- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Y xin ly hôn anh Thái Văn T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Y về việc ly hôn anh Thái Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 333/2023/HNGĐ-ST Ngày: 26 – 9 – 2023 “Về tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hứa Minh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Tới
2. Bà Lâm Yến Nhi
- Thư ký phiên toà: Ông Trương Minh Chiến, là Thư ký Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau.
Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 527/2023/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 8 năm 2023 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 320/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm: 1989 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm 6A, thị trấn SĐ, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Thái Văn T, sinh năm: 1978 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm 6A, thị trấn SĐ, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 01/8/2023, chị Nguyễn Thị Y trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Thái Văn T xác lập quan hệ hôn nhân và chung sống vợ chồng từ năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Ph M, huyện Ph T, tỉnh Cà Mau. Hôn nhân được xác lập trên tinh thần tự nguyện, có tổ chức hỏi cưới theo phong tục, tập quán và được gia đình hai bên chấp thuận.
Quá trình chung sống, chị Y cho rằng vợ, chồng luôn bất đồng quan điểm, thường xuyên cải nhau, gia đình hai bên có hòa giải nhiều lần nhưng không có hiệu quả nên chị và anh T đã sống ly thân 02 năm qua. Do đó, chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
- Về con chung: Chị Y xác định giữa chị và anh T có 02 người con chung là Thái Ngọc D, sinh ngày 29/5/2014 và Thái Hữu L, sinh ngày 18/10/2018, hiện đang sống chung với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con; không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị Y xác định không có.
- Về nợ chung: Chị Y khai rằng giữa chị và anh T không có nợ chung.
* Đối với anh Thái Văn T vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về tố tụng: Về loại việc tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị Y và anh Thái Văn T là tranh chấp về ly hôn và nuôi con nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với việc vắng mặt của anh Thái Văn T: Mặc dù đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa để tham gia xét xử vụ án nhiều lần thông qua thủ tục niêm yết công khai văn bản tố tụng nhưng T đều vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có ý kiến phản hồi để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định. Đối với việc đề nghị vắng mặt của chị Y, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị Y theo quy định.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y và anh Thái Văn T xác lập quan hệ vợ chồng, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán, có đăng ký kết hôn vào năm 2014 và đủ điều kiện kết hôn theo luật định nên hôn nhân được chấp nhận là hợp pháp và được pháp luật công nhận, bảo vệ. Quá trình chung sống, do vợ chồng có nhiều điểm bất đồng trong cuộc sống, thường xuyên cải nhau, dẫn đến tình cảm sức mẻ, không quan tâm, chăm sóc, cảm thông, chia sẻ lẫn nhau. Xét mâu thuẫn thực tế là có nhiều mâu thuẫn, nhận thấy về mục đích hôn nhân không đạt. Bởi lẽ, trong cuộc sống vợ chồng của anh chị, mỗi người đều có cách sống, cách nghĩ khác nhau. Từ đó, giữa vợ chồng đã nhiều lần cải vã, làm mất lòng tin đối với nhau, mỗi người có cuộc sống và mối quan hệ riêng tư, không quan tâm, giúp đở lẫn nhau. Mặt khác, sau khi xảy ra mâu thuẫn, chị Y và anh T tự sống ly thân nhau nhiều năm để anh, chị tự dung hoà nhằm hàn gắn tình cảm vợ, chồng nhưng không có hiệu quả. Thời gian này để cho anh, chị có điều kiện thử thách bản thân, suy ngẫm về cuộc sống vợ chồng đã qua nhằm tìm cách tháo gỡ, khắc phục khuyết điểm của mỗi bên để vợ, chồng đoàn tụ nhưng không ai có biện pháp gì để khắc phục tình trạng mâu thuẫn và cũng không quan tâm, thăm hỏi, giúp đỡ lẫn nhau. Bên cạnh đó, chị Y cương quyết ly hôn, nếu không được xem xét thì chị cũng không thể quay lại chung sống với anh T, vì tình cảm không còn và tương lai, hạnh phúc cũng không có. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Y được ly hôn anh T là có căn cứ.
Về con chung: Xét thấy cháu Thái Ngọc D, sinh ngày 29/5/2014 và cháu Thái Hữu L, sinh ngày 18/10/2018, hiện do chị Y đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nên môi trường sống, điều kiện sinh hoạt, tâm lý giao tiếp hằng ngày của các cháu đã ổn định đồng thời nguyện vọng của cháu D cũng muốn được sống chung với chị Y, do đó tiếp tục giao cháu D và cháu L cho chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
Về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con: Chị Y không đặt ra yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung: Chị Y xác định không có nên không xem xét.
Về nợ chung: Chị Y khai rằng giữa chị và anh T không nợ ai và không ai nợ ại anh, chị nên không đề cập giải quyết.
Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Y về việc ly hôn anh Thái Văn T.
2. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Thái Ngọc D, sinh ngày 29/5/2014 và cháu Thái Hữu L, sinh ngày 18/10/2018 cho chị Nguyễn Thị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Anh Thái Văn T không trực tiếp nuôi con vẫn được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Không có.
4. Về nợ chung: Không có.
5. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình, chị Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000đ. Ngày 01 tháng 8 năm 2023, chị Y đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai số: 7162 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển thu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Y và anh Thái Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện T; - CCTHADS huyện T; - Các đương sự; - UBND xã Ph M, huyện Ph T, tỉnh Cà Mau; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | Hứa Minh Hải |