- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Điểm a, b khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 332/2023/HNGĐ-ST Ngày: 20 – 6 - 2023 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hoà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hoàng Tuấn
Bà Trương Thị Thu Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 228/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 234/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số 276/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số 692, tổ 18, ấp MH, xã MP, huyện CP, tỉnh An Giang. (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Lữ Thanh T, sinh năm 1977. Địa chỉ: Tổ 12, ấp MT, xã MĐ, huyện CP, tỉnh An Giang. (Vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 21/02/2023 và quá trình tố tụng bà Nguyễn Thị N trình bày:
- Về hôn nhân: Bà và ông Lữ Thanh T chung sống năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, trong thời gian chung sống vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống nên thường cải nhau, nên đã ly thân khoảng hơn 01 năm nay, gia đình cha mẹ hai bên cự cải nhau nên không thể hàn gắn lại được. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông Lữ Thanh T.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Lữ Phúc Đạt, sinh ngày 12/01/2006 và Lữ Thị Tường Vy, sinh ngày 25/01/2015. Từ lúc ly thân đến nay các con chung do bà trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu Lữ Thanh T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do Lữ Thanh T cố tình vắng mặt không có lý do, không có thiện chí hoà giải nên đề nghị Toà án không tiếp tục tiến hành hoà giải mà sớm đưa vụ án ra xét xử.
Bị đơn ông Lữ Thanh T vắng mặt các lần toà án triệu tập không có văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên toà,
Bà Nguyễn Thị N trình bày và tranh luận như sau: Bà vẫn giữ nguyên ý kiến, yêu cầu khởi kiện. Giữa bà với Lữ Thanh T mâu thuẫn đã trầm trọng không thể hàn gắn được nữa nên bà đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà; Từ lúc ly thân đến nay các cả hai con chung do bà trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án chấp nhận giao cả hai con chung cho bà nuôi dưỡng, bà không yêu cầu Lữ Thanh T cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật, quan điểm về vụ án như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị N đối với ông Lữ Thanh T; Về con chung: Giao 02 con chung tên Lữ Phúc Đạt, sinh ngày 12/01/2006 và Lữ Thị Tường Vy, sinh ngày 25/01/2015 cho bà Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, Lữ Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con; Về án phí, quyền kháng cáo giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Bà Nguyễn Thị N tranh chấp ly hôn và nuôi con với ông Lữ Thanh T. Do đó, HĐXX xác định tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, nuôi con. Ông Lữ Thanh T có địa chỉ cư trú tại địa bàn huyện Châu Phú nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tài liệu, chứng cứ: Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đã tống đạt thông báo kết quả phiên họp cho ông Lữ Thanh T. Do đó, Toà án xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được công khai, tiếp cận để giải quyết vụ án theo quy định.
Về sự vắng mặt, có mặt của đương sự: Bà Nguyễn Thị N có mặt tại phiên tòa, Lữ Thanh T vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Lữ Thanh T là phù hợp quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân:
HĐXX thấy rằng, bà Nguyễn Thị N và ông Lữ Thanh T đã tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú. Do đó, hôn nhân giữa Lữ Thanh T và Nguyễn Thị N là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Bà Nguyễn Thị N cho rằng trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và cảm thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn được nên ông bà đã sống ly thân hơn 01 năm nay. HĐXX thấy rằng, quá trình chuẩn bị xét xử toà án đã thực hiện thủ tục hoà giải để tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ nhưng ông Lữ Thanh T đều vắng mặt không có lý do. Điều này chứng tỏ ông Lữ Thanh T không còn mong muốn tiếp tục đoàn tụ.
Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định, “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị N và ông Lữ Thanh T đã ly thân khoảng hơn 01 năm nay là một thời gian rất dài, điều này thể hiện ông bà đã không thực hiện được tình nghĩa của vợ chồng theo quy định của pháp luật. Do đó, ông bà đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành thì Toà án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”
Từ những phân tích trên, HĐXX thấy rằng yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị N đối với ông Lữu Thanh Tùng là phù hợp các quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
Về quan hệ con chung:
HĐXX thấy rằng, Lữ Thanh T và Nguyễn Thị N có 02 con chung tên Lữ Phúc Đạt, sinh ngày 12/01/2006 và Lữ Thị Tường Vy, sinh ngày 25/01/2015. Từ lúc vợ chồng ông bà ly thân đến nay do bà Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dạy vẫn đảm bảo cuộc sống của con. Mặt khác, các con có văn bản trình bày ý kiến là có nguyện vọng sống chung với bà Nguyễn Thị N. Do đó, nhằm đảm bảo sự ổn định về tâm lý, cuộc sống và sinh hoạt của các con nên HĐXX tiếp tục giao cả hai con chung cho bà Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, đúng nguyện vọng của các con.
Về cấp dưỡng nuôi con, HĐXX thấy rằng bà Nguyễn Thị N không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, ông Lữ Thanh T không có ý kiến đối với vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung:
HĐXX thấy rằng, bà Nguyễn Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông Lữ Thanh T không có ý kiến đối với vấn đề này và nợ chung của vợ chồng nên HĐXX không xem xét.
Về án phí:
Bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Ông Lữ Thanh T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Điểm a, b khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị N đối với ông Lữ Thanh T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 25 ngày 14 tháng 3 năm 2005 của UBND xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
2. Về quan hệ con chung:
Giao Lữ Phúc Đạt, sinh ngày 12/01/2006 và Lữ Thị Tường Vy, sinh ngày 25/01/2015 cho bà Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, ông Lữ Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi về cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
4. Về án phí:
Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0005448 ngày 05 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, đương sự có mặt tính kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - UBND xã Mỹ Đức, H.Châu Phú; - Viện KSND huyện Châu Phú; - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; - Chi cục THADS huyện Châu Phú; - Đương sự; - Lưu: hồ sơ, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Văn Hòa |