- Tranh chấp gì? "Tạ Phi L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên b bị cáo Tạ Phi L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 100 Bộ luật Hình sự xử phạt cải tạo; Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt cải tạo
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án s : 330/2024/HS-ST Ngày 18-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Kiều Thị Uyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tô Văn Nhung - Giáo viên (hƣu trí);
2. Ông Nguy n Văn Hoàn - Phó Chủ tịch Hội nạn nh n ch t độc da cam thành ph Dĩ An.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Hồng Sơn, Thƣ ký Tòa án nh n d n thành ph Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Bà Nguy n Thị Hạnh, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024 tại Hội trƣờng A, Tòa án nh n d n thành ph Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý s : 339/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử s : 344/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đ i với bị cáo:
Tạ Phi L (tên gọi khác: B), sinh ngày 24 tháng 01 năm 2007 tại tỉnh Kiên Giang; thƣờng trú: Tổ B, khu ph V, thị tr n V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; nơi ở hiện tại: Tổ B, khu ph V, thị tr n V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học v n: 08/12; d n tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; qu c tịch: Việt Nam; con ông Tạ Công H, sinh năm 1980 và bà Nguy n Thị Kim C, sinh năm 1980; bị cáo có 02 chị, em ruột, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2019; bị cáo chƣa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị c m đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 05/8/2024 cho đến nay; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt;
Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Nguy n Thị Kim C, sinh năm 1980; Địa chỉ: Tổ B, khu ph V, thị tr n V, huyện V, tỉnh Kiên Giang là mẹ của bị cáo; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt;
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Thanh A, Luật sƣ thực hiện Trợ giúp viên pháp lý của Trung t m trợ giúp pháp lý Nhà nƣớc tỉnh B; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt
- Bị hại: Nguy n Viết T, sinh năm 2002; thƣờng trú: Thôn T, thị tr n T, huyện H, tỉnh Bình Định; nơi ở hiện tại: F Hồ T, khu ph B, phƣờng A, thành ph D, tỉnh Bình Dƣơng; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Nguy n T n T1, sinh năm 2008; địa chỉ: S A, đƣờng P, khu ph A, phƣờng T, thành ph T, Thành ph Hồ Chí Minh; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Tấn T1 - người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Mai Kim Q, sinh năm 1987; địa chỉ: S A, đƣờng P, khu ph A, phƣờng T, thành ph T, Thành ph Hồ Chí Minh; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt;
2. Nguy n Trƣơng Hoàng T2, sinh năm 2002; thƣờng trú: Khu ph D, thị tr n T, huyện H, tỉnh Bình Định; nơi ở hiện tại: 1 N, phƣờng B, thành ph T, Thành ph Hồ Chí Minh; vắng mặt.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng: Nguy n Văn B1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Tạ Phi L và Nguy n T n T1 là bạn bè, khoảng 20 giờ 00 phút ngày 10/6/2024 cả hai cùng đến tiệm Internet “T-Rex 5”, đƣờng A, khu ph B, phƣờng A, thành ph D, tỉnh Bình Dƣơng để chơi game. Đến khoảng 07 giờ ngày 11/6/2024, bị cáo L nhặt đƣợc một chìa khoá xe mô tô trong nhà vệ sinh của tiệm Internet. Lúc này, L nảy sinh ý định trộm cắp xe mang đi bán để l y tiền tiêu xài và rủ T1 tham gia thì T1 đồng ý. Sau khi ra bãi xe của tiệm Internet tìm loại xe mô tô có ổ khoá gi ng với chìa khoá nhặt đƣợc, T1 phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu vàng - đen, biển s 77L1-633.68 và tra chìa khoá để mở khoá xe nhƣng không đƣợc. Sau đó, bị cáo L nói T1 cảnh giới để L mở khoá xe và đẩy xe ra ngoài.
Sau khi l y đƣợc xe mô tô trên, L chở T1 đến tiệm sửa xe “N” tại địa chỉ: S I, đƣờng B, khu ph B, phƣờng A, thành ph D, tỉnh Bình Dƣơng. Tại đ y, L thoả thuận với Nguy n Ngọc N (sinh năm 1990; thƣờng trú: Xã M, huyện P, tỉnh Bình Định – là chủ tiệm sửa xe) để bán xe mô tô trên với giá 3.000.000 đồng. Anh N hỏi xe mô tô là của ai thì L nói xe mình, N trả giá 2.000.000 đồng thì L và T1 không đồng ý. Sau đó, L chở T1 về nhà trọ s B, Qu c lộ A, tổ D, khu ph B, phƣờng A, thành ph D, tỉnh Bình Dƣơng. Khi vừa đến nhà trọ thì có 01 nam thanh niên (chƣa rõ nh n th n, lai lịch) đến hỏi mua xe mô tô trên với giá 2.500.000 đồng, lúc này L đồng ý nhƣng T1 không đồng ý bán nên T1 điều khiển xe mô tô về nhà và đi công việc.
Đến ngày 12/6/2024, bị hại Nguy n Viết T đến Công an phƣờng A trình bày sự việc bị m t xe mô tô biển s 77L1-633.68 tại tiệm Internet “T-Rex 5” tại địa chỉ mà L và T1 đến chơi game. Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an phƣờng tiến hành điều tra, xác minh. Đến khoảng 10 giờ ngày 13/6/2024, nhận thức đƣợc hành vi vi phạm nên đ i tƣợng T1 đã ra Công an phƣờng A để đầu thú và giao nộp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu vàng - đen biển s 77L1-633.68, s khung: 1C30AY017083, s máy: 31C3017094. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, bị cáo L đến Công an phƣờng A đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Quá trình điều tra xác định, bị cáo L và đ i tƣợng T1 có nơi cƣ trú rõ ràng và hiện đang s ng cùng gia đình. Đồng thời, khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác, bị cáo L 17 tuổi 4 tháng 19 ngày và đ i tƣợng T1 15 tuổi 11 tháng 14 ngày nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành ph D đã cho gia đình bảo lãnh.
* Vật chứng thu giữ gồm: Xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, s loại Jupiter màu vàng - đen, biển s 77L1-633.68, s khung: 1C30AY017083, s máy: 31C3017094; 01 thẻ nhớ màu xanh, đen nhãn hiệu Hoco, bên trong có chứa đoạn camera ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ việc trộm cắp tài sản ngày 11/6/2024.
* Căn cứ bản Kết luận định giá s : 112/KLĐG-HĐĐGTS ngày 28/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản thƣờng xuyên trong t tụng Hình sự, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu vàng - đen, biển s 77L1-633.68, s khung: 1C30AY017083, s máy: 31C3017094 có giá trị 6.500.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận định giá tài sản s : 112/KLĐG-HĐĐGTS ngày 28/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản thƣờng xuyên trong t tụng Hình sự.
Tại cáo trạng s : 341/CT - VKS - DA ngày 16 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nh n d n thành ph Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy t bị cáo Tạ Phi L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nh n d n thành ph Dĩ An giữ nguyên quyết định truy t và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo Tạ Phi L mức phạt 06 tháng đến 09 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
* Về xử lý vật chứng:
- Đ i với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, s loại Jupiter màu vàng – đen, biển s 77L1-633.68, s khung: 1C30AY017083, s máy: 31C3017094 của anh Nguy n Trƣơng Hoàng T2, anh T2 cho bị hại Thiên mƣợn. Anh T2 đã nhận lại tài sản nên không đặt ra xem xét;
- Đ i với 01 thẻ nhớ màu xanh, đen nhãn hiệu Hoco, bên trong có chứa đoạn camera ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ việc trộm cắp tài sản ngày 11/6/2024, đề nghị lƣu hồ sơ.
* Về trách nhiệm d n sự: Anh Nguy n Trƣơng Hoàng T2 đã nhận lại tài sản; anh T2 và bị hại không có yêu cầu bồi thƣờng gì khác nên không đặt ra xem xét trách nhiệm d n sự.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Th ng nh t với cáo trạng truy t , luận tội của kiểm sát viên đ i với bị cáo, tuy nhiên các bị cáo chƣa đủ 18 tuổi, chƣa nhận thức đầy đủ về pháp luật nên khi xem xét quyết định hình phạt cần c n nhắc, áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự quy định về đƣờng l i xét xử đ i với ngƣời chƣa thành niên phạm tội đ i với bị cáo, xử phạt bị cáo ở mức nhẹ hơn so với mức áp dụng đ i với ngƣời đã thành niên phạm tội tƣơng tự. Đề nghị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đ i với bị cáo.
Trong quá trình điều tra, bị cáo L thừa nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ cáo trạng đã truy t . Tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
[1] Về t tụng: Về hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan điều tra Công an thành ph D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nh n d n thành ph Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy t đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật T tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những ngƣời tham gia t tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành t tụng, ngƣời tiến hành t tụng. Do đó, các hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan tiến hành t tụng, ngƣời tiến hành t tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Tạ Phi L, ngƣời đại diện hợp pháp của bị cáo là bà Nguy n Thị Kim C, ngƣời bào chữa Trần Thanh A; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Nguy n T n T1, ngƣời đại diện hợp pháp Mai Kim Q; Bị hại Nguy n Viết T, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Nguy n Trƣơng Hoàng T2 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; ngƣời làm chứng anh Nguy n Văn B1 vắng mặt. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 290, khoản 2 Điều 291 và khoản 1 Điều 292, Điều 293 Bộ luật t tụng Hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt những ngƣời tham gia t tụng trên.
Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; Biên bản tiếp nhận ngƣời phạm tội ra đầu thú ngày 13/6/2024; Kết luận định giá tài sản s 112/KLĐG-HĐĐGTS ngày 28/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản thƣờng xuyên trong t tụng hình sự thành ph D, tỉnh Bình Dƣơng và những chứng cứ, tài liệu đƣợc thu thập trong hồ sơ vụ án, xác định: vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 11/6/2024, tại tiệm Internet “T-Rex 5”, đƣờng A, khu ph B, phƣờng A, thành ph D, tỉnh Bình Dƣơng. Bị cáo Tạ Phi L lợi dụng sơ hở, thiếu cảnh giác của bị hại đã chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu vàng - đen, biển s 77L1-633.68, trị giá 6.500.000 đồng của bị hại Nguy n Viết T. Hành vi của bị cáo Tạ Phi L đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại, đã đủ yếu t c u thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng s : 341/CT-VKS-DA ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nh n d n thành ph Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đ i với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính ch t, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp x m phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, g y m t trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn c ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính ch t, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nh n th n của bị cáo đủ để giáo dục cải tạo và có tác dụng đ u tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn h i cải; phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; tài sản đã thu hồi đƣợc trả lại cho chủ sở hữu; đồng thời sau khi phạm tội bị cáo đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đ y là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về nh n th n: Bị cáo là ngƣời có nh n th n t t thể hiện bị cáo là ngƣời chƣa có tiền án, tiền sự; bị cáo có nơi cƣ trú ổn định và đang sinh s ng cùng gia đình.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là ngƣời trên 16 tuổi nhƣng dƣới 18 tuổi khả năng nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng chƣơng XII những quy định đ i với ngƣời dƣới 18 tuổi phạm tội để xem xét mức hình phạt đ i với bị cáo.
Xét, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cƣ trú rõ ràng, bị cáo có khả năng tự cải tạo, không g y nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hƣởng x u đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 36, 100 Bộ luật Hình sự xử phạt cải tạo không giam giữ giao bị cáo về chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú để giám sát, giáo dục cũng có tác dụng giáo dục, răn đe phòng ngừa chung. Hủy bỏ lệnh c m đi khỏi nơi trú s 130/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 23/10/2024 của Tòa án nh n d n thành ph Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Trong vụ án còn có Nguy n T n T1 đã th ng nh t, bàn bạc với bị cáo Tạ Phi L thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu vàng - đen, biển s 77L1-633.68, trị giá 6.500.000 đồng; hành vi của bị cáo đã đủ yếu t c u thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, đ i tƣợng T1 mới 15 tuổi 11 tháng 14 ngày nên chƣa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành ph D ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính s 85/QĐ-XPHC ngày 25/9/2024 đ i với Nguy n T n T1 là đúng với quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm d n sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thƣờng gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Xét 01 thẻ nhớ màu xanh, đen nhãn hiệu Hoco, bên trong có chứa đoạn camera ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ việc trộm cắp tài sản ngày 11/6/2024; là tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án nên lƣu hồ sơ theo quy định.
Đ i với bài bào chữa của ngƣời bào chữa cho bị cáo L phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy đƣợc ch p nhận.
Đ i với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành ph D, tỉnh Bình Dƣơng đƣa ra điều luật áp dụng đ i với bị cáo; những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng cũng nhƣ trách nhiệm d n sự là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên đƣợc ch p nhận. Về mức hình phạt đ i với bị cáo có phần nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt th p hơn so với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật t tụng hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Qu c Hội khoá 14 về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên b bị cáo Tạ Phi L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36, 90, 91, Điều 100 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Tạ Phi L 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời gian ch p hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an c p huyện nhận đƣợc quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Tạ Phi L cho Ủy ban nh n d n thị tr n V, huyện V, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Hủy bỏ lệnh c m đi khỏi nơi trú s 130/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 23/10/2024 của Tòa án nh n d n thành ph Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật T tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Qu c Hội khoá 14 về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Tạ Phi L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc t ng đạt bản án hợp lệ./.
| Nơi nhận: - VKSND thành ph Dĩ An (01); - Công an thành ph Dĩ An (03); - Chi cục THA thành ph Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Ngƣời tham gia t tụng (05); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01); - THA hình sự (04); - UBND xã, phƣờng bị cáo thƣờng trú (01); - Phòng PV 06 CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - Phòng PC 10 CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - Lƣu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Kiều Thị Uyên |