vanban.org

Bản án 334/2017/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 21/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc V phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc V 18 (mƣời tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc V phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc V phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
———————
Bản án số: 334/2017/HS-ST
Ngày 21-12-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Minh Hiếu.

2. Ông Nguyễn Đình Thế.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 350/2017/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 461/2017/HSST-QĐ ngày 11 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1982 tại tỉnh Đồng Nai; thƣờng trú: Số N137, khu phố 7, phƣờng T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: Lớp 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1941; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Người bị hại: Bà Lê Thị D (đã chết).

Ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại:

1/ Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1930; thƣờng trú: Số 88/16/12, quốc lộ 1K, tổ 8, khu phố 3, phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Bà Trần Thị Băng S, sinh năm 1985; thƣờng trú: Số 89/12, khu vực B, phƣờng P, huyện Ô, Thành phố Cần Thơ.

3/ Ông Trần Thanh M, sinh năm 1986; thƣờng trú: Số 88/16/12, quốc lộ 1K, tổ 8, khu phố 3, phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

4/ Ông Trần Thiện M, sinh năm 1982; thƣờng trú: Số 88/16/12, quốc lộ 1K, tổ 8, khu phố 3, phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Bà N, bà S và ông M ủy quyền cho ông Trần Thiện M, sinh năm 1982; thƣờng trú: Số 88/16/12, quốc lộ 1K, tổ 8, khu phố 3, phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (văn bản ủy quyền ngày 12/6/2017). Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn dân sự: Ông Lê Văn L, sinh năm 1969; thƣờng trú: Ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1930; thƣờng trú: Số 88/16/12 quốc lộ 1K, tổ 8, khu phố 3, phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Bà Trần Thị Băng S, sinh năm 1985; thƣờng trú: Số 89/12, khu vực B, phƣờng P, huyện Ô, Thành phố Cần Thơ.

3/ Ông Trần Thanh M, sinh năm 1986; thƣờng trú: Số 88/16/12, quốc lộ 1K, tổ 8, khu phố 3, phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

4/ Ông Trần Thiện M, sinh năm 1982; thƣờng trú: Số 88/16/12, quốc lộ 1K, tổ 8, khu phố 3, phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Bà N, bà S và ông M ủy quyền cho ông Trần Thiện M, sinh năm 1982; thƣờng trú: Số 88/16/12, quốc lộ 1K, tổ 8, khu phố 3, phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (văn bản ủy quyền ngày 12/6/2017). Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Võ Trƣờng G, sinh năm 1998; thƣờng trú: Ấp 4, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Ngọc V đã có giấy phép lái xe số 750095000392 hạng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đồng Nai cấp ngày 14/01/2013 và là lái xe thuê cho ông Lê Văn L - chủ xe ô tô tải biển số 60C-173.21. Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 07/6/2017, ông Lê Văn L phân công Nguyễn Ngọc V điều khiển xe ô tô tải biển số 60C-173.21 và anh Võ Trƣờng G là phụ xe đến hầm đá Núi Nhỏ ở phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng mua đá để giao tại phƣờng H, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, Nguyễn Ngọc V điều khiển xe lƣu thông trên quốc lộ 1A hƣớng từ cầu vƣợt Sóng Thần về cầu vƣợt Linh Xuân để về bãi đỗ xe. Khi đi đến đoạn đƣờng trƣớc nhà nghỉ Kim Sơn thuộc khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, Nguyễn Ngọc V điều khiển xe đi vào phần đƣờng dành cho xe mô tô 2, 3 bánh đã làm cho phần sau đầu xe phía bên phải ô tô va vào bên trái xe mô tô biển số 50FA-2913 do bà Lê Thị D điều khiển đang lƣu thông cùng chiều bên phải xe ô tô, làm bà D ngã xuống đƣờng, bánh sau bên phải của xe ô tô tải cán lên ngƣời bà D. Hậu quả tai nạn: Bà Lê Thị D chết tại chỗ, xe mô tô bị hỏng.

Theo kết luận giám định pháp y tử thi số 453/GĐPY ngày 11/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận:

1/ Dấu hiệu chính qua giám định:

- Biến dạng vùng đầu mặt.

- Vỡ xƣơng hộp sọ thành nhiều mảnh, có mảnh rời.

- Dập não toàn bộ.

- Gãy xƣơng đòn, gãy nhiều xƣơng sƣờn.

- Dập rách 02 phổi.

- Dập vỡ tim.

- Vỡ gan, vỡ nát lách.

- Khoang ngực 2 bên chứa 2000ml máu đông và không đông.

- Ổ bụng chứa khoảng 200ml không đông.

2/ Nguyên nhân chết của nạn nhân là do đa chấn thƣơng, chấn thƣơng sọ não.

Theo biên bản khám nghiệm hiện trƣờng ngày 07/6/2017 thể hiện: Đoạn đƣờng xảy ra tai nạn là đoạn đƣờng thẳng, không giới hạn tầm nhìn. Mặt đƣờng trải nhựa bằng phẳng, đƣợc chia thành hai phần đƣờng xe chạy bằng dãy phân cách bê tông; phần đƣờng bên phải theo hƣớng Ngã tƣ Công ty Giày da Thái Bình về hƣớng cầu vƣợt Linh Xuân đƣợc chia thành 03 làn xe chạy, 02 làn đƣờng dành cho xe ô tô đƣợc phân chia bằng vạch sơn trắng đứt quãng, làn sát mép dãy phân cách bê tông rộng 3.70 mét, làn kế tiếp rộng 4.30 mét; làn đƣờng dành cho xe mô tô đƣợc phân chia bằng dãy phân cách bê tông giữa làn ô tô và làn mô tô có chiều rộng là 5.60 mét.

Lấy cột điện bê tông số 16 làm điểm mốc, lấy mép đƣờng bên phải theo hƣớng Ngã tƣ Công ty Giày da Thái Bình về hƣớng cầu vƣợt Linh Xuân làm chuẩn để đo.

- Xe ô tô tải biển số 60C-173.21, sau tai nạn đầu xe hƣớng về cầu vƣợt Linh Xuân, trục bánh trƣớc bên phải cách mép chuẩn là 2.70 mét, cách cột điện bê tông số 16 là 12.40 mét; trục bánh sau bên phải cách mép chuẩn là 4.50 mét, cách trục bánh trƣớc xe mô tô biển số 50FA-2913 là 30.30 mét.

- Xe mô tô biển số 50FA-2913, sau tai nạn xe ngã về bên trái, đầu xe hƣớng về cầu vƣợt Linh Xuân, đuôi xe hƣớng Ngã tƣ Công ty Giày da Thái Bình, trục bánh trƣớc cách mép chuẩn là 0.90 mét, trục bánh sau cách mép chuẩn là 1.40 mét, xe mô tô để lại vết cày dài 7.00 mét đầu vết cày cách mép chuẩn 2.00 mét.

Xác nạn nhân nằm nghiêng bên phải, đầu hƣớng ra đƣờng, hai chân hƣớng về mép lề phải theo hƣớng Ngã tƣ Công ty Giày da Thái Bình về hƣớng Cầu vƣợt Sóng Thần; đầu cách mép chuẩn là 2.90 mét, chân cách mép chuẩn là 1.70 mét, chân nạn nhân cách trục bánh sau xe mô tô là 0.30 mét.

Bịch rau nằm trên mặt đƣờng cách mép chuẩn là 1.00 mét, cách trục bánh sau xe mô tô là 0.70 mét; vết chà bịch rau dài 6.90 mét, đầu vết chà bịch rau cách mép chuẩn là 2.00 mét, đầu vết chà bịch rau cách đầu dãy phân cách là 19.40 mét.

Theo biên bản khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông ngày 28/6/2017 thể hiện:

- Xe mô tô biển số 50FA-2913 để lại các dấu vết sau: Đèn tín hiệu bên trái bị nứt, vỡ kích thƣớc 5cm x 7cm; mũi dè trƣớc bên góc trái bị mài mòn kích thƣớc 0.5cm x 3cm; gác chân trƣớc bên trái bị mòn, phần đầu cục cao su kích thƣớc 3cm x 4cm.

- Xe ô tô tải biển số 60C-173.21 không ghi nhận bị hỏng.

Trách nhiệm dân sự: Ông Lê Văn L chủ xe ô tô tải biển số 60C-173.21 và Nguyễn Ngọc V đã bồi thƣờng cho đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại chi phí đám tang, tổn thất tinh thần, sửa chữa xe mô tô là 110.000.000 đồng.

Vật chứng: Xe mô tô biển số 50FA-2913, xe ô tô tải biển số 60C-173.21.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và bị đơn dân sự không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định pháp y tử thi số 453/GĐPY ngày 11/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, biên bản khám nghiệm phƣơng tiện liên quan trong vụ án.

Tại Cáo trạng số 328/QĐ - KSĐT ngày 14 tháng 11 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc V về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại và những ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã thỏa thuận giải quyết xong nên không đề nghị xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa: Bị cáo xin lỗi gia đình ngƣời bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại, bị đơn dân sự, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và ngƣời làm chứng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định có tội: Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 07/6/2017, trƣớc nhà nghỉ Kim Sơn thuộc khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng hƣớng từ Ngã tƣ Công ty Giày da Thái Bình về hƣớng cầu vƣợt Linh Xuân, Nguyễn Ngọc V điều khiển xe ô tô tải biển số 60C-173.21 do ông Lê Văn L là chủ xe đi vào phần đƣờng dành cho xe mô tô 2, 3 bánh đã làm cho phần sau đầu xe phía bên phải ô tô va vào bên trái xe mô tô biển số 50FA-2913 do bà Lê Thị D điều khiển đang lƣu thông cùng chiều bên phải xe ô tô, làm bà D ngã xuống đƣờng, bánh sau bên phải của xe ô tô tải đè lên ngƣời bà D. Hậu quả tai nạn: Bà Lê Thị D chết tại chỗ, xe mô tô biển số 50FA-2913 bị hỏng. Căn cứ kết luận giám định pháp y tử thi số 453/GĐPY ngày 11/6/2017 (bút lục số 52) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng thì nguyên nhân chết của nạn nhân là do đa chấn thƣơng, chấn thƣơng sọ não.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự “Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đƣờng bộ “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ” và Điều 13 của Luật Giao thông đƣờng bộ năm 2008 “Trên đường có nhiều làn đường cho xe đi cùng chiều được phân biệt bằng vạch kẻ phân làn đường, người điều khiển phương tiện phải cho xe đi trong một làn đường và chỉ được chuyển làn đường ở những nơi cho phép; khi chuyển làn đường phải có tín hiệu báo trước và phải bảo đảm an toàn”. Theo biên bản khám nghiệm hiện trƣờng ngày 07/6/2017 thì “Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, không giới hạn tầm nhìn. Mặt đường trải nhựa bằng phẳng, được chia thành hai phần đường xe chạy bằng dãy phân cách bê tông; phần đường bên phải theo hướng Ngã tư Công ty Giày da Thái Bình về hướng cầu vượt Linh Xuân được chia thành 03 làn xe chạy, 02 làn đường dành cho xe ô tô được phân chia bằng vạch sơn trắng đứt quãng; làn đường dành cho xe mô tô được phân chia với làn đường dành cho xe ô tô bằng dãy phân cách bê tông”.

Hành vi của bị cáo điều khiển xe đi vào phần đƣờng dành cho xe mô tô 2, 3 bánh đƣợc coi là đƣờng cấm các loại xe ô tô va vào bên trái xe mô tô đang điều khiển theo hƣớng cùng chiều làm ngƣời bị hại chết đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 328/QĐ - KSĐT ngày 14 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đƣờng bộ, gây thiệt hại về tính mạng của ngƣời tham gia giao thông. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc điều khiển xe ô tô đi vào phần đƣờng dành cho xe mô tô 2, 3 bánh là vi phạm quy định về Luật giao thông đƣờng bộ, đây là lỗi chính gây nên tai nạn giao thông. Hiện nay tình hình vi phạm Luật giao thông đƣờng bộ trên địa bàn thị xã Dĩ An diễn biến phức tạp, các vụ tai nạn xảy ra phần lớn là do ngƣời điều khiển phƣơng tiện giao thông không chấp hành đúng quy định của luật giao thông đƣờng bộ. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo đã trực tiếp bồi thƣờng khắc phục một phần thiệt hại và tác động để bị đơn dân sự bồi thƣờng cho gia đình ngƣời bị hại; đại diện ngƣời bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời lao động làm thuê có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị đơn dân sự và bị cáo đã bồi thƣờng cho gia đình ngƣời bị hại chi phí đám tang, sửa chữa xe mô tô, tổn thất tinh thần là 110.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại và những ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vật chứng: Xe mô tô biển số 50FA-2913 là tài sản của bà Lê Thị D, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An trả lại cho đại diện hợp pháp của bà Dung và xe ô tô tải 60C-173.21, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại cho ông Lê Văn L là đúng quy định.

Xét đơn xin xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi mẹ già của bị cáo Nguyễn Ngọc V đƣợc Ủy ban nhân dân phƣờng T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai xác nhận (bút lục 104), tuy nhiên hành vi của bị cáo phạm tội với lỗi cố ý đã điều khiển xe đi vào đoạn đƣờng cấm xe ô tô là nguyên nhân chính gây tai nạn giao thông, thiệt hại tính mạng cho ngƣời bị hại. Vì vậy, việc xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và những ngƣời tham gia giao thông khác đồng thời có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung loại tội phạm này trên địa bàn thị xã Dĩ An. Đối với mức hình phạt nhƣ đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc V phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc V 18 (mƣời tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Ngọc V phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và bị đơn dân sự vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ