vanban.org

Bản án 331/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Huế, TP. Huế Tuyên án 28/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam 13/7/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HUẾ
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 331/2022/HS-ST
Ngày: 28 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Nhân Đức

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Thanh Xuân, nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí

Bà Bùi Lê Phương Thảo, nghề nghiệp: Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phường Phước Vĩnh, thành phố Huế.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Quang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế (số 60 Nguyễn Huệ, phường Vĩnh Ninh, thành phố Huế) xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 263/2022/TLST-HS ngày 28/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 279/2022/QĐXXST-HS ngày 08/12/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn N giới tính: Nam, sinh năm 1987, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: đường S, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12, con ông Nguyễn Văn Q (chết), con bà Phan Thị T, sinh năm 1960, vợ: Sống chung với nhau như vợ chồng với chị Lê Thị Minh C sinh năm 1990; con: Có 01 người con sinh năm 2013 là con chung với chị Lê Thị Minh C. Gia đình có 03 chị em ruột, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

Quá trình nhân thân: Lúc nhỏ ở với gia đình, học văn hóa đến lớp 6/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình.

- Ngày 19/6/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố H xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (theo Bản án số 166/2009/HSST).

- Ngày 06/12/2012, bị Công an phường B, thành phố H, xử phạt vi phạm hành chính 200.000 đồng về hành vi: “Gây mất trật tự khu dân cư” (theo Quyết định số 00765).

- Ngày 08/4/2013, bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vì phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy” (theo Quyết định số 03914).

Tiền án: 01 tiền án theo bản án số19/2014/HSST ngày 13/01/2014 của Tòa án nhân dân thành phố H xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 22/4/2014 Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ngày 08/7/2014 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, nhưng đến ngày thực hiện hành vi trong vụ án này bị cáo chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/7/2022 (có mặt).

- Bị hại: Cháu Lê Bảo T, sinh ngày 27/02/2013, nơi cư trú: đường X, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Lê Thị Minh C, sinh năm 1990, nơi cư trú: đường X, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Trần Thị H M, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).

- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị U , sinh năm 1989, nơi cư trú: đường D, phường H, thành phố H (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn N và chị Lê Thị Minh C sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2012 đến tháng 01 năm 2022 (không đăng ký kết hôn) và có một con chung là cháu Lê Bảo T, sinh năm 2013.

Vào khoảng 15 giờ 20 phút ngày 10/01/2022, đường X, phường T, thành phố H, N cho rằng cháu T không nghe lời mình, nên N bực tức và đã dùng tay, chân, dép đánh vào đầu, lưng cháu T. Sau đó, Nam tiếp tục bắt cháu T nằm xuống nền nhà rồi dùng cán chổi bằng kim loại (dạng ống) đánh vào mông, lưng và tay chân cháu Thi gây thương tích. Bị N đánh nên cháu T kêu khóc thì chị Lê Thị Minh C phát hiện đến can ngăn, nhưng N không dừng lại mà đe dọa rồi đuổi chị C đi ra khỏi phòng.

Sau đó, N tiếp tục dùng tay ném làm hư hỏng một tivi nhãn hiệu Toshiba 32 inch và một điện thoại di động nhãn hiệu Sony- Xperia đã qua sử dụng.

Sau khi bị N đánh gây thương tích, cháu T được người thân đưa đến Bệnh viện Quân đội 268 thăm khám, băng bó vết thương rồi về nhà.

Ngày 01/03/2022, cháu Lê Bảo T và mẹ cháu là chị Lê Thị Minh C (là người đại điện hợp pháp của cháu T) đã có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về hành vi “Cố ý gây thương tích” để xử lý Nguyễn Văn N theo quy định của pháp luật.

Tại bản Kết luận giám định số 134-22/TgT ngày 18/4/2022, của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Thừa Thiên Huế xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của cháu Lê Bảo T như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

Chạm thương phần mềm vùng trán phải, thái dương - trán trái đã lành, không để lại dấu vết: 0%.

Chạm thương phần mềm ngực phải đã lành, không để lại dấu vết, không ảnh hưởng chức năng: 0%.

Chạm thương phần mềm vùng vai - lưng trái để lại vết biến đổi sắc tố da (02 vết): 1% (một phần trăm).

Chạm thương phần mềm mông hai bên đã lành, không để lại dấu vết: 0%.

Vết thương phần mềm kẽ ngón tay II - IV mu bàn tay phải để lại sẹo không ảnh hưởng chức năng: 1% (một phần trăm).

Chạm thương phần mềm ngón IV ma bàn tay phải để lại vết biến đổi sá tố da: 0,5% (không phẩy năm phần trăm).

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là: 4% (bốn phần trăm).

3. Vật gây, cơ chế hình thành: Vật tày. Tác động từ nhiều chiều hướng khác nhau./.

* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 92/HĐĐG ngày 04/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố H kết luận:

- 01 (một) tivi nhãn hiệu Toshiba - model 32L565VN, màn hình phẳng (32 inch) đã qua sử dụng, giá trị thiệt hại là 2.800.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sony Xperia C3 màu đen, bị vỡ hoàn toàn không sử dụng được, giá trị thiệt hại là 200.000 đồng. Tổng cộng giá trị tài sản bị hư hỏng, thiệt hại là: 3.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng vụ án tạm giữ gồm:

- 01 (một) cây kéo lưỡi bằng kim loại màu trắng dài khoảng 20cm, phần cán kéo có bọc nhựa màu vàng (đã qua sử dụng);

- 01 (một) cán chổi bằng kim loại (dạng ống tròn, dài khoảng 0,94 mét, đường kính khoảng 02cm) bị biến dạng, hư hỏng;

- 01 (một) tivi nhãn hiệu Toshiba - model 32L565VN, màn hình phẳng cảm ứng (32inch) bị hư hỏng, không sử dụng được;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sony Xperia C3 màu đen, bị vỡ hoàntoàn không sử dụng được.

Về xử lý vật chứng:

Ngày 11/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết đinh xử lý vật chứng số 119 trả lại điện thoại di động nhãn hiệu Sony Xperia C3 màu đen, bị vỡ hư hỏng cho chị Lê Thị Minh C. Các vật chứng còn lại tiếp tục tạm giữ để phục vụ công tác điều tra, truy tố và xét xử.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bị cáo N bồi thường, nên không xem xét.

Đối với hình vi cố ý làm hư hỏng tài sản (ti vi và điện thoại di động) có giá trị thiệt hại là 3.000.000 đồng. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản được hình thành trong thời gian bị cáo Nguyễn Văn N và chị C sống chung với nhau như vợ chồng, nên không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với N về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 279/CT-VKSTPH ngày 26/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, khoản 2 Điều 134; Điều 38; điếm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quan điểm: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố bị cáo N là có căn cứ, đúng pháp luật, tuy nhiên đại diện hợp pháp của bị hại đã có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung:

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội đó phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra tại phiên tòa. Do đó có cơ sở để kết luận:

. Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 10/01/2022 đường X, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế), Nguyễn Văn N đã dùng tay chân, dép đánh vào đầu, lưng; dùng cán chổi bằng kim loại đánh vào mông, lưng, tay chân của cháu Lê Bảo T (sinh năm 2013) gây thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể: 4% . Người bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn yêu cầu khởi tố.

Tại khoản 1, Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: “Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Khi thực hiện hành vi, bị cáo N đã phạm vào hai tình tiết định khung quy định tại điểm a, điểm c, khoản 1 Điều này là “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi”. Ngày 19/6/2009, bị cáo N bị Tòa án nhân dân thành phố H xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 17/7/2009, chưa được xóa án tích đến ngày 15/12/2012 bị cáo N lại thực hiện hành phạm tội, ngày 13/01/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xét xử sơ thẩm, xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 08/7/2014, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, nhưng theo công văn số 1269/CCTHADS ngày 20/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, bị cáo N chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm nên không được đương nhiên xóa án tích theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự 2015. Tại điểm b, khoản 2, Điều 53 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: “Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm: Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý”. Do vậy lần phạm tội này bị cáo N phạm vào tình tiết định khung quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 là “tái phạm nguy hiểm”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội Cố ý gây thương tích quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhận thấy: Bị cáo Nguyễn Văn N là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng tay chân và cán chổi bằng kim loại đánh vào mông, lưng, tay, chân của cháu Lê Bảo T (người dưới 16 tuổi) là vi phạm pháp luật, nhưng do bực tức nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người dưới 16 tuổi được pháp luật bảo vệ và gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý thích đáng, mới đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa.

. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Văn N có nhân thân là hai lần bị xử phạt hành chính. Quá trình điều tra, bị cáo Nam thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng, bị cáo N không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bị cáo N phải bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) cán chổi bằng kim loại dạng tròn, bị biến dạng, là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) cây kéo bằng kim loại dài khoảng 20cm, cán bọc nhựa màu vàng, lưỡi bằng kim loại màu trắng, đã qua sử dụng, bị cáo N và chị C không nhận lại, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) ti vi hiệu TOSHIBA - model 32L5650VN, màn hình phẳng (32inch), đã qua sử dụng và bị hư hỏng không sử dụng được, bị cáo N và chị C không nhận lại, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

(Các vật chứng trên được miêu tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 10 năm 2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H với Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố H)

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm d, khoản 2, Điều 134; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015,

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam 13/7/2022.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015,

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) cán chổi bằng kim loại dạng tròn, bị biến dạng.

- 01 (một) cây kéo bằng kim loại dài khoảng 20cm, cán bọc nhựa màu vàng, lưỡi bằng kim loại màu trắng, đã qua sử dụng.

- 01 (một) ti vi hiệu TOSHIBA - model 32L5650VN, màn hình phẳng (32inch), đã qua sử dụng và bị hư hỏng không sử dụng được.

(Các vật chứng trên được miêu tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 10 năm 2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H với Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố H)

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng.

Về quyền kháng cáo: Bản án này là sơ thẩm, bị cáo, bị hại, người đại diện của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Cỡ chữ