vanban.org

Bản án 333/2020/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 26/06/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/06/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Việt C; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2019/HS-ST ngày 21/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang;

cáo Đào Việt C (C Trang) 09 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2018; Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 591 Bộ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Việt C - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Việt C; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2019/HS-ST ngày 21/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang;
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 333/2020/HS-PT
Ngày 26 - 6 - 2020

NHÂN DANH

VIỆT

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Độc

lập -

Tự do

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Hạnh

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Thái Duy Nhiệm;

phúc

Các Thẩm phán:

Ông Bùi Xuân Trọng;

Bà Vũ Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Nga - Thư ký Toà án nhân dân

cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên

tòa: Ông Vũ Đức Minh và ông Đinh Trung Quy - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 26/6/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang, Tòa án nhân dân

cấp cao tại Hà Nội mở phiên toà công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 1095/2019/TLPT-HS ngày 31/12/2019 do có kháng cáo của bị cáo Đào Việt C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2019/HS-ST ngày 21/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang.

* Bị cáo có kháng cáo:

Đào Việt C, tên gọi khác: C Trang, sinh ngày 03/10/1979 tại Hà Giang;

Nơi cư trú: Số 18 ngõ 273, đường LTK, tổ 4 phường NH, thành phố Hà

Giang, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Thu Tr (đã chết) và con bà Phan TH, sinh năm 1954; vợ chưa có, có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 23/3/2001 bị Công an thị xã Hà Giang xử lý hành chính về hành vi

gây rối trật tự công cộng;

- Ngày 31/01/2002 bị Tòa án nhân dân thị xã Hà Giang xử phạt 12 tháng tù

cho H án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”;

- Năm 2007 bị Công an thị xã Hà Giang xử lý hành chính về hành vi sử

dụng trái phép chất ma túy;

- Ngày 17/9/2007 bị Công an thị xã Hà Giang xử lý hành chính về hành vi

gây rối trật tự công cộng;

- Ngày 18/11/2008 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xử phạt 05 năm tù về

tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

- Ngày 02/11/2009 bị Công an thị xã Hà Giang xử lý hành chính về hành vi

gây rối trật tự công cộng;

- Ngày 12/3/2010 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xử phạt 06 tháng tù về

tội “Cố ý gây thương tích”.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/5/2018 đến nay. Có mặt tại phiên

tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Đào Việt C:

- Ông Nguyễn Thanh T, Luật sư Văn phòng luật sư Phạm Hồng Hải, thuộc

Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội, có mặt;

- Ông Võ Văn Tr, Luật sư Văn phòng luật sư Việt Nhật, thuộc Đoàn Luật

sư tỉnh Quảng Nam, có mặt.

* Người đại diện hợp pháp cho bị hại (ông Nguyễn Văn H) không kháng

cáo được Tòa án triệu tập: Bà Phạm Thị V, vắng mặt;

Trú tại: Ngõ 20, đường PH, tổ 16, phường TP, thành phố Hà Giang, tỉnh Hà

Giang;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 02/5/2018, Đào Việt C làm cơm giỗ anh trai;

bữa cơm có khoảng 15 người trong đó có Hoàng Trung K1; Đào Đình H1; Đỗ Văn Đ; Nguyễn Thị L; Hoàng Thị Thu H2 sinh năm 1994, trú tại tổ 4 phường NH, thành phố Hà Giang.

Khoảng hơn 13 giờ cùng ngày, mọi người ăn cơm xong và đi về, chỉ còn

C, H2 (đang sống chung như vợ chồng với C, nhưng chưa đăng ký kết hôn), K1, H, Đ và bà L (người giúp việc); mọi người cùng nhau thu dọn mâm bát đĩa, K1 đi ra võng trước cửa chính, gần chuồng lợn nhà C nằm, C một mình ra bộ bàn ghế đá phía bên trái trước cổng nhà C ngồi, H trộn cơm. Khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày H bê theo nồi cơm đi từ trong nhà C ra phía cổng nhà C để cho Chó ăn, H nhìn thấy ông Nguyễn Văn H sinh năm 1963 đi từ trong ngõ 297 nhà ông H phía bên trái cổng và sát nhà C, ra phía bên phải cổng nhà C thuộc ngõ 273, ông H khoác một túi đồ đi câu màu rằn ri. C nghe thấy tiếng đàn chó sủa, C quay ra nhìn thấy ông H đang bị đàn chó nhà C đuổi và sủa, khi ông H đi qua vị trí của C ngồi, qua vị trí H đứng thì dừng lại đặt túi đồ câu xuống mặt đường, dùng tay phải kéo khóa lấy ra một bao dao bằng gỗ có đựng con dao nhọn cầm trên tay phải, rồi khoác túi đồ câu lên vai, tiếp tục đi qua cổng nhà C ra hướng bờ sông. Vừa đi ông H vừa khua dao đuổi đàn chó vừa chửi bậy. Nghe ông H chửi, C đi về phía ông H và chỉ tay về phía ông H nói “Ông dọa ai, ông thích làm gì thì làm đi”, ông H không nói gì, mà tiếp tục đi về hướng bờ sông, C đi theo sau ông H. Thấy vậy, H bê nồi cơm chó đi theo C; K1, Đ cũng đi theo sau C và H. Khi đi qua đống gạch bi gần bụi cây chuối, cách cổng nhà C khoảng 20m về phía phải, C tiến đến cầm vào phần bao dao bằng gỗ có đựng con dao nhọn mà ông H đang cầm để giằng co với ông H. Ông H quay mặt về phía C tiếp tục chửi và hỏi C làm gì thế, ông H vừa nói dứt câu, lập tức C dùng tay phải đấm vào phần ngực ông H, ông H dùng tay trái hất tay của C ra, làm bao dao bằng gỗ có đựng con dao nhọn rơi xuống đất. Vào 13 giờ 27 phút cùng ngày, C cầm bao dao bằng gỗ có đựng con dao nhọn của ông H đi vào nhà và đặt trên chiếc loa trên sập gỗ phòng khách của nhà C (tại thời điểm cho thấy K1 đang quan sát hành động của C). Ông H bị đánh đau, không tiếp tục đi câu mà quay lại theo hướng về nhà ông H. Khoảng 13 giờ 35 phút cùng ngày, khi ông H đến khu vực ngã ba trước cổng nhà C (phía bên trái tính từ cửa nhà C ra và là đường đi về nhà ông H) do bị đánh đau, ông H không tiếp tục đi được mà ngồi bệt giữa đường. Sau khi vào nhà cất bao dao bằng gỗ có đựng con dao nhọn, C quay ra ngoài, thấy ông H ngồi bệt giữa đường, không đứng dậy được, kêu tức bụng và nói không đi được. Cùng lúc đó ông Nguyễn Thanh Liêm sinh năm 1966, trú tại tổ 3 Phường NH, thành phố Hà Giang đang làm ở bãi gạch tiến đến gần, ông Liêm nhìn thấy C đang đứng đối diện với ông H, cách ông H 1,4m. Ông Liêm hỏi ông H: “Làm sao mà ngồi đấy?”, ông H trả lời: “Tao đi câu bị mấy con chó cắn”. C nghe thấy vậy liền tiến sát lại gần ông H, ông H nói với C: “Mày là hàng xóm mà quá đáng, mày đánh tao thế à, tao gọi cho cháu tao”. C nói: “ Đâu, tao đánh mày đâu, mày đừng vu oan cho tao”, giữa ông H và C lời qua tiếng lại với nhau, một lúc sau ông H không nói gì mà lấy điện thoại ra giơ lên, C nói: “Mày quay tao à”, ông H nói: “Tao gọi điện cho cháu tao, chứ có quay mày đâu, không tin mày kiểm tra” đồng thời ông H đưa chiếc điện thoại về phía C, C cầm lấy điện thoại từ tay của ông H kiểm tra và trả lại cho ông H.

Sau khi nói chuyện với C, ông H đi về nhà nằm ở giường ngoài phòng

khách và gọi bà Phạm Thị V (là vợ của ông H) và nói cho bàị V biết việc mình bị C Trang đánh, bàị V không nói gì. Ông H bảo bàị V đi lấy dầu về xoa bụng, bàị V lấy dầu về xoa bụng cho ông H xong và tiếp tục đi chợ bán rau.

Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày bàị V về nhà vẫn thấy ông H nằm

trên giường, bàị V không hỏi gì mà đi nấu cơm, rồi gọi ông H dậy ăn cơm. Ông H dậy và nói: “C Trang lấy con dao của tao, tao báo công an”, bàị V nói “Dây với nó làm gì”, ông H ngồi ăn được nửa bát cơm thì đứng dậy đi xuống bếp đi vệ sinh. Khoảng 01 phút sau thì ông H kêu: “V ơi”, nghe tiếng ông H gọi, bàị V chạy xuống thì nhìn thấy ông H đang ngồi bệt xuống nền xi măng của nhà bếp. Bàị V một mình không dìu ông H vào nhà được, nên chạy sang nhà bà Tạ Thị H4 sinh năm 1966 (chồng là Lý Văn V) và sang nhà ông Nguyễn Văn B4 sinh năm 1975 (đều là hàng xóm và trú cùng tổ dân phố với vợ chồng ông H) để nhờ sang giúp bàị V dìu ông H dậy. Sau đó bàị V gọi điện cho em gái ông H là Nguyễn Thị Thủy đến xem tình trạng của ông H thế nào.

Khi chị Thủy và chồng là Nguyễn Quang Huệ đến đã cùng mọi người dìu

và đưa ông H lên phòng khách, ông H nói với chị Thủy: “Em ơi, anh đau bụng quá, anh vỡ bụng rồi, anh khó thở quá, chiều thằng C Trang đánh anh”, thấy vậy chị Thủy gọi xe Taxi để đưa ông H đi bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Giang.

Khoảng 20 giờ 25 phút cùng ngày ông H được đưa đến viện trong tình

trạng ngừng tuần hoàn. Khoa cấp cứu Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Giang đã tiến hành cấp cứu sau 30 phút, xác định ông H đã tử vong.

Khoảng 21 giờ cùng ngày Nguyễn Trung K2 sinh năm 1980 trú tại tổ 16

phường TP, thành phố Hà Giang (là cháu ruột của ông H) đã gọi điện cho C và nói: “Hôm nay mày đánh ông H nhà tao à, ông ấy mất rồi...chú tao đang đi cấp cứu thì chết, nếu có, để tao biết đường giải quyết, trước lúc chết chú tao có nói lại là bị thằng C Trang đánh”, C nói: “Tao không có xích mích gì, có gì mày lên nhà tao”. Sau khi nói chuyện với K1 xong, C vào nhà lấy con dao đưa cho Trịnh Văn Khánh cầm đi, rồi gọi H vào bếp và nói: “Ông H chết rồi, mày đi về quê đi, chắc tý tao bị bắt, nếu 10 ngày không thấy tao ra mày lên nhận hộ tao”. Sau khi nói chuyện với C xong, K1 rủ Nguyễn Quốc Đ (cháu rể của ông H) đến nhà C để hỏi nguyên nhân thì C nói: “Biết đâu ông ý bệnh tật chết thì sao, mà có đánh một hai cái thì chết thế nào được”, ngồi nói chuyện tại nhà C khoảng 05 đến 07 phút thì Đ và K1 quay lại bệnh viện để lo mai táng cho ông H.

Tại biên bản khám nghiệm tử thi hồi 23 giờ 15 phút ngày 02/5/2018 đối

với Nguyễn Văn H, phần các dấu vết tổn thương trên cơ thể đã ghi nhận: "Vùng ngực, bụng: 1/2 dưới xương ức, sát đường giữa có vết bầm tụ máu, kích thước 2 x 0,5cm, bụng không có dấu vết tổn thương ngoài da (vết bầm tím không rõ hình)".

Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 168/PC54-KLPY ngày

30/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang ghi:

Mục 4.2 Nhận xét và đánh giá:

- Tổn thương tụ máu da cơ 1/2 dưới xương ức do vật tày có diện tiếp xúc

giới hạn gây nên; không là nguyên nhân mất máu gây tử vong.

- Tổn thương tụ máu ổ bụng và sau phúc mạc do vật tày tác động vào

vùng hạ sườn - lưng trái gây nên.

Mục V Kết luận:

1. Nguyên nhân chết của ông Nguyễn Văn H: sốc mất máu cấp.

2. Cơ chế hình thành thương tích trên thân thể ông Nguyễn Văn H:

- Tổn thương 1/2 dưới xương ức là do vật tày có diện tiếp xúc giới hạn

gây nên.

- Tổn thương trong ổ bụng và sau phúc mạc do vật tày tác động vào vùng

hạ sườn - lưng trái gây nên.

3. Vi thể

Hình ảnh thiếu máu các tạng, phổi giãn phế quản- phế nang, gan thoái hóa

mỡ mức độ nhẹ, viêm thận mãn mức độ nhẹ, xơ cứng động mạch nhiều tạng.

4. Độc chất

Trong mẫu phủ tạng và máu của Nguyễn Văn H không tìm thấy các chất

độc thường gặp.

Kết luận giám định hóa pháp số: 240/137/171/18/HP ngày 16/5/2018 của

Viện pháp y Quốc gia, Kết luận: Trong mẫu phủ tạng và máu của nạn nhân Nguyễn Văn H, sinh năm 1963 do Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang gửi tới giám định ngày 04/5/2018 không tìm thấy các chất độc nêu trên.

Kết luận giám định mô bệnh học số: 2358/C54-TT1 ngày 28/5/2018 của

Viện khoa học hình sự - Bộ Công an, Kết luận: Hình ảnh thiếu máu các tạng/phổi giãn phế quản - phế nang, gan thoái hóa mỡ mức độ nhẹ, viêm thận mãn mức độ nhẹ, xơ cứng động mạch nhiều tạng.

Kết luận giám định số 3109/C09-P6 ngày 30/8/2018 của Viện khoa học

hình sự - Bộ Công an) thể hiện hình ảnh được trích xuất từ Camera thu giữ tại nhà Đào Việt C: Lúc 13 giờ 21 phút 44 giây xuất hiện Hoàng Trung K1 đang đi về phía nhà Đào Việt C, phía sau K1 là ông Nguyễn Văn H đang ôm một chiếc túi trong tư thế đang cúi, tay trái ôm túi, tay phải kéo séc lấy dao ra. Khi ông H đi đến gần trước cổng nhà C lúc 13 giờ 21 phút 55 giây thì ông H rút từ trong túi ra một vật có cán nhỏ, phần thân to như một chiếc dao, phía sau ông H lúc này xuất hiện Đào Đình H1 hai tay đang bê nồi cho chó ăn. Khi ông H đi đến chỗ khu vực cây đào thì xuất hiện Đào Việt C cởi trần, mặc quần đùi rằn ri và chỉ tay về hướng ông H (lúc 13 giờ 22 phút 00 giây) còn H vẫn đứng vị trí cũ bưng nồi và cho 02 con chó ăn. C đi qua H và đi theo tiếp cận phía sau ông H, lúc này H2 (sống như vợ chồng với C) cũng xuất hiện trước cổng nhà gần cây đào (lúc 13 giờ 22 phút 07 giây). Sau đó Hoàng Trung K1 đi từ cổng nhà C ra và đi về hướng C vừa đi (lúc 13 giờ 22 phút 11 giây), tiếp sau đó là Đỗ Văn Đ chạy từ trong nhà C ra bên ngoài cửa và chạy về hướng C (lúc 13 giờ 22 phút 54 giây), đến 13 giờ 27 phút 40 giây C quay về cổng nhà, tay phải cầm vật gì đó nghi là điện thoại, tay trái cầm vật có hình dáng mầu sắc giống với vật mà nạn nhân Hào cầm theo mang về nhà và K1 đứng ở mép đường nhìn C đi vào nhà.

Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2019/HS-ST, ngày

21/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Đào Việt C phạm tội “Cố ý gây thương tích”; áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Đào Việt C 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2018;

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 591 Bộ luật

dân sự, buộc bị cáo Đào Việt C phải bồi thường cho bà Phạm Thị V số tiền chi phí cứu chữa, mai táng phí ông H số tiền 248.353.012 đồng; tiền chi phí cấp dưỡng bà Nguyễn Thị Tý (sinh năm 1937 là mẹ đẻ ông Nguyễn Văn H) mức tiền 400.000 đồng/ tháng kề từ tháng 5/2018 cho đến khi bà Tý chết.

Ngoài ra, bản án còn xử lý vật chứng, buộc nghĩa vụ chịu lãi suất chậm thi

hành án, buộc nghĩa vụ chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/11/2019 bị cáo Đào Việt C có đơn kháng

cáo kêu oan. Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Bị cáo C trình bày: Bản án sơ thẩm quy kết bị cáo là không đúng, bị cáo bị

oan; giữa bị cáo và ông H không có mâu thuẫn gì; tại thời điểm đó bị cáo không chứng kiến được việc ai đánh ông H; bị cáo cũng không đi theo ông H mà chỉ đi tìm chó; sau khi đưa chó vào nhà xích bị cáo quay ra thì thấy ông H quay lại phía bị cáo và khi khoảng cách giữa bị cáo với ông H khoảng 2m thì bị cáo nghe ông H nói “Ra chưa”; trong quá trình điều tra có lời khai bị cáo khai chứng kiến H đánh ông H, có lời khai bị cáo nhận mình đánh ông H, nhưng tất cả các lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án đều do bị ép cung; dọa chuyển trại nên bị cáo mới khai như vậy. Việc bị cáo nhận tội ngoài bị ép cung thì bị cáo còn nghe Luật sư thông báo con H bị chết nên bị cáo định nhận tội thay cho H. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét làm sáng tỏ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm:

Sau khi phân tích, đánh giá hành vi phạm tội thấy cấp sơ thẩm xét xử, quy kết bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ, đúng pháp luật không oan; khi xét xử cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, đã xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đã xử phạt bị cáo mức án 09 năm tù là phù hợp; tại cấp phúc thẩm không có thêm tình tiết gì mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Vì vậy, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

* Những người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm:

+ Luật sư Nguyễn Thanh T trình bày: Phải xem xét hành vi của bị cáo tạo

ra phải dẫn đến chết người thì bị cáo mới bị truy tố theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự; trong vụ án này chưa đủ yếu tố chứng minh hành vi của bị cáo C đánh ông H dẫn đến chết. Bởi vì, tại Bản kết luận giám định pháp y số 168/PC54-KLPY ngày 30/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang ghi:

Mục 4.2 Nhận xét và đánh giá:

- Tổn thương tụ máu da cơ 1/2 dưới xương ức do vật tày có diện tiếp xúc

giới hạn gây nên; không là nguyên nhân mất máu gây tử vong.

- Tổn thương tụ máu ổ bụng và sau phúc mạc do vật tày tác động vào

vùng hạ sườn - lưng trái gây nên.

Mục V Kết luận:

1. Nguyên nhân chết của ông Nguyễn Văn H: sốc mất máu cấp.

2. Cơ chế hình thành thương tích trên thân thể ông Nguyễn Văn H:

- Tổn thương 1/2 dưới xương ức là do vật tày có diện tiếp xúc giới hạn

gây nên.

- Tổn thương trong ổ bụng và sau phúc mạc do vật tày tác động vào vùng

hạ sườn - lưng trái gây nên.

Như vậy, người bị hại có hai vết thương, trong khi lời khai nhận tội của bị

cáo chỉ nhận đánh ông H một cái và vết đánh này có phải là nguyên nhân dẫn đến cái chết của ông H hay không; khi bàị V xoa dầu cho ông H không phát hiện thấy thương tích, nhưng khi khám nghiệm tử thi lại có hai vết thương; đặc biệt có vết thương ở vùng hạ sườn bên trái; những người làm chứng như bà Học, ông Bình đều cho rằng khi đến thấy ông H bị ngã trên sàn nhà bếp, phải chăng đây là nguyên nhân dẫn đến các thương tích trên người ông H nhưng cũng chưa được làm rõ; hình ảnh trích xuất Camera cho thấy bị cáo đi sau ông H điều này phù hợp với lời khai của bị cáo là đi bắt chó; Hoàng Trung K1 không khai nhận việc C nói “Biết đâu ông ấy bệnh chết thì sao, đánh 1, 2 cái chết làm sao được” nhưng bản án sơ thẩm vẫn lấy đó làm căn cứ để buộc tội bị cáo là thiếu thuyết phục.

Từ những phân tích trên, Luật sư Tùng đề nghị hủy bản án sơ thẩm để

đình chỉ vụ án.

+ Luật sư Võ Văn Tr phát biểu: Tại bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân

dân tỉnh Hà Giang khẳng định trong quá trình điều tra lời khai của bị cáo không ổn định nhưng vẫn lấy đó làm căn cứ để buộc tội bị cáo là thiếu căn cứ. Các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm đang dùng hai hệ thống chứng cứ để buộc tội bị cáo là: Lời khai những người làm chứng và các kết luận giám định. Tuy nhiên, hệ thống chứng cứ này có nhiều mâu thuẫn. Cụ thể: Với một người mất 1,2 lít máu chảy trong ổ bụng thì còn đủ tỉnh táo để nhận biết được và nói mình bị đánh không, điều này phù hợp với lời khai của ông Bình, anh Đ là nghe vợ nói ông H đi cấp cứu do té ngã, phù hợp với lời khai của chị Thủy; Kết luận giám định thể hiện ông H chết do vết thương hạ sườn lưng trái nhưng quá trình điều tra không làm rõ được; mặc dù các ngày 14, 15/6/2018 bị cáo khai nhận hành vi phạm tội có sự chứng kiến của Kiểm sát viên và Luật sư nhưng cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát phải chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, nhưng vẫn không chứng minh được nên phải áp dụng nguyên tắc ruy đoán vô tội để tuyên bị cáo không phạm tội. Vì vậy, Luật sư Trà đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo không phạm tội và trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.

Sau khi tranh luận đối đáp, Luật sư Võ Văn Tr đề nghị lại là hủy bản án

sơ thẩm để điều tra lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ

vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên tòa phúc thẩm mặc dù bị cáo Đào Việt C không thừa nhận

hành vi đánh ông H; bị cáo cho rằng tất cả các lời khai, bản tự khai trong qua trình điều tra là đều do bị ép cung, dọa đánh, chuyển trại nên bị cáo khai theo hướng dẫn của Điều tra viên. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của những người làm chứng như ông Nông Văn Lá, bà Nguyễn Thị Lan, ông Nguyễn Thanh Liêm; lời khai của bà Phạm Thị V, bà Nguyễn Thị Thủy, ông Nguyễn Quang Huệ cùng những người làm chứng khác thấy phù hợp với những hình ảnh trích xuất từ Camera thu giữ tại nhà của bị cáo Đào Việt C thể hiện C đã đi về phía ông H khi ông H đi qua trước cửa nhà C, sau khi quay về C đã cầm trên tay một vật giống con dao, xác định được là con dao mà ông H lấy trong túi đồ câu cầm ở tay khi ở trước nhà C, điều này phù hợp với lời khai của Đào Đình H1 chứng kiến việc ông H lấy dao ra để đánh, đuổi chó khi đàn chó của bị cáo đuổi ông H; phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại các biên bản hỏi cung ngày 14, 15/6/2018 và bản tự khai do bị cáo tự viết; ngoài ra còn phù hợp với các chứng cứ khác như các kết luận giám định, các kết quả xác định hiện trường theo lời khai nhận tội của bị cáo, theo lời khai của những người làm chứng. Mặc dù bị cáo cũng như người bào chữa cho bị cáo cho rằng, bị cáo khai nhận tội là do nhận được tin con trai của Đào Đình H1 bị chết, cũng như bị cáo bị đe dọa chuyển trại tạm giam, bị ép khai nhận tội nhưng lời khai của bị cáo và lời bào chữa cho bị cáo không có căn cứ để chấp nhận. Bởi vì, trong ngày 14/6/2018 Cơ quan Điều tra đã tiến hành hỏi cung bị cáo 02 lần, theo các biên bản hỏi cung thì ngoài Điều tra viên còn có sự tham gia của Luật sư Cao Xuân Bé, 01 bản cung có sự tham gia của ông Nguyễn Ngọc Chiến Kiểm sát viên, đồng thời cũng trong ngày 14/6/2018 bị cáo Đào Việt C đã tự viết 02 bản tự khai, các bản tự khai này đều có Điều tra viên và Luật sư Cao Xuân Bé chứng kiến và ký xác nhận; ngày 15/6/2018 Cơ quan Điều tra tiến hành hỏi cung bị cáo có sự tham gia của Luật sư Cao Xuân Bé và Luật sư Nguyễn Thanh T. Hơn nữa, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo C khai là do bị ép cung nên bị cáo đã khai cho H đánh ông H, nhưng lại khai việc mình nhận tội vào các ngày 14, 15/6/2018 là biết tin con H bị chết nên nhận tội thay cho H, việc khai nhận này có sự mâu thuẫn, thiếu căn cứ. Do đó, từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ 13 giờ 21 đến 13 giờ 28 ngày 02/5/2018 trước nhà Đào Việt C ở số 18, ngõ 273, đường LTK thuộc tổ 4, phường NH thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang, Đào Việt C đã xẩy ra xô xát với ông Nguyễn Văn H, C đã có hành vi đánh ông H làm ông H bị đau không đi câu được, khi quay về nhà ông H đã nói cho bà Phạm Thị V là vợ biết việc mình bị C đánh, bàị V đã lấy dầu xoa bụng cho ông H. Đến khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, trong lúc ăn cơm ông H tiếp tục kêu đau và nói chuyện bị C đánh, sau đó ông H đi xuống bếp, khoảng 01 phút sau bàị V nghe ông H gọi “Vui ơi” nên chạy xuống bếp thấy ông H ngồi bệt ở nền nhà; do một mình không đỡ ông H dậy được nên bàị V phải nhờ hàng xóm là bà Tạ Thị Học và ông Nguyễn Văn Bình sang dìu ông H dậy, đồng thời bàị V gọi điện cho Nguyễn Thị Thủy (là em gái ông H) đến đưa ông H đi cấp cứu. Hậu quả ông H bị tử vong sau đó. Hành vi đó của bị cáo Đào Việt C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”; tội phạm được quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự, cấp sơ thẩm quy kết đối với bị cáo là có căn cứ; bị cáo không bị oan. Các Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghỉ hủy bản án sơ thẩm là không có căn cứ để chấp nhận.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã

hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, còn gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân; việc gây thương tích của bị cáo dẫn đến ông H tử vong, nên cấp sơ thẩm quy kết, xét xử bị cáo theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Như đã phân tích ở

trên thì bị cáo không bị oan. Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất rất nghiêm trọng của vụ án; đã xem xét đến các yếu tố như bị cáo không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử lý hành chính, thậm chí đã nhiều lần bị đưa ra xét xử bằng những mức hình phạt nghiêm khắc, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu chí, sửa chữa bản thân, nên cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 09 năm tù là phù hợp, không cao. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Cấp sơ thẩm đã buộc bị cáo phải bồi thường cho

đại diện hợp pháp cho bị hại tổng số tiền 248.353.012 đồng là những chi phí thực tế hợp lý trong quá trình cứu chữa, chi phí mai táng cho ông H, cũng như tiền tổn thất tinh thần là có căn cứ. Ngoài ra, cấp sơ thẩm còn buộc bị cáo phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi bà Nguyễn Thị Tý (là mẹ ông H) với số tiền 400.000đ/ tháng là phù hợp với thu nhập bình quân đối với lao động phổ thông tại địa phương. Tại phiên tòa phúc thẩm không có thêm tình tiết gì mới làm căn cứ giảm mức bồi thường dân sự, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà

Nội đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm là có căn cứ.

Bị cáo không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu án phí hình sự

phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị

kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; không

chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Việt C; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2019/HS-ST ngày 21/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang;

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị

cáo Đào Việt C (C Trang) 09 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2018;

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 591 Bộ

luật dân sự, buộc bị cáo Đào Việt C phải bồi thường cho bà Phạm Thị V số tiền chi phí cứu chữa, mai táng phí ông H số tiền 248.353.012 đồng; tiền chi phí cấp dưỡng bà Nguyễn Thị Tý (sinh năm 1937 là mẹ đẻ ông Nguyễn Văn H) mức tiền 400.000 đồng/ tháng kể từ tháng 5/2018 cho đến khi bà Tý chết. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, gia đình bị hại có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí: Bị cáo Đào Việt C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc

thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 54/2019/HS-ST ngày

21/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ