- Tranh chấp gì? án hình sự — "Siu L - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Siu L, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2023/HS-ST ngày 16/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 332/2023/HS-PT Ngày: 24-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Võ Ngọc Thông;
Các Thẩm phán:
ông Trần Quốc Cường;
bà Võ Thị Ngọc Dung.
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Quách Đức Dũng, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân
cấp cao tại Đà Nẵng và tại điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 291/2023/TLPT-HS ngày 21 tháng 6 năm 2023 đối v i bị cáo Siu L về tội “Giết người”. Do có kháng cáo của bị cáo đối v i Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2023/HS-ST ngày 16/5/2023 của
Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Bị cáo có kháng cáo:
Siu L; sinh ngày: 01/01/1990, tại Gia Lai. Nơi thường trú và nơi ở: thôn T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Jrai; gi i tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Rơ Lan C và bà Siu C1 (đã chết); bị cáo có vợ là Rơ Lan B, có 02 con sinh năm 2007 và sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đầu thú ngày 11/11/2022 và tạm giữ, tạm giam cho đến nay; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: ông Trần Văn C2 – Luật sư thuộc đoàn Luật sư tỉnh G. có mặt.
- Người phiên dịch: bà Nay H – phiên dịch tiếng jrai, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2003, Hồ Văn C3 sinh sống như vợ chồng v i chị Siu H1 (Sinh năm: 1983; trú tại: thôn T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai) và có bốn con chung. Sau đó, Hồ Văn C3 lấy tên là Siu C4 vì muốn lấy họ của chị Siu H1. Đến năm 2006, thì Siu H1 và Siu C4 làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai và Siu C4 đăng ký hộ khẩu thường trú tại nhà chị Siu H1 tại thôn T thị trấn C, huyện C, tỉnh GiaLai. Do đó, Hồ Văn C3 có 02 (Hai) tên và 02 (Hai) Hộ khẩu thường trú. Quá trình sinh sống, hai vợ chồng Hồ Văn C3 và chị Siu H1 thường xuyên cãi nhau và C3 đã nhiều lần đánh vợ, con. Khoảng tháng 7 năm 2022 thông qua mạng xã hội Facebook, C3 quen biết v i bạn gái là chị D (Sinh năm: 1990; trú tại làng I, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai).
Vào tháng 9 năm 2022, C3 và chị D đi chơi tại tỉnh Quảng Nam thì bị tai nạn xe mô tô dẫn đến chị D bị cưa chân, liệt nửa người nên C3 ở lại nhà chị D tại làng I, xã B để chăm sóc chị D.
Khoảng 19h00’ ngày 10/11/2022, C3 đi một mình xuống gặp vợ là chị Siu H1 tại thôn T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai thì xảy ra mâu thuẫn, C3 đã đánh chị H1 và con trai là Siu T (Sinh năm: 2006) bằng tay, chân nhưng không gây ra thương tích gì, sau đó C3 bỏ về nhà chị D. Bực tức chuyện C3 đánh mình và con nhiều lần, nên sáng ngày 11/11/2022, Siu H1 rủ những người trong gia đình gồm: em ruột là Siu L, cha ruột là Rơ Lan C (Sinh năm: 1961; trú tại: làng B, xã I, huyện C), cậu ruột là Siu L1 (Sinh năm: 1977; trú tại: thôn T, thị trấn C), anh ruột là Siu P (Sinh năm: 1980; trú tại: làng T, xã B, huyện C) và Siu T đi tìm anh C3 để nói chuyện giải quyết việc ly hôn giữa Siu H1 và C3 thì tất cả đồng ý. H thuê xe ô tô nhãn hiệu SHUGUANG, BKS 81A-173.96 của anh Rlan H2 (Sinh năm: 1980; trú tại: làng H, thị trấn C) chở tất cả đi từ huyện C đến nhà chị D tại làng I, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai để tìm anh C3. Khi đi Siu L cất giấu trong ống tay áo bên phải 01 (Một) cây tua vít đã nhặt được trư c đó có đặc điểm dài 70cm, cán bọc nhựa màu đen, đỏ dài 20cm, thân bằng kim loại màu trắng vuông cạnh 1,2cm, đầu mài vát, mục đích để phòng thân vì Siu L sợ C3 thường mang theo hung khí trong người, đồng thời L không nói cho ai biết việc cất giấu tua vít trong người.
Khi xe ô tô đến nhà ông H3 (Sinh năm: 1962; trú tại: làng I, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai; là cha đẻ của chị D), lúc này khoảng 11h cùng ngày thì mọi người thấy C3 đang ở cùng ông H3 xúc cà phê tại sân. Siu L xuống xe cùng ông C, anh P và chị H1 đi bộ vào sân nhà ông H3, Siu T và Siu L1 ngồi lại trên xe. Cư thấy người nhà của H1 đi vào nghĩ người nhà của vợ tìm mình để đánh nên C3 đã quay người bỏ đi. Ông C thấy vậy đã nắm tay trái C3 giữ lại và nói “ở lại nói chuyện đã”. Lúc này C3 vùng vẫy đòi bỏ đi thì anh Siu P ôm C3 lại nhưng C3 vẫn vùng vẫy nên Siu L bực tức đã thả cây tua vít giấu trong ống tay áo phải ra và cầm phần mũi cây tua vít bằng tay phải đi đến cách C3 khoảng 1,15m giơ lên cao đánh 01 (một) nhát mạnh vào vùng đầu của C3 bằng phần cán nhựa của tua vít làm đầu của C3 chảy máu, C3 ngất xỉu. Siu H thấy vậy kéo Siu L ra không cho đánh C3 nữa và nói v i C3: “Nay có vợ mới rồi, về nhà đánh vợ con nay bị đánh có đau không? Muốn ly hôn thì xuống nhà”. Sau đó, tất cả lên xe ô tô đi về. Cư bị thương ở đầu và được ông H3 đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện H4, đến ngày 18/11/2022 thì ra viện.
Sau khi gây án, đến 21h ngày 11/11/2022 Siu L đến Công an thành phố P đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 403/22/TgT ngày 02/12/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh G kết luận đối v i Hồ Văn C3: tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 2% (Hai phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư 22/2019/TT-BYT.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2023/HS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã quyết định:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Siu L phạm tội “Giết người”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54, Điều 15, Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Siu L 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/11/2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 18/5/2023, bị cáo Siu L có đơn kháng cáo v i nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay:
Bị cáo Siu L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đồng thời trình bày cho rằng bị cáo không có ý thức giết bị hại, chỉ do bực tức vì bị hại đã bỏ chị của bị cáo sống chung v i người khác lại còn đánh đập vợ con nhiều lần, khi gia đình lên giải quyết lại bỏ đi. Bị cáo đã nhận thấy rõ hành vi sai trái của mình, ăn năn hối cải, kính xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: tội danh của bị cáo đã rõ; về hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ xử phạt bị cáo mức án 07 năm tù là có phần nghiêm khắc, bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, thương tích gây ra cho bị hại chỉ 02%. Đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và
quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo còn trong thời hạn và đúng quy định nên được xem xét chấp nhận; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, bị cáo Siu L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp v i các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: do bức xúc về việc bị hại Hồ Văn C3 giằng co, bỏ đi không chịu giải quyết chuyện ly hôn v i chị Siu H1 là chị gái của bị cáo Siu L nên bị cáo lấy tua vít dài 70cm giấu trong tay áo ra và đánh mạnh 01 (một) phát trúng vào giữa đỉnh đầu của anh C3 làm chảy máu, ngất xỉu, điều trị 08 ngày tại Bệnh viện H4, gây tổn hại sức khỏe 2%.
Xét thấy, hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, mặc dù trư c đó bị hại có lỗi v i chị gái của bị cáo, bị hại bỏ đi sống chung v i người khác và nhiều lần đánh đập chị Siu H1 và các con chung. Tuy nhiên, ngày 11/12/2022 chị Siu H1 muốn các thành viên trong gia đình cùng đến gặp bị hại để nói chuyện ly hôn nhưng khi đi bị cáo đã chủ động mang theo hung khí và khi thấy bị hại giằng co, bỏ đi thì bị cáo đã đánh một nhát vào vùng đầu bị hại v i cách đánh quyết liệt, mạnh, bất chấp tính mạng bị hại làm cho bị hại ngất xỉu và được đưa đi cấp cứu điều trị dài ngày, việc bị hại không chết là do được cứu chữa kịp thời và ngoài ý thức, mong muốn chủ quan của bị cáo.
Toà án cấp sơ thẩm áp dụng Án lệ số 47/2021/AL “Về việc xác định tội danh trong trường hợp bị cáo dùng hung khí nguy hiểm đâm vào vùng trọng yếu của cơ thể bị hại” nên bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Giết người” v i tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự là đúng tội và thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt là có căn cứ.
Xét yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, thấy rằng: hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến sức khỏe, đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng của bị hại, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên được áp dụng Điều 15, Điều 57 của Bộ luật Hình sự. Toà án cấp sơ thẩm khi quyết định hình phạt đối v i bị cáo đã xem xét, đánh giá và áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như: về tình tiết tăng nặng, bị cáo không có. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, có nhân thân tốt, động cơ phạm tội là do bức xúc việc bị hại đánh chị và cháu của bị cáo, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, tỏ ra ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo đã được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời đã áp dụng thêm Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử bị cáo mức án thấp dư i khung hình phạt liền kề. Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 07 năm tù là có phần nghiêm khắc so v i tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tuy không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào m i phát sinh ở cấp phúc thẩm nhưng Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người dân tộc J không biết chữ nên nhận thức về pháp luật phần nào có hạn chế nên cần xem xét giảm thêm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo tốt, s m trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu kháng cáo có cơ sở xem xét; ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp v i nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận; chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 335; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Siu L, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2023/HS-ST ngày 16/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54, Điều 15, Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên xử:
1. Xử phạt bị cáo Siu L 05 (năm) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/11/2022.
2. Về vật chứng: căn cứ Điều 106 của Bộ luật hình sự năm 2015, tịch thu tiêu huỷ 01 (Một) tua vít dài 70cm, cán bọc nhựa màu đen, đỏ dài 20cm, thân bằng kim loại màu trắng vuông cạnh 1,2cm, đầu mài vát. (theo Biên bản giao nhận vật chứng số 76/2023 ngày 13/4/2023, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai).
3. Về án phí:
Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Siu L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND tỉnh Gia Lai; - Cơ quan CSĐT-Công an tỉnh Gia Lai; - Phòng HSNV-Công an tỉnh Gia Lai; - Cơ quan CSTHAHS-CA tỉnh Gia Lai; - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai; - Cục THADS tỉnh Gia Lai; - Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai (02 bản, để giao cho bị cáo 01 bản); - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, PHCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Ngọc Thông |