- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 333/2018/ HNGĐ-ST Ngày: 31- 8-2018 V/v: Tranh chấp, xin ly hôn Giữa chị G với anh R |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU
Thành phần Hội đồng xát xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Minh
-Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Cư;
2. Ông Lê Trường Vũ.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Dương Thị Mộng Thu- thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Thịnh- kiểm sát viên
Ngày 31 thaùng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu mở phiên Tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 64/2018/TLST – HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2018 về việc “Tranh chấp, ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 301/ 2018/ QĐXXST- HNGĐ ngày 16/7/2018 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1994; địa chỉ cư trú: Tổ 12, khóm Long An A, phường Long Phú, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang ( có mặt);
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn R, sinh năm 1990; địa chỉ cư trú: Tổ 13, khóm Long Thị B, phường Long Hưng, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. (vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị G đề ngày 23/2/2018 và tại phiên tòa thể hiện như sau:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị G với anh Nguyễn Văn R yêu nhau được cha mẹ hai bên đồng ý và tổ chức lễ cưới vào năm 2011, sau đó anh chị đến UBND phường Long Phú đăng ký kết hôn trễ hạn, theo giấy chứng nhận kết hôn số 18 ngày 27/02/2015. Sau khi cưới nhau vợ chồng sống có hạnh phúc đến năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn giữa hai người càng ngày càng lớn, hai
1 người sống ly thân kể từ đó cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại được, do đó chị G xin được ly hôn với anh R.
Về con chung: Theo chị G trong thời gian sống chung chị với anh R có với nhau hai đứa con chung tên Nguyễn Văn S, sinh ngày 22/3/2011 và Nguyễn Văn T, sinh ngày 11/4/2015 hiện cả hai cháu đang sống với anh R. Khi ly hôn chị G yêu cầu được nuôi cháu S, anh R nuôi cháu T, chị G không yêu cầu anh R cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản và nợ chung: Theo chị G, chị với anh R không có tài sản và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Văn R được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh R vẫn vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến của mình.
Ý kiến phát biểu của đại diện viện kiểm sát: Về tố tụng Thẩm phán đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án, cho đến khi mở phiên tòa xét xử và tại phiên tòa HĐXX đã thực hiện đầy đủ, đúng theo trình tự thủ tục mà Bộ luật tố tụng dân sự quy định; về nội dung, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ vụ án được công bố thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử ( sau đây gọi HĐXX) xét thấy:
[1] Áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án “tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
. Về áp dụng pháp luật nội dung: Sự kiện pháp lý xảy ra, theo đơn khởi của chị Nguyễn Thị G đề ngày 23/02/2018 xin ly hôn với anh Nguyễn Văn R vì vậy cần áp dụng luật hôn nhân gia đình năm 2014 để giải quyết vụ án.
Hôn nhân giữa chị G với anh R có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, Theo biên bản xác minh ngày 12/7/2018 thì anh R có hộ khẩu thường trú tại tổ 13, khóm Long Thị B, phường Long Hưng, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang anh R đi làm ăn xa không báo với địa phương. Như vậy anh R cố tình tre dấu địa chỉ. Do đó Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luậ tố tụng dân sự.
Về nội dung:
. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị G với anh Nguyễn Văn R yêu nhau được cha mẹ hai bên đồng ý và tổ chức lễ cưới vào năm 2011, sau đó anh chị đến UBND phường Long Phú, đăng ký kết hôn trễ hạn, theo giấy chứng nhận kết hôn số 18 ngày 27/02/2015. Sau khi cưới nhau vợ chồng sống có hạnh phúc đến năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn giữa hai người càng ngày càng lớn, hai người sống ly thân kể từ đó cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại được, do đó chị G xin được ly hôn với anh R.
2
Anh Nguyễn Văn R đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh R vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản nêu ý kiến quan điểm của mình. Theo chị G trình bày phần trên thì tình cảm giữa hai người đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2016 và anh chị không còn sống chung cho đến nay. Như vậy cho thấy tình cảm giữa chị G với anh R đã mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nay chị G xin ly hôn với anh R là hợp lý. Được HĐXX chấp nhận, nghĩ nên cho chị G ly hôn với anh R là phù hợp
. Về con chung: Theo chị G trong thời gian sống chung chị với anh R có với nhau hai đứa con chung tên Nguyễn Văn S, sinh ngày 22/3/2011 và Nguyễn Văn T, sinh ngày 11/4/2015 hiện cả hai cháu đang sống với anh R. Khi ly hôn chị G yêu cầu được nuôi cháu S và anh R nuôi cháu T và không yêu cầu anh R cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cả hai cháu S và T hiện đang sống với anh R, cuộc sống cũng như môi trường sống của hai cháu đang ổn định. Tại phiên tòa hôm nay chị G tự nguyện giao cháu S và cháu T cho anh R được tiếp tục nuôi dưỡng và chị G không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy sự tự nguyện này của chị G là hợp lý nên được HĐXX công nhận.
“ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con; chị G có quyền đến thăm nom con chung, không ai được cản trở; cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng sấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”
. Về tài sản và nợ chung: Theo chị Nguyễn Thị G trình bày thì chị với anh R không có tài sản chung và cũng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó HĐXX không đặt ra để gải quyết trong bản án này. Sau này nếu anh R cho rằng giữa anh với chị G có tài sản và nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì anh R vẫn có quyền khởi kiện chị G ra Tòa án để yêu cầu giải quyết trong vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị G là nguyên đơn, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại điểm a khoản 5 Điều 27 nghị Quyết số 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án thì chị Nguyễn Thị G phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, chị G được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0004481 ngày 07/3/2018 của chi cục thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Vì các lẽ trên.
QUYEÁT ÑÒNH:
Áp dụng Điều 56; 81; 82; 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Khỏan 1 Điều 28; Điều 35; Khoản 4 Ñieàu 147; khoản 2 Điều 227, 228 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Điểm a khoản 5 Điều 27 nghị Quyết số
3 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị G được ly hôn với anh Nguyễn Văn R.
- Về con chung: Công nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị G, tự nguyện giao hai cháu tên Nguyễn Văn S, sinh ngày 22/3/2011 và Nguyễn Văn T, sinh ngày 11/4/2015 cho anh Nguyễn Văn R được tiếp tục nuôi dưỡng, chị G không phải cấp dưỡng nuôi con. “ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con; chị G có quyền đến thăm nom con chung, không ai được cản trở; cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng sấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”
- Về tài sản và nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Nếu giữa hai người có tranh chấp với nhau về tài sản và nợ trong thời gian chung sống thì anh Nguyễn Văn R vẫn có quyền khởi kiện chị Nguyễn Thị G yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án khác theo quy định của pháp luật;
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: chị Nguyễn Thị G phải chịu 300.000 đồng, chị G được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0004481 ngày 07/3/2018 của chi cục thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án chị G có quyền kháng cáo. Anh Nguyễn Văn R vắng mặt vẫn được quyền kháng cáo trong hạn trên kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nôi nhaän:
| -TAND tænh An Giang; -VKSND tænh An Giang; -VKSND thò xa Tân Châu; -THA thò xaõ Tân Châu; -Caùc ñöông söï; -Löu hoà sô; -Löu: VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thế Minh 4 |