vanban.org

Bản án 330/2021/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 28/05/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/05/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Tuấn C và bị cáo Trần Văn D; giữ nguyên bản án Sơ thẩm số 99/2020/HS-ST ngày 24/09/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về phần hình phạt của bị cáo Lê Tuấn C và bị cáo Trần Văn D, như sau:

Tuyên bố các bị cáo Trần Văn D, Lê Tuấn C phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Xử phạt bị cáo Trần Văn D 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đinh Tứ Hải (đầu vụ) và các bị cáo Lê Tuấn Còn, Trần Văn Duy - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? 1/Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Tuấn C và bị cáo Trần Văn D; giữ nguyên bản án Sơ thẩm số 99/2020/HS-ST ngày 24/09/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về phần hình phạt của bị cáo Lê Tuấn C và bị cáo Trần Văn D, như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 330 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 344 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 330/2021/HS-PT
Ngày: 28/05/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tùng

Các Thẩm phán:

Ông Trần Văn Mười

Ông Dương Tuấn Vinh

- Thư ký phiên tòa: ông Thân Văn Nhường, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Tấn Thông, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 05 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 637/2020/TLPT-HS ngày 02 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo Trần Văn D và bị cáo Lê Tuấn C;

Do có kháng cáo của 02 bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 99/2020/HS-ST ngày 24/09/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

Bị cáo có kháng cáo:

1/Trần Văn D, sinh năm 1996 tại tỉnh An Giang; nơi thường trú: ấp B, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: lớp 8/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B và bà Nguyễn Thị Đ; có vợ là bà Nguyễn Thị Thùy T;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo tại ngoại (có mặt).

2/Lê Tuấn C, sinh năm 1997 tại tỉnh An Giang; nơi thường trú: ấp Đ 2, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: lớp 7/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tuấn K và bà Võ Thị Bích V;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo tại ngoại (có mặt).

Người bào chữa cho các bị cáo:

Luật sư Vũ Ngọc C, Đoàn Luật sư thành phố Cần Thơ (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đinh Tứ H và ông Đinh Tứ S là anh em ruột, cùng thuê phòng trọ số 107 nhà trọ “Quỳnh M” của ông Hồ Trung N (địa chỉ: khu phố B, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương).

Lê Tâm S thuê phòng trọ số 131; ông Huỳnh Thanh H và ông Huỳnh Văn H1 (là em ruột của ông H) thuê phòng trọ số 21 cùng trong nhà trọ “Quỳnh M”.

Vào khoảng 14 giờ ngày 01/04/2018, Huỳnh Văn H2 và ông Huỳnh Văn H3 (là em ruột của H2) và Huỳnh Thanh H4 (là anh em họ của H2) đến ăn, uống rượu, bia cùng với ông Huỳnh Thanh H và ông Huỳnh Văn H1 tại phòng trọ số 21. Cùng lúc này, tại phòng trọ số 131, Lê Tâm S1 cũng tổ chức ăn, uống rượu, bia cùng với ông S, ĐH và 02 người bạn của S (là Lê Tuấn C và Trần Văn D).

Do hết thức ăn, S1 điều khiển xe mô-tô chở S đi mua thêm; ĐH đi ra ngoài có việc riêng. Trước khi đi, ĐH giới thiệu và đề nghị D và C đến phòng trọ số 107 của ĐH chơi. D đồng ý và chở C đi từ phòng trọ số 131 đến phòng trọ số 107 của ĐH.

D điều khiển xe mô-tô đến gần phòng trọ số 21, thì va chạm vào chân của H4 đang đi từ trong phòng ra ngoài hành lang. Vì vậy, giữa H4 và D xảy ra việc cãi vã, rồi sau đó, tất cả bỏ đi. Sau khi ra ngoài cổng nhà trọ Quỳnh M để mua thuốc lá, H4 quay lại phòng trọ số 21 và kể cho H2, H và H3 nghe sự việc bị D lái xe mô-tô đụng vào chân và việc cãi nhau giữa H4 và D, nhưng không ai có ý kiến gì.

Do vẫn còn bực tức, nên H4 đến đến phòng trọ số 107 tìm D, yêu cầu phải xin lỗi. Thấy như vậy, H2 đi theo sau H4 vì sợ xảy ra đánh nhau. Khi đến phòng trọ số 107, H4 và D tiếp tục cãi vã lớn tiếng; Còn đang ở trong phòng bước ra cửa xem; ông H3 và H cũng đi từ phòng trọ số 21 đến trước phòng trọ số 107 để xem. Vì sợ H4 đánh nhau với D nên H2 kéo H4 về phòng trọ số 21. Vào lúc này, ĐH đi về đến phòng trọ số 107, nhìn thấy nhiều người trước cửa phòng trọ của mình; khi hỏi ra, ĐH biết được việc D và H4 phát sinh sự mâu thuẫn với nhau.

Trong lúc Hải đang đứng hỏi chuyện với D, khoảng 02 phút sau, H4 và H2 còn tiếp tục quay lại tìm và buộc D phải xin lỗi, nên hai bên tiếp tục lớn tiếng cãi nhau. Trong lúc cãi nhau, H4 xông vào, dùng tay đánh nhiều cái trúng vào đầu của D. Thấy như vậy, H2 cũng xông vào, dùng tay đánh nhiều cái, trúng vào vùng đầu, mặt của D. ĐH vào can ngăn nhưng không được, nên đi đến khu bếp trong phòng trọ số 107, lấy một dao xếp để đánh nhau với H4, H2. Khi ĐH bước ra, thì H4, H2 và D không còn đánh nhau nữa; H4, H2 đã bỏ đi về phòng trọ số 21 nên ĐH xếp dao, bỏ vào túi quần bên phải rồi đến phòng trọ số 21 gặp H4 và H2. Tại đây, ĐH thay mặt D, xin lỗi H4, rồi quay về đứng ở khu vực trước phòng trọ số 107.

Ông H3 thấy H2, D đánh nhau nên gọi điện thoại, báo cho ông N biết. Sau đó, ông N đến phòng trọ số 107, yêu cầu ĐH nói C, D đi về. Cùng lúc này, H2, H4 tiếp tục đi đến phòng trọ số 107, yêu cầu D ra xin lỗi; ĐH sợ H4 và H2 tiếp tục đánh nhau với D nên ngăn không cho D ra, dẫn đến việc cãi nhau, thách đánh nhau giữa H4 với ĐH. Do vậy, ĐH dùng tay phải lấy dao xếp trong túi quần bên phải ra, bật lưỡi dao rồi đâm 01 nhát trúng vào khuỷu tay trái của H4; H4 xoay ngang người thì lưỡi dao xuyên qua khủy tay trái trúng vào thành ngực trái của H4. Nhìn thấy H4 bị đâm nên Hòn xông vào dùng tay đánh Hải; Hải rút dao đâm 01 nhát vào vùng bụng của H2. Hòn tiếp tục xông vào để đánh, thì bị ĐH dùng dao đâm tiếp 02 nhát trúng vào vùng ngực phải. Sau đó, H4 và H2 bỏ chạy; ĐH cầm dao bỏ trốn, và vứt bỏ dao ở một khu vực đất trống.

Sau đó, S1 điều khiển xe mô-tô chở ông S đi mua thức ăn quay về. Khi chưa biết rõ sự việc, Sự tìm đánh ông H3 để trả thù. S1 chạy về phòng trọ số 131, lấy 01 cây tuýp sắt dài khoảng 50 cm, chạy đến phòng trọ số 21 tìm đánh ông H3 nhưng lúc này trong phòng chỉ có một mình ông H. S1 vô cớ dùng cây tuýp sắt đánh vào đầu của ông H, ông H dùng dao (dạng dao Thái Lan) có sẵn trong phòng trọ đâm trúng vào cánh tay phải của S1; S1 lùi ra khỏi phòng trọ số 21 thì ông H liền đóng cửa phòng lại. S1 dùng tuýp sắt đập và dùng nhiều vỏ chai bia bằng thủy tinh ném vào cửa phòng trọ, yêu cầu H mở cửa phòng. C và D đứng gần nhìn thấy, nên chạy đến phụ giúp S1 dùng nhiều vỏ chai bia ném vào cửa phòng trọ của ông H.

Nhận được tin báo, Công an phường Tân Hiệp, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đến nơi và yêu cầu S1, D, C, ông S và ông H về làm việc; H2 và H4 được những người cùng khu trọ đưa đi cấp cứu tại bệnh viện, đến ngày 09/04/2018, H4 xuất viện; ngày 18/04/2018, H2 xuất viện.

Trong quá trình điều tra, đã thu giữ của S1 01 ống tuýp sắt bằng kim loại màu trắng, 02 cây dao phay, 01 quần jean ngắn, 01 áo thun ngắn tay và 01 mũ màu đen; thu giữ của Còn 01 dao tự chế bằng kim loại màu đen, 01 áo sơ mi màu đen có viền hoa và 01 quần jean dài màu đen; thu giữ của D 01 áo thun ngắn tay màu xanh và 01 quần jean dài.

Đối với Đinh Tứ H, sau khi gây án đã bỏ trốn, sinh sống ở nhiều nơi tại huyện T, tỉnh An Giang. Vào ngày 21/05/2019, ĐH đến Công an thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang đầu thú. Vào ngày 19/07/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh Bình Dương đã tiến hành trích xuất ĐH để truy tìm vật chứng là dao gây án nhưng không thu hồi được.

Tại bản kết luận giám định thương tật số 167/2018/GĐPY ngày 17/05/2018, Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh Bình Dương kết luận về thương tích của Huỳnh Văn H2 như sau: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 18%.

Tại bản kết luận giám định thương tật số 171/2018/GĐPY ngày 23/05/2018, Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh Bình Dương kết luận thương tích của Huỳnh Thanh H4 như sau: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 20%.

Đối với thương tích của ông H và ông S1: do thương tích nhẹ, ông H và ông S1 từ chối giám định thương tích và không yêu xử lý hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Bình Dương không xử lý.

Vào ngày 23/07/2020, ông Nguyễn Văn L (là anh cùng mẹ khác cha với Đinh Tứ H) đã bồi thường chi phí điều trị thương tích cho Huỳnh Thanh H4 là 20.000.000 đồng và Huỳnh Văn H2 là 35.000.000 đồng; H4 và H2 không yêu cầu ĐH bồi thường thêm.

Tại cáo trạng số 80/CT-VKS.P2 ngày 26/8/2020, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã quyết định truy tố bị cáo Đinh Tứ H về tội “Giết người” theo Điểm n Khoản 1 Điều 123; Điều 15 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015; truy tố các bị cáo Huỳnh Thanh H4 và Huỳnh Văn H2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và truy tố các bị cáo Lê Tâm S1, Trần Văn D và Lê Tuấn C về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Điểm b Khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 99/2020/HS-ST ngày 24/09/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã quyết định như sau:

Tuyên bố bị cáo Đinh Tứ H phạm tội “Giết người” chưa đạt và tội “Cố ý gây thương tích”.

Tuyên bố các bị cáo Lê Tâm S1, Trần Văn D, Lê Tuấn C, Huỳnh Thanh H4, Huỳnh Văn H2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Căn cứ Điểm n Khoản 1 Điều 123; Điểm d Khoản 1 Điều 134; Điều 15; Điểm b, s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51; Điều 55 và Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

-Xử phạt bị cáo Đinh Tứ H 09 (chín) năm tù về tội “Giết người” và 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/05/2019.

Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

-Xử phạt bị cáo Lê Tâm S1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án;

-Xử phạt bị cáo Trần Văn D 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án;

-Xử phạt bị cáo Lê Tuấn C 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Căn cứ Khoản 1 Điều 318; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),

-Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh H4 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

-Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H2 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Vào ngày 30/09/2020, bị cáo Trần Văn D và bị cáo Lê Tuấn C có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo trình bày ý kiến như sau:

- Bị cáo Trần Văn D và bị cáo Lê Tuấn C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm hình phạt, xin hưởng án treo theo đơn kháng cáo nói trên vì cho rằng hành vi của các bị cáo không phải là nguyên nhân gây ra sự việc đánh nhau xảy ra vào ngày 01/04/2018 tại thị xã T, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến như sau:

Vào ngày 01/04/2018, tại nhà trọ “Quỳnh M” thuộc khu phố B, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương xảy ra xô xát giữa một người đang trọ tại đây. Trong số những người bị truy tố, có bị cáo Trần Văn D và Lê Tuấn C; các bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xét về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt mỗi bị cáo hình phạt 02 năm tù giam. Hình phạt như vậy là tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo.

Bị cáo Trần Văn D và bị cáo Lê Tuấn C kháng cáo bản án sơ thẩm, xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo, nhưng không tình tiết, chứng cứ gì mới, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Văn D và bị cáo Lê Tuấn C trình bày ý kiến như sau:

-Bị cáo Trần Văn D và bị cáo Lê Tuấn C đều là những người công nhân nghèo, lao động tại tỉnh Bình Dương. Trong việc xô xát xảy ra vào ngày 01/04/2018 tại nhà trọ Quỳnh M, các bị cáo không phải là người khởi xướng việc xô xát đó. Trong vụ xô xát, các bị cáo chỉ có hành vi ném những vỏ chai bia về phía phòng trọ của đối phương mà không gây hại cho ai.

Vì vậy, xem xét hành vi nói trên của các bị cáo, việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt mỗi bị cáo hình phạt 02 năm tù, là quá nặng.

Với ý kiến nói trên, Luật sư đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét để giảm hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 01/4/2018, tại khu nhà trọ “Quỳnh M” (khu phố B, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương) xảy ra xô xát giữa nhóm của Huỳnh Văn H2, ông Huỳnh Văn H3 (là em ruột của Huỳnh Văn H2) và Huỳnh Thanh H4 (là anh em họ của Huỳnh Văn H2) đến ăn, uống rượu, bia cùng với Hiếu, Hiền tại phòng trọ số 21, và nhóm người tại phòng trọ số 131 của Lê Tâm S1 cũng tổ chức ăn, uống rượu, bia cùng với ông Đình Tứ S, Đình Tứ H và 02 người bạn của Lê Tâm S1, là Lê Tuấn C và Trần Văn D.

Xô xát giữa các bị cáo khởi đầu từ việc, trong khi Trần Văn D chở Lê Tuấn C đi từ phòng trọ số 131 đến phòng trọ số 107 của Đinh Tứ H, thì đụng vào chân của Huỳnh Thanh H4, dẫn đến việc cãi nhau giữa Huỳnh Thanh H4 và Trần Văn D. Vì Huỳnh Thanh H4 buộc Trần Văn D phải xin lỗi nên giữa hai bên tiếp tục xảy ra cãi vã với nhau.

Trong lúc cãi nhau, Huỳnh Thanh H4 dùng tay, đánh nhiều cái trúng vào đầu của Trần Văn D. Huỳnh Văn H2 cũng xông vào, dùng tay đánh nhiều cái trúng vào vùng đầu, mặt của Trần Văn Duy. Đinh Tứ H can ngăn việc đánh nhau, nhưng không được. Vì vậy, Đinh Tứ H đi đến khu bếp trong phòng trọ số 107, lấy một dao xếp để đánh nhau với Huỳnh Thanh H4, Huỳnh Văn H2.

Sau đó, Huỳnh Thanh H4 với Đinh Tứ H thách thức đánh nhau. Đinh Tứ H dùng tay phải, lấy dao xếp đâm 01 nhát trúng vào khuỷu tay trái của Huỳnh Thanh H4. Huỳnh Thanh H4 xoay ngang người, lưỡi dao xuyên qua khủy tay trái trúng vào thành ngực trái của Huỳnh Thanh H4. Nhìn thấy Huỳnh Thanh H4 bị đâm, Huỳnh Văn H2 chạy vào, dùng tay đánh Đinh Tứ H thì bị Đinh Tứ H dùng dao, đâm 01 nhát vào vùng bụng của Huỳnh Văn H2. Sau đó, Huỳnh Văn H2 tiếp tục xông vào để đánh Đinh Tứ H thì bị Đinh Tứ H dùng dao đâm tiếp 02 nhát trúng vào vùng ngực phải.

Sau khi, do hiểu lầm nên Lê Tâm S lấy 01 cây tuýp sắt, dài khoảng 50 cm, chạy đến phòng trọ số 21 để tìm đánh ông Huỳnh Văn Hạt (là em của Huỳnh Văn H2). Tại đây, Lê Tâm S1 dùng cây tuýp sắt đánh vào đầu của ông H và hai bên đánh nhau. Trong khi hai bên đang đánh nhau, Lê Tuấn C và Trần Văn D đứng gần đấy, phụ giúp Lê Tâm S1 bằng việc dùng nhiều vỏ chai bia ném vào cửa phòng trọ của đối phương.

Tại bản kết luận giám định thương tật số 167/2018/GĐPY ngày 17/05/2018, Trung tâm Pháp y-Sở Y tế tỉnh Bình Dương kết luận về thương tích của Huỳnh Văn H2 như sau: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên, hiện tại là 18%.

Tại Bản kết luận giám định thương tật số 171/2018/GĐPY ngày 23/05/2018, Trung tâm Pháp y-Sở Y tế tỉnh Bình Dương kết luận về thương tích của Huỳnh Thanh H4 như sau: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên, hiện tại là 20%.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo trong vụ án nói trên, như sau:

-Xử phạt Đinh Tứ H 09 (chín) năm tù về tội “Giết người” (chưa đạt) và 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; tổng cộng là 12 năm tù;

-Xử phạt bị cáo Lê Tâm S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, Trần Văn D 02 (hai) năm tù, Lê Tuấn C 02 (hai) năm tù, Huỳnh Thanh H4 01 (một) năm tù, Huỳnh Văn H2 09 (chín) tháng tù cùng về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Lê Tuấn C và Trần Văn D kháng cáo xin hưởng án treo; các bị cáo khác không kháng cáo.

Xét kháng cáo của bị cáo Lê Tuấn C và bị cáo Trần Văn D:

-Các bị cáo có hành vi ném chai bia bị vỡ vào phía phòng trọ của ông Huỳnh Thanh H và tham gia vào việc xô xát giữa hai nhóm người trong vụ án này. Sự việc bị cáo Lê Tuấn C và bị cáo Trần Văn D dùng chai bia bị vỡ, ném vào phòng trọ của người khác trong khi đang có người trong phòng trọ, là hành vi gây nguy hiểm cho người khác, về sức khỏe và tính mạng.

Vì vậy, việc Tòa án cấp Sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” là đúng pháp luật.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp Sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; xem xét và đánh giá đúng vai trò của các bị cáo trong vụ án, nên đã xử phạt hai bị cáo, mỗi bị cáo phải chịu hình phạt 02 năm tù; hình phạt như vậy là tương xứng với tính chấp và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo.

Các bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo, nhưng không có tình tiết gì mới, Tòa án cấp Phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 330; Điều 344; Điều 345 và Điều 355 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015;

1/Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Tuấn C và bị cáo Trần Văn D; giữ nguyên bản án Sơ thẩm số 99/2020/HS-ST ngày 24/09/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về phần hình phạt của bị cáo Lê Tuấn C và bị cáo Trần Văn D, như sau:

Tuyên bố các bị cáo Trần Văn D, Lê Tuấn C phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

-Xử phạt bị cáo Trần Văn D 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án;

-Xử phạt bị cáo Lê Tuấn C 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

2/Các quyết khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3/Về án phí phúc thẩm: bị cáo Lê Tuấn C và bị cáo Trần Văn D, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ