vanban.org

Bản án 3326/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T (Việt Nam):

Buộc ông Dương Nguyễn Quốc A có nghĩa vụ trả cho Công ty T (Việt Nam) số tiền còn nợ tính tới ngày 24/7/2024 là 62.113.605 (sáu mươi hai triệu một trăm mười ba nghìn sáu trăm lẻ năm) đồng, (trong đó dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 31.752.801 đồng, lãi trong hạn là 20.655.655 đồng, lãi quá hạn l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Công ty T (Việt Nam) - Dương Nguyễn Quốc A"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T (Việt Nam):
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 3326/2024/DS-ST
Ngày: 24/7/2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Đoàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Lượng

2. Bà Phan Thị Mai Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Vũ Lê Quang Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1224/2023/TLST-DS ngày 03/10/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 4591/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam)

Địa chỉ trụ sở: số I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền:

Bà Lâm Thị Thùy D, sinh năm 2000 (có yêu cầu vắng mặt)

Địa chỉ: P, Tầng D, Tòa nhà số G T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Văn bản ủy quyền ngày 06/6/2024)

2. Bị đơn: Ông Dương Nguyễn Quốc A, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Địa chỉ: 13.3 K-D1 L-13 chung cư T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lâm Thị Thùy D là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 10/8/2022, Công ty T (Việt Nam) (sau đây gọi tắt là Công ty) có ký Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 3482139 (gọi tắt là hợp đồng) về việc cấp tín dụng cho ông Dương Nguyễn Quốc A với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng, lãi suất trong hạn là 44%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Sau khi hợp đồng được ký kết, Công ty đã giải ngân đủ số tiền vay cho ông A bằng cách chuyển vào tài khoản cá nhân của ông Dương Nguyễn Quốc A, số tài khoản: 55110001355833. Theo nội dung của hợp đồng, ông Dương Nguyễn Quốc A có nghĩa vụ thanh toán trả góp hàng tháng với số tiền là 1.627.043 đồng vào ngày 15 hàng tháng, thanh toán trong thời hạn 36 tháng, kể từ ngày 15/9/2022 đến ngày 15/8/2025. Kể từ ngày được giải ngân đến nay ông Dương Nguyễn Quốc A chỉ mới thanh toán cho Công ty được 01 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán là 1.627.043 đồng. Ngày 15/9/2022 là ngày thanh toán cuối cùng. Từ ngày 16/9/2022 đến nay ông A không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Công ty đã liên hệ nhắc nợ qua điện thoại, gửi thư đề nghị thanh toán để thông báo trực tiếp cho ông A biết việc quá hạn thanh toán. Tuy nhiên, ông A vẫn không thực hiện nghĩa vụ như đã ký kết với Công ty.

Nhận thấy, ông Dương Nguyễn Quốc A đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trả nợ, làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn có trách nhiệm thanh toán tổng số tiền tính đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm (ngày 24/7/2024) là 62.113.605 đồng, (trong đó dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 31.752.801 đồng, lãi trong hạn là 20.655.655 đồng, lãi quá hạn là 7.669.915 đồng; lãi chậm trả là 2.035.234 đồng. Đồng thời, nguyên đơn yêu cầu ông A phải thanh toán lãi, phí phát sinh kể từ ngày 25/7/2024 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ, theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký.

Nguyên đơn xác định chỉ cấp tín dụng cho ông Dương Nguyễn Quốc A vay để tiêu dùng cá nhân nên chỉ yêu cầu cá nhân ông A có trách nhiệm trả tiền, không liên quan đến ai khác. Ngoài ra nguyên đơn không có yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn ông Dương Nguyễn Quốc A trong suốt quá trình chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn không đến Tòa, không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không có yêu cầu phản tố.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự, tiến hành thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát cùng cấp nghiên cứu, thành phần Hội đồng xét xử và nguyên tắc xét xử. Về thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án; bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng :

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Tranh chấp giữa Công ty T (Việt Nam) và ông Dương Nguyễn Quốc A phát sinh quan hệ tranh chấp từ hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn ông Dương Nguyễn Quốc A có nơi cư trú cuối cùng tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

. Về sự vắng mặt của các đương sự: Đại diện nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Dương Nguyễn Quốc A vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

. Về nội dung vụ án:

Xét thấy, đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 3482139 ngày 10/8/2022 được ký kết giữa Công ty T (Việt Nam) và ông Dương Nguyễn Quốc A là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, hợp đồng được lập thành văn bản có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 91 và Điều 108 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, nên đã phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý ràng buộc trách nhiệm các bên phải thực hiện.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Dương Nguyễn Quốc A đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập đến Tòa để trình bày ý kiến, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa sơ thẩm. Tuy nhiên, bị đơn vẫn vắng mặt không rõ lý do, không nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng thời không cung cấp các tài liệu chứng cứ liên quan đến giao dịch vay tiền giữa hai bên, coi như bị đơn đã từ bỏ quyền được pháp luật quy định. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Công ty T (Việt Nam) có cho ông Dương Nguyễn Quốc A vay số tiền 31.980.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 44%/năm, mục đích ông A vay để tiêu dùng, thời hạn vay là 36 tháng. Ông A có nghĩa vụ thanh toán theo phương thức trả góp hàng tháng với số tiền là 1.627.043 đồng, trả liên tục trong kỳ hạn 36 tháng, vào ngày 15 hàng tháng kể từ ngày 15/9/2022 đến ngày 15/8/2025. Tuy nhiên, kể từ ngày được giải ngân đến nay ông A chỉ thanh toán được 01 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán là 1.627.043 đồng, mặc dù nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu ông A thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng thời hạn theo thỏa thuận. Tính đến ngày 24/7/2024, bị đơn ông Dương Nguyễn Quốc A còn nợ nguyên đơn số tiền 62.113.605 đồng, (trong đó dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 31.752.801 đồng, lãi trong hạn là 20.655.655 đồng, lãi quá hạn là 7.669.915 đồng; lãi chậm trả là 2.035.234 đồng. Việc bị đơn không thanh toán tiền vay đầy đủ cho nguyên đơn theo thỏa thuận giữa hai bên là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay tiền. Vì vậy, Công ty T (Việt Nam) khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Dương Nguyễn Quốc A thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc và tiền nợ lãi phát sinh là phù hợp với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng đã ký và phù hợp với quy định tại Điều 95 Luật Các tổ chức Tín Dụng năm 2010 và quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Nhận thấy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải tiếp tục chịu trách nhiệm trả tiền lãi, phí phát sinh từ ngày tiếp theo ngày Tòa án mở phiên tòa xét xử (ngày 24/7/2024) cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ là phù hợp với thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng tín dụng đã ký, phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức Tín Dụng năm 2010, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở và phù hợp.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Dương Nguyễn Quốc A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5, Điều 6, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40, Điều 92, Điều 147, Điều 186, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273, Điều 280, Điều 482 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 91, Điều 95, Điều 96, Điều 108 và Điều 111 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 40, Điều 274, Điều 275, Điều 278 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T (Việt Nam):

Buộc ông Dương Nguyễn Quốc A có nghĩa vụ trả cho Công ty T (Việt Nam) số tiền còn nợ tính tới ngày 24/7/2024 là 62.113.605 (sáu mươi hai triệu một trăm mười ba nghìn sáu trăm lẻ năm) đồng, (trong đó dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 31.752.801 đồng, lãi trong hạn là 20.655.655 đồng, lãi quá hạn là 7.669.915 đồng; lãi chậm trả là 2.035.234 đồng).

Kể từ ngày 25/7/2024, ông Dương Nguyễn Quốc A còn phải tiếp tục thanh toán các khoản tiền lãi phát sinh tương ứng với số dư nợ gốc chưa thanh toán của khoản vay, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 3482139 ngày 10/8/2022 ký kết giữa hai bên, cho đến khi ông Dương Nguyễn Quốc A thanh toán xong các khoản nợ.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Dương Nguyễn Quốc A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.105.680 (ba triệu một trăm lẻ năm nghìn sáu trăm tám mươi) đồng.

Hoàn trả cho Công ty T (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.075.803 (một triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn tám trăm lẻ ba) đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0005239 ngày 02/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền và thời hạn kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ