vanban.org

Bản án 330/2020/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 20/05/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/05/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

tố tụng Hình sự năm 2015,

Sửa một phần bản án sơ thẩm: Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T không phải nộp án phí hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý…"
  • Tòa quyết gì? tố tụng Hình sự năm 2015,
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 244 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 330/2020/HS-PT
Ngày: 20-5-2020

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Cảnh

Các thẩm phán: Ông Hoàng Văn Thành

Bà Nguyễn Thị Xuân Thu

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Tưởng Thị Huyền - Thư

ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên

tòa: Ông Nguyễn Đình Đồng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà

Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 247/2020/TLPT-HS ngày 10 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 201/2019/HS-ST ngày 04 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Hà Nội.

* Bị cáo có kháng cáo:

NGUYỄN VĂN T (Tên gọi khác: C); sinh ngày 01/7/19XX tại V P;

ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn X, xã V S, huyện V T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn I và bà Nguyễn Thị T (đều đã chết); có vợ Phạm Thị Q và 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:

- Bản án số 37/2007/HSST ngày 30/8/2007, TAND huyện Vĩnh Tường,

tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 24 tháng về tội “Đánh bạc” (Hiện đã xóa án);

- Bản án số 74/2013/HSST ngày 13/9/2013, TAND huyện Vĩnh Tường,

tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” (Hiện đã xóa án).

Bị cáo tại ngoại, có mặt.

* Ngoài ra còn có bị cáo Vũ Thị Ngọc Đ không có kháng cáo và

không bị kháng cáo, kháng nghị:

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18h45’ ngày 17/03/2019, tổ công tác phòng PC05 (Đội 2) -

Công an thành phố Hà Nội phối hợp cùng Đội cảnh sát kinh tế - Công an quận Thanh Xuân tiến hành làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa tòa nhà I9, ngõ 13 đường Khuất Duy Tiến, phường Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân, Hà Nội phát hiện Vũ Thị Ngọc Đ cùng 01 người phụ nữ (hiện không xác định được) đang mở 01 thùng hàng carton màu trắng cạnh chiếc xe ô tô con nhãn hiệu Hyundai, màu bạc, BKS: 30A-807.XX có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Vũ Thị Ngọc Đ, người phụ nữ còn lại đã bỏ chạy thoát. Quá trình kiểm tra phát hiện bên trong thùng carton màu trắng có 05 cá thể rắn (nghi là rắn hổ chúa), mỗi cá thể rắn được đựng trong 01 túi lưới màu trắng, tất cả được đựng trong 01 túi lưới màu xanh. Tổ công tác đưa Đ về trụ sở công an phường Thanh Xuân Bắc để làm rõ. Tại trụ sở công an, Đ khai nhận 05 cá thể rắn trên là rắn hổ mang chúa Đ mua của Nguyễn Văn T để mang bán cho khách.

Cơ quan công an đã thu giữ của Vũ Thị Ngọc Đ: 05 cá thể rắn (nghi là

rắn hổ chúa), mỗi cá thể rắn được đựng trong 05 túi lưới màu trắng, tất cả được đựng trong 01 túi lưới màu xanh, được để trong 01 thùng carton màu trắng, 05 cá thể rắn trên đều còn sống; 01 chiếc điện thoại di động OPPO, màu vàng trắng, lắp 01 sim số 098476XXXX, số IMEI 1: 866468034867830, số IMEI 2: 866468034867822 (đã qua sử dụng).

Quá trình điều tra đã xác định: Khoảng 13h ngày 17/03/2019, 01 người

phụ nữ sử dụng số điện thoại 096431XXXX gọi điện vào số điện thoại 098476XXXX của Vũ Thị Ngọc Đ đặt mua 05 cá thể rắn hổ chúa với giá 2.500.000 đồng/1kg, giao hàng tại trước cửa tòa nhà I9, ngõ 13, đường Khuất Duy Tiến, Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân, Hà Nội, Đ đồng ý. Khoảng 13h00’ ngày 17/03/2019, Vũ Thị Ngọc Đ gọi điện cho T để đặt mua 05 con rắn hổ mang chúa. T đồng ý bán cho Đ với giá 1.000.000 đồng/1 kg rắn hổ mang chúa và hẹn mang hàng ra ngã tư đường liên xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau đó T bắt 05 con rắn hổ mang chúa từ trại nuôi rắn ở nhà của T và bỏ mỗi con rắn hổ mang chúa vào trong túi lưới màu trắng rồi cho 05 túi lưới màu trắng trên vào 01 túi lưới màu xanh để trong 01 thùng carton màu trắng và dán kín. Tổng trọng lượng của 05 con rắn hổ mang chúa là 7,8kg. Khoảng 15h30’ cùng ngày, T mang 01 thùng carton chứa 05 con rắn hổ mang chúa trên sang nhà bà Phạm Thị Phương L (là mẹ của Vũ Thị Ngọc Đ) và dặn bà L khoảng 17h00 cùng ngày mang thùng hàng trên ra ngã tư đường liên xã Vĩnh Sơn cho Đ nhưng T không nói cho bà L trong thùng carton đó chứa gì rồi T đi về nhà. Sau đó, Đ thuê xe taxi nhãn hiệu Hyundai, màu bạc, BKS: 30A-807.XX do ông Đỗ Tiến H (SN: 19XX; HKTT: Số X Khu N V, Thị trấn P C, huyện P N, Phú Thọ) điều khiển chở Đ đi từ nhà tại xã Trạm Thản, huyện Phù Ninh, Phú Thọ xuống xã Vĩnh Sơn, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc lấy hàng mang xuống Hà Nội giao cho khách. Khi đi đến đường liên xã Vĩnh Sơn, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc, Đ gọi điện cho T, một lúc sau bà Phạm Thị Phương L đi xe đạp chở 01 thùng carton màu trắng bên trong chứa 05 con rắn hổ chúa đưa cho ông H để cốp xe ôtô. Khoảng 18h45’ cùng ngày, khi ông H chở Đ đến trước cửa tòa nhà I9, ngõ 13, đường Khuất Duy Tiến, Đ gọi điện cho người phụ nữ đặt mua 05 cá thể rắn hổ mang chúa ra nhận hàng. Đ bê thùng carton chứa 05 cá thể rắn hổ chúa từ cốp sau xe taxi để trên vỉa hè để người phụ nữ kiểm tra. Khi cả hai đang mở thùng hàng thì bị tổ công tác phòng PC 05 (Đội 2) - CATP Hà Nội phối hợp với Đội Cảnh sát kinh tế - Công an quận Thanh Xuân, Hà Nội kiểm tra, phát hiện, bắt giữ cùng toàn bộ tang vật. Lúc này, người phụ nữ hỏi mua rắn đã bỏ chạy thoát. Sau khi được cơ quan điều tra áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, Đ đã đến gặp T và trả cho T 7.500.000 đồng tiền mua 05 cá thể rắn hổ mang chúa (T bớt cho Đ 300.000 đồng).

Tại bản kết luận giám định số 247/STTNSV ngày 29/03/2019 của

Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật - Viện hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam kết luận:

- 05 cá thể động vật còn sống là loài Rắn hổ chúa, tên khoa học là

Ophiophagus hannah.

- Loài rắn hổ chúa Ophiophagus hannah thuộc phụ lục I (danh mục loài

nguy cấp quý hiếm được ưu tiên bảo vệ), ban hành kèm theo nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.

- Loài rắn hổ chúa Ophiophagus hannah thuộc nhóm IB, (danh mục

thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm), ban hành kèm theo nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ.

- Loài rắn hổ chúa Ophiophagus hannah thuộc phụ lục II (danh mục các

loài động vật, thực vật hoang dã hoang dã quy định trong các Phụ lục của công ước về buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp), ban hành kèm theo thông tư 04/2017/TT-BNNPTNT ngày 24/02/2017 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Qua điều tra xác định: Hộ gia đình Nguyễn Văn T được Chi cục kiểm

lâm Vĩnh Phúc cấp giấy phép chăn nuôi rắn hổ chúa (tên khoa học là Ophiophagus hannah) nhưng không được phép tự ý xuất bán khi chưa có sự kiểm tra, giám sát và xác nhận của Chi cục kiểm lâm tỉnh Vĩnh Phúc. Khi bán 05 cá thể rắn cho Vũ Thị Ngọc Đ, T không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 201/2019/HS-ST ngày 04 tháng 11 năm

2019 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 244, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật

Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Ngoài ra bản án còn xử phạt bị cáo Vũ Thị Ngọc Đ 16 tháng tù, cho

hưởng án treo; tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 11/11/2019 bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo xin được

hưởng án treo.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm

tội của mình đúng với nội dung bản cáo trạng và bản án sơ thẩm đã quy kết. Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo với lý do bị cáo bị bệnh tật hiện bị tai biến; các con còn đi học; gia đình có hoàn cảnh khó khăn, vợ bị bệnh thoái hóa cột sống.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tại phiên tòa sau khi

tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá, phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nhân thân bị cáo, xem xét kháng cáo của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng Hình sự, xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Cụ thể áp dụng khoản 1 Điều 244, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T 18 tháng tù; các quyết định khác có hiệu lực pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đúng về

mặt chủ thể kháng cáo và trong thời hạn của luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên tòa phúc thẩm

phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều, phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị cáo Vũ Thị Ngọc Đ, người làm chứng, kết luận giám định, tang vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13h00 ngày 17/3/2019, mặc dù không được phép của Chi Cục kiểm lâm tỉnh Vĩnh Phúc trước khi giao dịch thương mại, Nguyễn Văn T đã thực hiện hành vi bắt 05 cá thể rắn hổ mang chúa tổng trọng lượng là 7.8 kg từ trại nuôi rắn ở nhà của mình tại thôn X, xã V S, huyện V T, tỉnh Vĩnh Phúc mang bán cho Vũ Thị Ngọc Đ. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn T đã bị Toà án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo điểm a khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T xin giảm nhẹ hình phạt,

được hưởng án treo thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án, thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải và đã áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt tù giam đối với bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”, buộc các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội bởi bị cáo có nhân thân xấu, có nhiều tiền án, đã được cải tạo, giáo dục song không chịu tu dưỡng, rèn luyện là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, do vậy kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn T là không có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức hình phạt 18 tháng tù là còn có phần nghiêm khắc, bị cáo bản thân có hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn đang đi học, hiện bị bệnh tật, ốm yếu, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Do vậy nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo sớm hòa nhập với xã hội thành công dân tốt.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo được cấp phúc thẩm chấp nhận nên

không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật

tố tụng Hình sự năm 2015,

1. Sửa một phần bản án sơ thẩm:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T không phải nộp án phí hình sự

phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Vũ

Thị Ngọc Đ, xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ