vanban.org

Bản án 333/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ngô Thị T, cho chị Ngô Thị T được ly hôn với anh Lê Văn Trường H.

Về con chung: Giao cháu Lê Ngô Thanh T, sinh ngày 19/12/2005 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa chị Ngô Thị T và anh Lê Văn Trường H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ngô Thị T, cho chị Ngô Thị T được ly hôn với anh Lê Văn Trường H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG TÂY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 333/2019/HNGĐ-ST
Ngày 18-9-2019
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thăng.

Ông Nguyễn Văn Khoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Huỳnh Phúc Tài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Ngô Bảo Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 208/2019/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 66/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị T, sinh năm 1981 (Có mặt).

Hộ khẩu thường trú: Điểm D, xã C, huyện P, tỉnh Gia Lai.

Tạm trú: Khu phố B, phường T, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Anh Lê Văn Trường H, sinh năm 1984 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn ly hôn ngày 18/6/2019 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Ngô Thị T trình bày:

- Về hôn nhân: Chị T và anh Lê Văn Trường H bắt đầu chung sống từ năm 2004, có tổ chức lễ cưới và đến năm 2005 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Sau khi kết hôn, chị và anh H chung sống hạnh phúc. Đến cuối năm 2016, giữa chị và anh H phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H ngoại tình. Chị đã nhiều lần cho anh H cơ hội sửa đổi, tiếp tục chung sống 01 năm nhưng vẫn không hàn gắn được tình cảm. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Chị nhận thấy không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân với anh H nên yêu cầu được ly hôn.

- Về con chung: Chị T và anh H có 01 con chung tên Lê Ngô Thanh T, sinh ngày 19/12/2005. Hiện tại cháu T đang sống chung với ba mẹ chị T tại tỉnh Gia Lai. Cháu T có cuộc sống ổn định và đang đi học tại địa phương. Chị T đang sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh nhưng chị sẽ sắp xếp chuyển về Gia Lai sống cùng cháu T. Do đó, chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T. Chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra không còn yêu cầu gì khác.

Bị đơn anh Lê Văn Trường H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh H không đến Tòa án và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các thủ tục tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án, đề nghị:

+ Về hôn nhân: Cho chị T ly hôn với anh H.

+ Về con chung: Giao cháu Lê Ngô Thanh T, sinh ngày 19/12/2005 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.

+ Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Ngô Thị T yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn Trường H và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Ngô Thanh T nên đây là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lê Văn Trường H có nơi cư trú tại ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Anh Lê Văn Trường H đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt anh H.

Về hôn nhân: Chị T và anh H chung sống trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã B cấp giấy chứng nhận kết hôn số 75 ngày 03/10/2005 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Quá trình chung sống, giữa chị T và anh H xảy ra mâu thuẫn kéo dài không tự hàn gắn được. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập để tiến hành hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm giữa hai bên nhưng anh H vẫn vắng mặt không lý do, điều đó chứng tỏ anh H không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, không còn quan tâm đến hôn nhân giữa anh với chị T.

Thấy rằng, giữa chị T và anh H không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, nên cần xác định tình trạng mâu thuẫn giữa chị T và anh H đã trầm trọng, hạnh phúc hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị T và anh H có 01 con chung tên Lê Ngô Thanh T, sinh ngày 19/12/2005. Chị T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu T. Quá trình điều tra, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho anh H trong đó có nêu rõ về yêu cầu về con chung của chị T, nhưng anh H không thể hiện nguyện vọng của mình đối với con chung.

Do anh H vắng mặt nên không có sự thỏa thuận với chị T về việc nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng, hiện cháu T còn nhỏ và đang sống chung với ông bà ngoại tại tỉnh Gia Lai. Mặc dù chị T sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng chị cam kết sắp xếp công việc chuyển về Gia Lai sống cùng với cháu T. Để tạo điều kiện thuận lợi, đảm bảo cho sự phát triển bình thường cho cháu nên cần thiết giao cháu T cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng; điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu T là được sống với chị T. Nếu sau này chị T và anh H có tranh chấp về việc nuôi dưỡng con chung sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 3 Điều 228 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Thi hành án dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ngô Thị T, cho chị Ngô Thị T được ly hôn với anh Lê Văn Trường H.

2. Về con chung: Giao cháu Lê Ngô Thanh T, sinh ngày 19/12/2005 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh H có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.

3. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 40335 ngày 18/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây, nên chị T đã nộp xong án phí.

Anh H không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị T được quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Anh H vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ