- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Út Đ và đồng phạm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 48; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 331/2021/HS-ST Ngày 30- 9 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Sỹ Trứ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Kim Thu.
Bà Nguyễn Thị Hoàng Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa– Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Mai Chiến Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 242/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 301/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa 92/2021/HSST-QĐ ngày 27/9/2021 đối với bị cáo:
1. Nguyễn Út Đ (tên gọi khác: Nguyễn Văn T), sinh năm 1983 tại tỉnh Cà Mau; nơi cƣ trú: Ấp B, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Tăng Thị P (chết); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam 18/11/2020.
2. Nguyễn Út Đ1 (tên gọi khác: Nguyễn Văn K), sinh năm 1987 tại tỉnh Cà Mau; nơi cƣ trú: Ấp B, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Tăng Thị P (chết); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam 12/11/2020.
Các bị cáo có yêu cầu xét xử vắng mặt theo đơn ngày 17/9/2021.
Bị hại: Ông Lê Minh Đ2, sinh năm 1976, nơi cƣ trú: Ấp 6, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt
Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
- Ông Lê Văn N, sinh năm 1981. Vắng mặt
- Ông Võ Văn B, sinh năm 1987. Vắng mặt
- Ông Vê Văn L, sinh năm 1985. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 19 giờ 00 ngày 21/6/2020 ông Lê Minh Đ2 đi bộ ngang qua phòng trọ số 2 của Nguyễn Út Đ tại địa chỉ khu phố Bình Đáng, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thì đƣợc Đ mời ông Đ2 vào nhậu cùng. Lúc này, tại phòng trọ của Đ có Nguyễn Út Đ1 (là anh em ruột của Đ); Võ Văn B, Lê Văn L đang ngồi nhậu chung. Khi ông Đ2 vào nhậu đƣợc khoảng 30 phút thì xảy ra mâu thuẫn cãi nhau với Nguyễn Út Đ. Lúc này, ông Đ2 đi ra đứng trƣớc cửa phòng trọ chửi xúc phạm đến cha mẹ của Đ, do bực tức nên Đ lấy 01 cái ghế nhựa màu xanh để ở hành lang phòng trọ, đánh vào tay ông Đ2 ngay trƣớc phòng trọ. Thấy vậy, Út Đ1 cũng đi ra dùng tay và ghế nhựa đánh ông Đ2. Bị đánh, ông Đ2 bỏ chạy ra đầu dãy trọ và đƣợc mọi ngƣời can ngăn, Đ bỏ về phòng trọ của mình, còn Đ1 đi ra ngoài đƣờng mua thuốc hút. Trong lúc đứng ở đầu dãy trọ, ông Đ2 nhìn thấy chỉ có một mình Út Đ1 đi ra nên lao ra đánh Đ1 bằng tay, sau đó ông Đ2 đi về phòng trọ của mình cách phòng trọ của Út Đ khoảng 500 mét và cùng khu phố Bình Đáng, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Bị đánh, Út Đ1 đi về phòng trọ của Út Đ nói với Đ vừa bị ông Đ2 đánh. Nghe vậy, Út Đ nói: “Vậy đi qua phòng trọ ông Đ2” nói xong Đ và Đ1 đi qua phòng trọ của ông Đ2. Lúc này trong phòng có B, L thấy vậy cũng đi qua phòng trọ ông Đ2 xem sự việc thế nào. Đến nơi, nhìn thấy ông Đ2 đang ở trong phòng của mình nên Út Đ, Út Đ1 lao vào đánh ông Đ2 bằng tay không. Bị đánh, ông Đ2 lấy hai cây búa (búa làm thợ hồ) để ở trong phòng cầm trên hai tay để chống đỡ, đánh lại. Trong lúc giằng co đánh nhau qua lại, ông Đ2 bỏ chạy ra trƣớc cửa phòng trọ thì bị Út Đ đuổi theo và giật đƣợc 01 cây búa từ tay ông Đ2 và đánh vào đầu ông Đ2 01 cái làm ông Đ2 té ngã xuống đất, ông Đ2 đƣợc ngƣời thân đƣa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dƣơng. Riêng Út Đ, Út Đ1 bỏ đi về phòng trọ của mình.
Nhận đƣợc tin báo, Công an phƣờng Bình Hòa đã xác lập hồ sơ tin báo chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thuận An thụ lý giải quyết.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 309/2020/GĐPY ngày 28/7/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dƣơng xác định bị hại Lê Minh Đ2 bị vết thƣơng đỉnh phải 1,5 x 0,1 cm, sẹo lành, lún sọ + xuất huyết dƣới nhện đỉnh phải, máu tụ dƣới màng cứng bán cầu phải, đã điều trị nội khoa. Hiện tại: còn ổ dịch máu tụ dƣới màng cứng trán phải trên CT Scanner sọ não. Chấn thƣơng cẳng tay + cánh tay phải, chấn thƣơng ngực phải đã lành, không còn dấu tích. Kết luận tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là 21% (Hai mƣơi mốt phần trăm).
Cáo trạng số 251/CT-VKS-TA ngày 19/7/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Nguyễn Út Đ và Nguyễn Út Đ1 về tội Cố ý gây thƣơng tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định nhƣ bản cáo trạng đã truy tố và xác định: Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, việc phạm tội có một phần lỗi của bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo đƣợc hƣởng tình giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Út Đ mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm, xử phạt bị cáo Nguyễn Út Đ1 mức án từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Minh Đ2 có yêu cầu các bị cáo Nguyễn Út Đ, Nguyễn Út Đ1 phải bồi thƣờng thiệt hại với số tiền 40.000.000 đồng. Các bị cáo đồng ý bồi thƣờng số tiền này nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 cái búa hiệu Alex đầu bằng kim loại dài khoảng 35cm; 01 cái búa cán bằng gỗ đầu bằng kim loại dài khoảng 40cm.
Tại đơn xin vắng mặt ngày 17/9/2021, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố, các bị cáo đã ăn năn hối cải, đồng ý bồi thƣờng cho bị hại và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Các bị cáo Nguyễn Út Đ, Nguyễn Út Đ1 có yêu cầu xét xử vắng mặt, đơn đƣợc Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Dƣơng xác nhận ngày 17/9/2021. Xét thấy đây là yêu cầu tự nguyện của các bị cáo, việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử, phù hợp với quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị cáo.
Do tình hình dịch bệnh Covid 19 diễn biến phức tạp nên bị hại và những ngƣời tham gia tố tụng khác vắng mặt, trong quá trình tố tụng đã có lời khai của họ thể hiện rõ yêu cầu nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt họ.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
Theo các lời khai trong biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc công khai tại phiên tòa, thể hiện các bị cáo Nguyễn Út Đ, Nguyễn Út Đ1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tình tiết nhƣ bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, ngƣời chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội và vật chứng thu giữ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:
Khoảng 19 giờ 30 ngày 21/6/2020 khu phố Bình Đáng, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng các bị cáo Nguyễn Út Đ, Nguyễn Út Đ1 đã có hành vi sử dụng 01 cái búa hiệu Alex đầu bằng kim loại và 01 cái búa cán bằng gỗ đầu bằng kim loại đánh bị hại Lê Minh Đ2 gây thƣơng tích.
Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 309/2020/GĐPY ngày 28/7/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dƣơng xác định bị hại Lê Minh Đ2 có tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là 21%. Hành vi các bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thƣơng tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố các bị cáo về tội Cố ý gây thƣơng tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật, mức đề nghị áp dụng hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp với hành vi các bị cáo đã thực hiện.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm về sức khỏe của ngƣời khác một cách trái pháp luật, làm ảnh hƣởng an ninh trật tự xã hội tại địa phƣơng. Các bị cáo nhận thức hành vi dùng búa, cán bằng gỗ, đầu bằng kim loại là hung khí nguy hiểm đánh bị hại gây thƣơng tích là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị nhƣng các bị cáo vẫn cố ý phạm tội vì vậy cần xét xử và áp dụng mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ, hậu quả phạm tội đã thực hiện có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và nhân thân của từng bị cáo.
Trong vụ án có đồng phạm nhƣng mang tính giản đơn, trong đó bị cáo Đ là ngƣời trực tiếp gây thƣơng tích cho bị hại nên tính chất nguy hiểm cho xã hội của bị cáo Đ cao hơn bị cáo Đ1.
Đối với ông Võ Văn B và Lê Văn L có hành vi đi theo các bị cáo Đ, Đ1 đến phòng trọ của ông Đ2. Quá trình điều tra xác định B và L không có mâu thuẫn gì với bị hại Đ2, do sợ tiếp tục xảy ra đánh nhau nên đi theo mục đích để can ngăn và trên đƣờng đi ông L đã bỏ về phòng trọ của mình trƣớc, còn ông B do sợ nên đi đến đứng cách hiện trƣờng khoảng 10 mét mà không tham gia đánh nhau với ai. Do đó, cơ quan điều tra không xử lý đối với B và L với vai trò đồng phạm với bị can Đ và Đ1 là đúng quy định.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; việc phạm tội có một phần lỗi của bị hại nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại Lê Minh Đ2 yêu cầu các bị cáo Nguyễn Út Đ, Nguyễn Út Đ2 phải bồi thƣờng thiệt hại với số tiền 40.000.000 đồng; các bị cáo chỉ đồng ý bồi thƣờng số tiền này, đây là sự tự nguyện của các bị cáo và bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cái búa hiệu Alex đầu bằng kim loại dài khoảng 35cm; 01 cái búa cán bằng gỗ đầu bằng kim loại dài khoảng 40cm thu giữ trong vụ án, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 48; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
- Điều 109, Điều 136; các điểm c, d khoản 2 Điều 290; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điều 288 và Điều 590 Bộ luật Dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Út Đ, Nguyễn Út Đ1 phạm tội Cố ý gây thƣơng tích.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Út Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/11/2020.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Út Đ1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/11/2020.
2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo Nguyễn Út Đ, Nguyễn Út Đ1 phải liên đới bồi thƣờng cho bị hại Lê Minh Đ2 40.000.000 đồng (bốn mƣơi triệu đồng).
Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu ngƣời phải thi hành án không thanh toán số tiền trên cho ngƣời đƣợc thi hành án thì hàng tháng ngƣời phải thi hành án thì còn phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tƣơng ứng với thời hạn và số tiền chậm trả.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 cái búa hiệu Alex đầu bằng kim loại dài khoảng 35cm; 01 cái búa cán bằng gỗ, đầu bằng kim loại dài khoảng 40cm.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/7/2021)
4. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Út Đ, Nguyễn Út Đ1 mỗi ngƣời phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và liên đới phải chịu 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án, hoặc bản án đƣợc niêm yết.
Bản án này đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - CQĐT Công an thành phố Thuận An; - CQTHAHS Công an thành phố Thuận An; - Bị cáo; - Bị hại; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Sỹ Trứ |