực hiện hành vi trộm cắp, việc bị cáo trộm cắp tài sản của người khác xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ gây mất trật tự an toàn xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân bị cáo Nguyễn Hải N , Hội đồng xét xử xem xét bị cáo
chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản trộm cắp không lớn, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; người bị hại có đơn xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật và cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan
điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Xét về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu
nhập ổn định, không có khả năng thi hành phạt bổ sung bằng tiền nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Đối với chiếc xe máy Honda
AirBlade màu đen bạc, BKS: 30K5 - 5496, quá trình điều tra xác định anh Đặng Việt P mua mới xe máy trên tháng 9/2010, xe đăng ký chính chủ. Ngày 20/11/2020, cơ quan điều tra trao trả chiếc xe máy trên cho anh Đặng Việt P . Anh P đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác về phần dân sự đối với bị cáo nên không xét.
Về xử lý vật chứng: Không
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm
và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hải N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo: Nguyễn Hải N 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ
ngày 24/09/2020.
Xác nhận bị cáo Nguyễn Hải N đã chấp hành xong hình phạt tù.
Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Hải N tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm
giam về một tội phạm khác.
2. Về xử lý vật chứng: Không
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Hải N phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự
năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Long Biên; - Công an quận Long Biên; - Chi cục THADS quận Long Biên; - Sở tư pháp TP Hà Nội; - Trại tạm giam Công an TP Hà Nội; - Bị cáo; bị hại; người tham gia tố tụng. - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hồng Hạnh |