vanban.org

Bản án 334/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Cẩm G được ly hôn với anh Phan

Về con chung: Chị Lê Thị Cẩm G được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là Phan Thị Liên, sinh ngày 21/12/2008 và Phan Thị Thủy, sinh ngày 14/09/2013, hiện nay con chung đang sống với chị G, chị G không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Cẩm G được ly hôn với anh Phan
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 199 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 334/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 28 - 9 - 2017
“V/v Ly hôn giữa chị G và anh P”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hoàng Tam

2. Bà Võ Thị Kim Linh

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Sang là Thư ký Tòa án nhân dân thị

xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên

tòa: Ông Nguyễn Bảo Thịnh – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 09 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 176/2017/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 05 năm 2017 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 08 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Cẩm G; sinh năm 1989 (có mặt).

Nơi cư trú: tổ 02 khóm Long Quới C, phường Long Phú, thị xã Tân

Châu, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Anh Phan Thanh P; sinh năm 1983 (vắng mặt).

Nơi cư trú: tổ 02 khóm Long Quới C, phường Long Phú, thị xã Tân

Châu, tỉnh An Giang. Tạm trú: tổ 29 ấp Phú An A, xã Phú Vĩnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 17/05/2017, bản tự khai và lời khai tại Tòa án,

nguyên đơn chị Lê Thị Cẩm G trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Cẩm G và anh Phan Thanh P đi đến

hôn nhân vào năm 2008 hôn nhân tự tìm hiểu, tự nguyện sống chung không tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Vĩnh, trong quá trình sống chung vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, và anh P thường xuyên tham gia tệ nạn xã hội, không chăm sóc cho gia đình, cuộc sống chung không hạnh phúc, vợ chồng không còn sống chung năm 2015 cho đến nay. Nay chị G yêu cầu được ly hôn với anh P.

Về con chung: Có 02 con chung Phan Thị Liên, sinh ngày 21/12/2008 và

Phan Thị Thủy, sinh ngày 14/09/2013, hiện nay 02 con chung đang sống với chị G, khi ly hôn chị G yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa chị Lê Thị Cẩm G vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong

quá trình giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị Cẩm G và anh Phan Thanh P tranh chấp ly

hôn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án hôn nhân gia đình, ly hôn của chị

G anh P. Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật nhưng anh P vắng mặt không lý do, theo các biên bản xác minh thì đại diện chính quyền địa phương và gia đình anh P cung cấp thông tin về tình trạng nơi cư trú của anh P hiện nay đi làm thuê ở tỉnh Long An và anh P thỉnh thoảng có về địa phương cư trú. Do anh P vắng mặt không lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 199 Bộ luật tố tụng dân sự, do đó Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Phan Thanh P.

Phát biểu của Kiểm sát viên về tố tụng: Tòa án đã tuân thủ đúng pháp

luật về thủ tục theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến khi giải quyết vụ án. Đối với các đương sự thì thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70; 71; 72; và 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82;

83; 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị G, cho chị G được ly hôn với anh P, về con chung thì giao 02 con chung cho chị G được tiếp tục nuôi dưỡng.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân của chị G và anh P đi đến hôn nhân vào năm 2008

hôn nhân do anh chị tự tìm hiểu, tự nguyện sống chung, không tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Vĩnh. Trong quá trình chung sống do vợ chồng bất đồng quan điểm, và anh P tham gia tệ nạn xã hội, không chăm sóc cho gia đình, cuộc sống chung không có hạnh phúc và vợ chồng không còn sống chung từ năm 2015 cho đến nay, tại phiên tòa chị G vẫn yêu cầu ly hôn với anh P. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật xem xét bảo vệ

Xét thấy, mặc dù Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng dân sự theo quy

định để tạo điều kiện cho anh chị hòa giải và hàn gắn, nhưng anh Phan Thanh P vắng mặt không lý do, tại phiên tòa chị G vẫn yêu cầu được ly hôn với anh P với những mâu thuẫn nêu trên đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX nhận thấy chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị G là phù hợp quy định của pháp luật tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Có 02 con chung Phan Thị Liên, sinh ngày 21/12/2008 và

Phan Thị Thủy, sinh ngày 14/09/2013, hiện nay 02 con chung đang sống với chị G, khi ly hôn chị G yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Trong quá trình giải quyết ý kiến cháu Liên có nguyện vọng sống với chị G, nên HĐXX nghĩ nên giao 02 con chung cho chị G được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp pháp luật. Do anh P vắng mặt không lý do, do đó khi anh P có yêu cầu nuôi con chung thì anh P có quyền khởi kiện thành 01 vụ kiện khác.

Về tài sản chung, về nợ chung: không có

Về án phí: chị Lê Thị Cẩm G phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm

theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 2 Điều 227;

khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83; và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Cẩm G được ly hôn với anh Phan

Thanh P.

2. Về con chung: Chị Lê Thị Cẩm G được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con

chung là Phan Thị Liên, sinh ngày 21/12/2008 và Phan Thị Thủy, sinh ngày 14/09/2013, hiện nay con chung đang sống với chị G, chị G không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

Không bên nào được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể

quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

4. Về án phí: chị Lê Thị Cẩm G phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn

nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0012298 ngày 22/05/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Tân Châu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ