vanban.org

Bản án 332/2022/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận khởi kiện của bà Trương Ngọc A, ông Nguyễn Thanh T1 về việc yêu cầu ông Trần Văn T2, bà Lê Kim H trả tiền hụi thiếu.

Buộc ông Trần Văn T2, bà Lê Kim H trả cho bà Trương Ngọc A, ông Nguyễn Thanh T1 số tiền 301.000.000 đồng (Ba trăm lẽ một triệu đồng). Kể từ ngày bà Trương Ngọc A, ông Nguyễn Thanh T1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Trần Văn T2, bà Lê Kim H không thi hành xong khoản tiền trên, còn phải chịu thêm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Trương Ngoc A yêu cầu Trần Văn T trả tiền hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận khởi kiện của bà Trương Ngọc A, ông Nguyễn Thanh T1 về việc yêu cầu ông Trần Văn T2, bà Lê Kim H trả tiền hụi thiếu.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 332/2022/DS-ST
Ngày 23-12-2022
V/v Tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Trần Văn Len

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Việt Thắng

2. Ông Hồ Quang Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Nga Muội – Thư kýTòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thơi: Bà Trần Hồng Cẩm – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 25 tháng 11 năm 2022 và ngày 23 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 93/2022/TLST-DS ngày 07 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 184/2022/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: 1. Bà Trương Ngọc A, Sinh năm: 1958.

Địa chỉ: Ấp 3, xã K, huyện T, tỉnh C

2. Ông Nguyễn Thanh T1, Sinh năm: 1958

Địa chỉ: Ấp 3, xã K, huyện T, tỉnh C

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1971, khóm 1, thị trấn Trần Văn Thời, huyện Trần Văn Thời, Cà Mau (Văn bản ủy quyền ngày 07/3/2022 có mặt).

- Bị đơn: 1. Ông Trần Văn T2, sinh năm 1974 (vắng mặt)

2. Bà Lê Kim H, sinh năm 1976 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp 3, xã K, huyện T, tỉnh C ..

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Trần Kim N, sinh năm 2000 (xin vắng mặt)

2. Anh Lê Minh T, sinh năm 1993 (xin vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp 1, xã K, huyện T, Cà Mau.

3. Anh Nguyễn Trọng N1, sinh năm 1997 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 3, xã K, huyện T, tỉnh C ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại phiên tòa và quá trình giải quyết vụ án Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình bày:

Vợ chồng bà Trương Ngọc A (ông Nguyễn Thanh T1) có mở các dây hụi

vợ chồng ông Trần Văn T2, bà H có tham gia cụ thể như sau:

- Dây hụi ngày 08/5/2018 dương lịch loại hụi 1.000.000 đồng (dây A) có 34 chưng, mỗi tháng khui một lần, vợ chồng ông T2 tham gia 01 chưng vị trí thứ 15 ghi “Trần Văn T2”, vợ chồng ông T2 đóng hụi sống đến kỳ thứ 15, kỳ thứ 16 bỏ 340.000 đồng hốt được 26.380.000 đồng (không có làm biên nhận tiền hụi). Vợ chồng ông T2 đóng được 8 lần hụi chết, còn 10 lần hụi chết chưa đóng, hiện tại hụi đã mãn tháng 3/2021 dương lịch. Số tiền hụi vợ chồng ông T2 còn thiếu 10 lần X 1.000.000 đồng/chưng = 10.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 08/5/2018 dương lịch loại hụi 1.000.000 đồng (dây B) có 34 chưng, mỗi tháng khui một lần, vợ chồng ông T2 tham gia 01 chưng vị trí thứ 4 ghi “Trần Văn T2”, vợ chồng ông T2 đóng hụi sống đến kỳ thứ 3, kỳ thứ 4 bỏ 260.000 đồng hốt được 24.700.000 đồng (không có làm biên nhận tiền hụi). Vợ chồng ông T2 đóng được 20 lần hụi chết, còn 10 lần hụi chết chưa đóng, hiện tại hụi đã mãn tháng 3/2021 dương lịch. Số tiền hụi vợ chồng ông T2 còn thiếu 10 lần X 1.000.000 đồng/chưng = 10.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 08/10/2018 dương lịch loại hụi 1.000.000 đồng (dây A) có 28 chưng, mỗi tháng khui một lần, vợ chồng ông T2 tham gia 02 chưng vị trí thứ 8,9 ghi “Trần Văn T2”, vợ chồng ông T2 đóng hụi sống đến kỳ thứ 3, kỳ thứ 4 bỏ 270.000 đồng hốt được 20.020.000 đồng (Không có làm biên nhận tiền hụi). Chưng thứ hai vợ chồng ông T2 bỏ hụi ở kỳ thứ 5 bỏ 300.000 đồng hốt được 19.600.000 đồng. Vợ chồng ông T2 đóng hụi chết, còn 9 lần hụi chết của mỗi chưng chưa đóng, 02 chưng 18 lần hụi chết chưa đóng, hiện tại hụi đã mãn tháng 01/2021 dương lịch. Số tiền hụi vợ chồng ông T2 còn thiếu 18 lần X 1.000.000 đồng/chưng = 18.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 08/10/2018 dương lịch loại hụi 1.000.000 đồng (dây B) có 29 chưng, mỗi tháng khui một lần, vợ chồng ông T2 tham gia 02 chưng vị trí thứ 11,12 ghi “Trần Văn T2”, vợ chồng ông T2 đóng hụi sống đến kỳ thứ 4, kỳ thứ 5 bỏ 250.000 đồng hốt được 21.750.000 đồng. Chưng thứ hai vợ chồng ông T2 bỏ hụi ở kỳ thứ 8 bỏ 260.000 đồng hốt được 22.040.000 đồng (Không có làm biên nhận tiền hụi). Vợ chồng ông T2 đóng hụi chết, còn 10 lần hụi chết của mỗi chưng chưa đóng, 02 chưng 20 lần hụi chết chưa đóng, hiện tại hụi đã mãn tháng 02/2021 dương lịch. Số tiền hụi vợ chồng ông T2 còn thiếu 20 lần X 1.000.000 đồng/chưng = 20.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 20/01/2019 dương lịch loại hụi 1.000.000 đồng (dây A) có 31 chưng, mỗi tháng khui một lần, vợ chồng ông T2 tham gia 01 chưng vị trí thứ 20 ghi “Trần Văn T2”, vợ chồng ông T2 đóng hụi sống đến kỳ thứ 8, kỳ thứ 9 bỏ 310.000 đồng hốt được 22.680.000 đồng (có biên nhận ghi ngày 20/01/2020). Vợ chồng ông T2 đóng hụi chết, còn 16 lần hụi chết chưa đóng, hiện tại hụi đã mãn tháng 8/2021 dương lịch. Số tiền hụi vợ chồng ông T2 còn thiếu 16 lần X 1.000.000 đồng/chưng = 16.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 20/01/2019 dương lịch loại hụi 1.000.000 đồng (dây B) có 31 chưng, mỗi tháng khui một lần, vợ chồng ông T2 tham gia 01 chưng vị trí thứ 7 ghi “Trần Văn T2”, vợ chồng ông T2 đóng hụi sống đến kỳ thứ 12, kỳ thứ 13 bỏ 370.000 đồng hốt được 22.840.000 đồng (Không có làm biên nhận tiền hụi). Vợ chồng ông T2 đóng hụi chết, còn 16 lần hụi chết chưa đóng, hiện tại hụi đã mãn tháng 8/2021 dương lịch. Số tiền hụi vợ chồng ông T2 còn thiếu 16 lần X 1.000.000 đồng/chưng = 16.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 08/7/2019 dương lịch loại hụi 1.000.000 đồng (dây B) có 35 chưng, mỗi tháng khui một lần, vợ chồng ông T2 tham gia 02 chưng vị trí thứ 7, 35 ghi “Trần Văn T2”, vợ chồng ông T2 đóng hụi sống đến kỳ thứ 5, kỳ thứ 6 bỏ 410.000 đồng hốt được 21.610.000 đồng (Ông T2 có tự ghi tính hụi và đã nhận tiền hụi). Chưng thứ hai đóng hụi sống đến kỳ thứ 6, kỳ thứ 7 bỏ 370.000 đồng hốt được 23.140.000 đồng (Không có làm biên nhận tiền hụi nhưng bà đã đưa tiền hốt hụi cho ông T2, bà H xong). Vợ chồng ông T2 đóng hụi chết, còn 25 lần hụi chết của mỗi chưng chưa đóng, hiện tại hụi đã mãn tháng 8/2022 dương lịch. Số tiền hụi vợ chồng ông T2 còn thiếu 2 chưng X 25 lần X 1.000.000 đồng/chưng = 50.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 20/4/2019 dương lịch loại hụi 2.000.000 đồng (dây A) có 36 chưng, mỗi tháng khui một lần, vợ chồng ông T2 tham gia 01 chưng vị trí thứ 14 ghi “Trần Văn T2”, vợ chồng ông T2 đóng hụi sống đến kỳ thứ 4, kỳ thứ 5 bỏ 720.000 đồng hốt được 46.680.000 đồng (có làm biên nhận ngày 10/9/2019). Vợ chồng ông T2 đóng hụi chết, còn 24 lần hụi chết chưa đóng, hiện tại hụi đã mãn tháng 5/2022 dương lịch. Số tiền hụi vợ chồng ông T2 còn thiếu 24 lần X 2.000.000 đồng/chưng = 48.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 20/4/2019 dương lịch loại hụi 2.000.000 đồng (dây B) có 32 chưng, mỗi tháng khui một lần, vợ chồng ông T2 tham gia 01 chưng vị trí thứ 27 ghi “Trần Văn T2”, vợ chồng ông T2 đóng hụi sống đến kỳ thứ 9, kỳ thứ 10 bỏ 790.000 đồng hốt được 43.620.000 đồng (có biên nhận tiền ngày 04/01/2020). Vợ chồng ông T2 đóng hụi chết, còn 20 lần hụi chết chưa đóng, hiện tại hụi đã mãn tháng 1/2022 dương lịch. Số tiền hụi vợ chồng ông T2 còn thiếu 20 lần X 2.000.000 đồng/chưng = 40.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 08/8/2019 dương lịch loại hụi 2.000.000 đồng có 38 chưng, mỗi tháng khui một lần, vợ chồng ông T2 tham gia 01 chưng vị trí thứ 4 ghi “Trần Văn T2”, chưng hụi ông T2 đứng tên chưa hốt. Trong dây hụi này con ông T2 tên Trần Kim Ngọc (chồng tên Thuận) ấp 2, xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau có tham gia chơi 01 chưng vị trí thứ 8 tên “Trần Kim Ngọc”. Kỳ mở hụi thứ 9 ông T2 có thõa thuận với con ông T2 là Trần Kim Ngọc mượn chưng hụi của Ngọc để hốt, chị Ngọc đồng ý, ông T2 bỏ hụi 840.000 đồng hốt được 48.640.000 đồng. Bà giao tiền hụi đã hốt hụi cho ông T2 và chị Ngọc, chị Ngọc có ký tên biên bản giao nhận hụi ngày 08/4/2020 dương lịch. Sau khi hốt hụi chị Ngọc đưa tiền bà đóng hụi một lần sau đó không đóng hụi chết nữa.

Chưng hụi này của ông T2 đã đóng hụi sống được 8 lần sau đó không đóng nữa. Hiện tại chưng hụi của ông T2, ông T2 vẫn chưa hốt.

Chưng hụi này hiện mãn tháng 12/2022 dương lịch.

Yêu cầu vợ chồng ông T2 phải trả tiền hụi chết thiếu chưa đóng đến mãn hụi là 28 lần X 2.000.000 đồng = 56.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 20/4/2019 dương lịch loại hụi 2.000.000 đồng (dây A) có 36 chưng, mỗi tháng khui một lần, vợ chồng ông T2 tham gia 01 chưng vị trí thứ 14 ghi “Trần Văn T2”, chưng hụi này ông T2 đã hốt.

Trong dây hụi này (ngày 20/4/2019 dương lịch, dây A) ông T2 có mượn bà A một chưng hụi (tên hụi viên số 28 “ Trương Ngọc A”) bà A đóng hụi sống 7 kỳ, kỳ thứ 8 ông T2, bà H mượn bỏ 800.000 đồng hốt được 46.600.000 đồng (có biên nhận ghi ngày 08/12/2019, trong biên nhận ghi số tiền nhận 47.800.000 đồng), hai bên thõa thuận mỗi tháng ông T2, bà H đưa bà tiền đóng hụi của chưng hụi mượn mỗi tháng đóng 800.000 đồng đóng đến khi mãn hụi. Từ khi hốt đến nay thì ông T2, bà H không đóng hụi cho bà A như thỏa thuận. Dây hụi này đã mãn 20/5/2022 dương lịch, yêu cầu vợ chồng ông T2 phải trả hụi chết 35 lần X 2.000.000 đồng = 70.000.000 đồng.

Tổng 11 dây hụi trên vợ chồng ông T2 còn thiếu bà 354.000.000 đồng.

Vợ chồng ông T2 còn ba chưng hụi sống của các dây hụi:

Dây hụi mở ngày 08/7/2019 dương lịch (dây A), loại hụi 1.000.000 đồng, vợ chồng ông T2 tham gia một chưng tại vị trí số 19 tên “Tâm” dây hụi này ông T2 đã đóng được 10 lần hụi sống, sau đó không đóng nữa, dây hụi này đã mãn tháng 8/2022, số tiền ông T2 đã đóng hụi sống 10 lần bằng 6.430.000 đồng.

Dây hụi ngày 08/8/2019 dương lịch, loại hụi 2.000.000 đồng có 38 chưng, vợ chồng ông T2 còn 01 chưng hụi sống đã đóng được 8 lần hụi sống.

Dây hụi mở ngày 20/11/2019 dương lịch, loại hụi 2.000.000 đồng, có 31 chưng, mỗi tháng khui 01 lần, vợ chồng ông T2 tham gia 02 chưng, vị trí thứ 8, 11 tên “ Trần Văn T2”, 01 chưng ông T2 nhượng lại một chưng hụi cho con ông T2 là Trần Kim Ngọc, Ngọc bỏ hụi lần thứ 7, chưng hụi ông T2 nhường lại cho Trần Kim Ngọc thì Ngọc đóng hụi chết cho bà A đầy đủ, hiện tại hụi đã mãn tháng 20/7/2022 dương lịch. Còn chưng hụi sống của ông T2 đã đóng được 6 lần và không đóng nữa, chưa hốt.

Như vậy 02 chưng hụi của hai dây hụi 2.000.000 đồng, hụi ngày 08/8/2019 và 20/11/2019 trên tổng cộng ông T2, bà H đã đóng được 14 lần số tiền thực đóng 17.590.000 đồng.

Tổng số tiền 03 chưng hụi sống ông T2, bà H đã thực đóng hụi sống bằng 24.020.000 đồng. Ngày 20/5/2021 chị Ngọc hốt chưng hụi của dây hụi ngày 20/11/2019 dương lịch (hụi 2.000.000 đồng) sau đó chị Ngọc đưa lại bà A 15.000.000 đồng vào ngày 20/5/2020 dương lịch) để trừ vào tiền hụi vợ chồng ông T2 thiếu bà A. Như vậy số tiền hụi sống và tiền gởi trả vợ chồng ông T2 đã trả cho bà 39.020.000 đồng.

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng ý đối trừ số tiền hụi sống bị đơn đã đóng 38.000.000 đồng và số tiền đã trả 15.000.000 đồng, tổng cộng 53.000.000 đồng.

Yêu cầu đối trừ số tiền ông T2 và bà H còn thiếu bà 354.000.000 đồng – 53.00.000 đồng = 301.000.000 đồng. Nay vợ chồng bà A yêu cầu vợ chồng ông T2, bà H trả số tiền hụi đã thiếu 301.000.000 đồng.

Bị đơn ông Trần Văn T2, bà Lê Kim Hiền đã được Tòa án thông báo các văn bản tố tụng nhưng không có mặt cũng như không có ý kiến văn bản trình bày đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Chị Trần Kim N và anh Lê Minh T cùng trình bày:

Vợ chồng anh chị có tham gia dây hụi ngày 08/8/2019 dương lịch loại hụi 2.000.000 đồng có 38 chưng, mỗi tháng khui một lần do bà A, ông T1 làm chủ hụi, vợ chồng chị tham gia một chưng, cha chị Ngọc là ông Trần Văn T2 tham gia 01 chưng. Trong dây hụi này cha chị Ngọc là ông tâm có mượn của vợ chồng chị Ngọc chưng hụi để hốt có sự thống nhất của chủ hụi bà A, tiền hụi hốt ông T2 nhận. Do chưng hụi của dây hụi này ông T2 mượn hụi của vợ chồng chị nên ông T2 có đổi cho vợ chồng chị chưng hụi của dây hụi mở ngày 20/11/2019 dương lịch, loại hụi 2.000.000 đồng có 31 chưng, chưng hụi này anh chị đã hốt hiện đã mãn và đã đóng đầy đủ hụi chết cho chủ hụi.

Do điều kiện đi lại khó khan, đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh chi tại các phiên tòa.

Anh Nguyễn Trọng Nhân trình bày:

Anh xác định theo danh sách hụi của dây hụi ngày 20/4/2019 dương lịch dây A, ở vị trí hụi viên số 27 có ghi “chuyển nhường quyền cho Nguyễn Trọng Nhân là con Ánh”, dây hụi này anh không có tham gia, chưng hụi này là của mẹ anh chơi và đóng hụi, anh không có cho ông Trần Văn T2 mượn chưng hụi này để hốt, người cho mượn là mẹ của anh là bà A, do đó việc mẹ anh khởi kiện ông T2, bà H không có liên quan gì đến anh, anh không có tranh chấp gì chưng hụi này.

Do anh không có liên quan, trường hợp Tòa án đưa anh vào tham gia tố tụng anh đề nghị Tòa án tiến hành các thủ tục vắng mặt anh, đề nghị không hòa giải và xét xử vắng mặt tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm nếu có.

Tại phiên tòa:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày tranh luận: Nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền hụi thiếu 301.000.000 đồng.

Ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát như sau:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay; nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng theo theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự, vắng theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn. Buộc ông Trần Văn T2, bà Lê Kim H trả cho bà Trương Ngọc A, ông Nguyễn Thanh T1 301.000.000 đồng.

Án phí sơ thẩm, đương sự phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, qua kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét toàn diện tài liệu, chứng cứ, phần tranh luận, phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử thấy rằng:

- Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Về quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hụi” theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự. Do bị đơn có nơi cư trú tại huyện Trần Văn Thời, nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vắng mặt của đương sự: Ông Trần Văn T2, bà Lê Kim H đã được Tòa án triệu tập đến lần thứ 2 vắng mặt; chị Trần Kim N, anh Lê Minh T và anh Nguyễn Trọng N xin vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự trên là đúng quy định.

- Về nội dung:

Bà Trương Ngọc A, ông Nguyễn Thanh T1 xác định có mở các dây hụi cụ thể:

- Dây hụi ngày 08/5/2018 dương lịch loại hụi 1.000.000 đồng (dây A) có 34 chưng, vợ chồng ông T2 tham gia 01 chưng, đã hốt và còn 10 lần hụi chết chưa đóng, hiện tại hụi đã mãn tháng 3/2021 dương lịch. Số tiền hụi vợ chồng ông T2 còn thiếu 10 lần x 1.000.000 đồng/chưng = 10.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 08/5/2018 dương lịch loại hụi 1.000.000 đồng (dây B) có 34 chưng, vợ chồng ông T2 đã hốt, còn 10 lần hụi chết chưa đóng, hiện tại hụi đã mãn tháng 3/2021 dương lịch. Số tiền hụi vợ chồng ông T2 còn thiếu 10 lần X 1.000.000 đồng/chưng = 10.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 08/10/2018 dương lịch loại hụi 1.000.000 đồng (dây A) có 28 chưng, vợ chồng ông T2 đã hốt hết hai chưng và còn 9 lần hụi chết của mỗi chưng chưa đóng, 02 chưng 18 lần hụi chết chưa đóng, hiện tại hụi đã mãn tháng 01/2021 dương lịch. Số tiền hụi vợ chồng ông T2 còn thiếu 18 lần X 1.000.000 đồng/chưng = 18.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 08/10/2018 dương lịch loại hụi 1.000.000 đồng (dây B) có 29 chưng, vợ chồng ông T2 tham gia 02 chưng đã hốt hết, còn 10 lần hụi chết của mỗi chưng chưa đóng, 02 chưng 20 lần hụi chết chưa đóng, hiện tại hụi đã mãn tháng 02/2021 dương lịch. Số tiền hụi vợ chồng ông T2 còn thiếu 20 lần X 1.000.000 đồng/chưng = 20.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 20/01/2019 dương lịch loại hụi 1.000.000 đồng (dây A) có 31 chưng, vợ chồng ông T2 tham gia 01 chưng đã hốt xong, còn 16 lần hụi chết chưa đóng, hiện tại hụi đã mãn tháng 8/2021 dương lịch. Số tiền hụi vợ chồng ông T2 còn thiếu 16 lần X 1.000.000 đồng/chưng = 16.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 20/01/2019 dương lịch loại hụi 1.000.000 đồng (dây B) có 31 chưng, vợ chồng ông T2 tham gia 01 chưng đã hốt xong, còn 16 lần hụi chết chưa đóng, hiện tại hụi đã mãn tháng 8/2021 dương lịch. Số tiền hụi vợ chồng ông T2 còn thiếu 16 lần X 1.000.000 đồng/chưng = 16.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 08/7/2019 dương lịch loại hụi 1.000.000 đồng (dây B) có 35 chưng, mỗi tháng khui một lần, vợ chồng ông T2 tham gia 02 chưng đã hốt xong. Vợ chồng ông T2 đóng hụi chết, còn 25 lần hụi chết của mỗi chưng chưa đóng, hiện tại hụi đã mãn tháng 8/2022 dương lịch. Số tiền hụi vợ chồng ông T2 còn thiếu 2 chưng X 25 lần X 1.000.000 đồng/chưng = 50.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 20/4/2019 dương lịch loại hụi 2.000.000 đồng (dây A) có 36 chưng, mỗi tháng khui một lần, vợ chồng ông T2 tham gia 01 chưng. Vợ chồng ông T2 đóng hụi chết, còn 24 lần hụi chết chưa đóng, hiện tại hụi đã mãn tháng 5/2022 dương lịch. Số tiền hụi vợ chồng ông T2 còn thiếu 24 lần X 2.000.000 đồng/chưng = 48.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 20/4/2019 dương lịch loại hụi 2.000.000 đồng (dây B) có 32 chưng, mỗi tháng khui một lần, vợ chồng ông T2 tham gia 01 chưng. Vợ chồng ông T2 đóng hụi chết, còn 20 lần hụi chết chưa đóng, hiện tại hụi đã mãn tháng 1/2022 dương lịch. Số tiền hụi vợ chồng ông T2 còn thiếu 20 lần X 2.000.000 đồng/chưng = 40.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 08/8/2019 dương lịch loại hụi 2.000.000 đồng có 38 chưng, mỗi tháng khui một lần, vợ chồng ông T2 tham gia 01 chưng, chưng hụi ông T2 đứng tên chưa hốt. Trong dây hụi này ông T2 mượn chưng hụi của con ông T2 tên Trần Kim Ngọc, ông T2 không đóng hụi chết còn thiếu là 28 lần X 2.000.000 đồng = 56.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 20/4/2019 dương lịch loại hụi 2.000.000 đồng (dây A) có 36 chưng, mỗi tháng khui một lần, vợ chồng ông T2 tham gia 01 chưng, chưng hụi này ông T2 đã hốt. Trong dây hụi này ông T2 có mượn bà một chưng hụi và bà A đóng hụi sống 7 kỳ, kỳ thứ 8 ông T2, bà H mượn bỏ 800.000 đồng hốt được 46.600.000 đồng. Từ khi hốt đến nay thì ông T2, bà H không đóng hụi cho bà như thỏa thuận. Dây hụi này đã mãn 20/5/2022 dương lịch, yêu cầu vợ chồng ông T2 phải trả cho hụi chết 35 lần X 2.000.000 đồng = 70.000.000 đồng.

Tổng 11 dây hụi trên vợ chồng ông T2 còn thiếu 354.000.000 đồng.

Vợ chồng ông T2 còn ba chưng hụi sống của các dây hụi:

Dây hụi mở ngày 08/7/2019 dương lịch (dây A), loại hụi 1.000.000 đồng, dây hụi này đã mãn tháng 8/2022, số tiền ông T2 đã đóng hụi sống 10 lần bằng 10.000.000 đồng.

Dây hụi ngày 08/8/2019 dương lịch, loại hụi 2.000.000 đồng, ông vợ chồng ông T2 còn 01 chưng hụi sống đã đóng được 8 lần hụi sống.

Dây hụi mở ngày 20/11/2019 dương lịch, loại hụi 2.000.000 đồng, có 31 chưng, vợ chồng ông T2 tham gia 02 chưng, đã hốt xong một chưng, ông T2 còn chưng hụi sống đã đóng được 6 lần.

Như vậy 02 chưng hụi của hai dây hụi 2.000.000 đồng, hụi ngày 08/8/2019 và 20/11/2019 trên tổng cộng ông T2, bà H đã đóng được 14 lần số tiền thực đóng 28.000.000 đồng.

Tổng số tiền 03 chưng hụi sống ông T2, bà H đã thực đóng hụi sống bằng 38.000.000 đồng. Ông T2 đã trả cho bà 15.000.000 đồng. Như vậy số tiền hụi sống và tiền gửi trả vợ chồng ông T2 đã trả cho bà 53.000.000 đồng.

Đối trừ số tiền ông T2 và bà H còn thiếu bà 354.000.000 đồng – 53.000.000 đồng = 301.000.000 đồng. Nay vợ chồng bà yêu cầu vợ chồng ông T2, bà H trả số tiền hụi đã thiếu 301.000.000 đồng.

Ông Trần Văn T2, bà Trần Kim Hiền đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, tuy nhiên ông T2, bà H không tham dự phiên tòa cũng như không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà A, ông T1.

Hội đồng xét xử thấy rằng, tại biên bản lấy lời khai của chị Huỳnh Thị C, anh Nguyễn Minh P, ông Nguyễn Thanh T, chị Trần Ngọc D, ông Nguyễn Hoàng V là hụi viên tham gia các dây hụi do vợ chồng ông T1, bà A mở hụi đều xác định có ông T2, bà H tham gia như trong danh sách hụi và đã hốt hụi, lời khai này phù hợp trong danh sách hụi. Như vậy có cơ sở xác định ông T2, bà H có tham gia chơi hụi và hốt hụi như nguyên đơn trình bày là phù hợp.

Tòa án đã tiến hành xác minh ở địa phương thì chính quyền địa phương cho biết ông T2, bà H đi làm ăn xa, thường về địa phương, khi đi khỏi địa phương không thông báo cho chính quyền địa phương biết.

Như vậy lời trình bảy của nguyên đơn cho rằng ông T2, bà H sau khi đã hốt hụi và bỏ địa phương đi không đóng hụi chết cho nguyên đơn là có căn cứ, cần chấp nhận lời trình bày của nguyên đơn.

Do hiện phía bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền hụi chết nên phải có trách nhiệm trả tiền hụi chết cho phía bị đơn từ thời điểm không đóng hụi chết đến khi mãn hụi là phù hợp.

Như vậy số tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn tiền hụi của các dây hụi cụ thể:

- Dây hụi ngày 08/5/2018 dương lịch, 10 lần x 1.000.000 đồng/chưng = 10.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 08/5/2018 dương lịch, 10 lần X 1.000.000 đồng/chưng = 10.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 08/10/2018 dương lịch, 18 lần X 1.000.000 đồng/chưng = 18.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 08/10/2018 dương lịch 20 lần X 1.000.000 đồng/chưng = 20.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 20/01/2019 dương lịch 16 lần X 1.000.000 đồng/chưng = 16.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 20/01/2019 dương lịch 16 lần X 1.000.000 đồng/chưng = 16.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 08/7/2019 dương lịch 2 chưng X 25 lần X 1.000.000 đồng/chưng = 50.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 20/4/2019 dương lịch, 24 lần X 2.000.000 đồng/chưng = 48.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 20/4/2019 dương lịch 20 lần X 2.000.000 đồng/chưng = 40.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 08/8/2019 dương lịch, 28 lần X 2.000.000 đồng = 56.000.000 đồng.

- Dây hụi ngày 20/4/2019 dương lịch 35 lần X 2.000.000 đồng = 70.000.000 đồng.

Tổng số tiền hụi chết ông T2, bà H thiếu có trách nhiệm trả cho ông T1, bà A là 354.000.000 đồng.

Đối trừ số tiền các chưng hụi sống ông T2, bà H chưa hốt và đã trả cho bà A, ông T1 là 53.000.000 đồng. Như vậy số tiền hụi ông T2, bà H có trách nhiệm trả cho bà A, ông T1 là 301.000.000 đồng.

Do ông T2, bà H đã hốt hụi và chủ hụi đã giao đầy đủ tiền lĩnh hụi cho ông T2, bà H thì ông T2, bà H phải có trách nhiệm đóng hụi lại cho chủ hụi, do đó yêu cầu của ông T1, bà A yêu cầu ông T2, bà H trả số tiền hụi chưa đóng số tiền 301.000.000 đồng là phù hợp Điều 16, 24 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường cần được chấp nhận.

Phát biểu Kiểm sát viên tại phiên tòa có căn cứ được chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí theo quy định: 301.000.000 đồng x 5% = 15.050.000 đồng (chưa nộp), theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn là người cao tuổi được miễn dự nộp tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; Điều 147; khoản 1 Điều 228, Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471 Bộ luật dân sự; Điều 16, 24 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận khởi kiện của bà Trương Ngọc A, ông Nguyễn Thanh T1 về việc yêu cầu ông Trần Văn T2, bà Lê Kim H trả tiền hụi thiếu.

Buộc ông Trần Văn T2, bà Lê Kim H trả cho bà Trương Ngọc A, ông Nguyễn Thanh T1 số tiền 301.000.000 đồng (Ba trăm lẽ một triệu đồng).

Kể từ ngày bà Trương Ngọc A, ông Nguyễn Thanh T1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Trần Văn T2, bà Lê Kim H không thi hành xong khoản tiền trên, còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Trần Văn T2, bà Lê Kim H phải chịu 15.050.000 đồng (chưa nộp).

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ