vanban.org

Bản án 33

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh: Tuyên b : Bị cáo Lù Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Hình phạt: Lù Văn D 15 (Mười lăm) tháng t . Thời hạn t tính từ ngày bị cáo bị b t (27/7/2021). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lù Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên b : Bị cáo Lù Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 333 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M
TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án s : 33/2021/HS-ST
Ngày 09/12/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH HÀ GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Ông C ng Tr n Lư ng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà S ng Thị Sinh

Ông Ngô Chí Cường

- Thư ký phiên tòa: Ông Mua Mí Ch - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ti n D ng - kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang xét xử s th m vụ án hình sự thụ lý s : 30/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2021, theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử s : 34/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2021 đ i bị cáo:

Lù Văn D; (tên gọi khác: Không có); Sinh năm 1997; tại xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang; n i cư trú: thôn B, xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Giáy; gi i tính: Nam; qu c tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: L Văn Lè (đã ch t) và bà Lục Thị Vá, sinh năm 1974; V , con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: t t.

Bị cáo bị b t ngày 27/7/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện M, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

Ng i c qu n l i ngh a v liên quan: Ông L Minh C, sinh năm 1982; địa chỉ: thôn B, xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang. Có mặt

Những ng i làm chứng: L Văn H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ s vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm t t như sau:

khoảng 17 giờ 30 phút ngày 27/7/2021 do có nhu c u sử sụng ma túy nên Lù Văn D sử dụng điện thoại c a mình (loại màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO RENO3 PRO 5G, vỏ mặt sau màu xanh đen) có g n sim s 0335066188 gọi cho Phan Văn T (sinh năm: 1982 nơi c trú: thôn Đ, xã N hu ện M) theo s điện thoại 0395631395 mục đích là để hỏi T có ma túy Heroine không thì mua về sử dụng, khi T nghe máy, D hỏi T có ở nhà không thì T trả lời là không ở nhà nên D t t máy không trao đổi gì thêm. Đ n khoảng 19 giờ 45 phút c ng ngày, D ti p tục gọi điện cho T nhưng T không nghe máy, đ n khoảng 20 giờ c ng ngày, thấy T gọi lại, D đi ra sân phía trư c nhà mình nghe điện thoại, lúc này D hỏi T “anh c thuốc không?” (ý hỏi T có ma túy không), T trả lời là “c ”. D nói ti p “đ cho em 1

đ ng” thì T đồng ý và hẹn D đ n đoạn đường d c (thuộc Quốc lộ 4C đi qua địa phận thôn Đ, xã N hu ện M) giao, nhận ma túy. Sau đó D một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RSX, màu s n đỏ đen, biển kiểm soát 23P1 - 053.82 đi một mình đ n điểm hẹn. D chờ khoảng 10 phút nhưng không thấy T đ n nên D gọi điện thoại cho T thì T bảo D chờ thêm một lúc, đư c khoảng 05 phút sau, T một mình đi xe máy đ n vị trí c a D đang chờ. Lúc này D lấy 1.000.000 đồng (g m 1 t mệnh giá 5

đ ng 4 t mệnh giá 1

đ ng và 2 t mệnh giá 5

đ ng) từ trong túi qu n ra đưa cho T, T c m tiền đồng thời lấy từ trong túi qu n phía trư c bên trái c a chi c qu n lửng T đang mặc ra 01 gói Heroine (đ c g i bằng một mảnh túi ni lông màu xanh c kích th ớc t ơng đ ơng đầu ng n ta út ng i lớn) đưa cho D. Do s có người qua lại nhìn thấy, h n nữa đã từng mua ma túy c a T một l n nên D không mở ra xem mà cất gói ma túy vào túi phía trư c bên trái c a chi c qu n lửng mà mình đang mặc rồi điều khiển xe máy quay về nhà mình, về đ n nhà đư c một lúc, thấy bà nội c a mình là L Thị U (7 tuổi) đã đi ng , D nảy sinh ý định chia nhỏ s ma túy vừa mua đư c ra để thuận tiện cho việc sử dụng. Ngay sau khi nảy sinh ý định, D tìm ở chỗ để sách vở c a em gái (là con của anh Lù Văn H - chú ruột của D) ở trong nhà đư c 01 tờ giấy màu tr ng loại có dòng kẻ ô ly, 01 dây cao su màu hồng (loại dâ buộc t c của nữ), sau đó lấy thêm 01 chi c dao lam c và 01 túi ni lông trong su t (loại vỏ bao thuốc lào) rồi đi lên đồi phía sau nhà (cách nhà khoảng 2 m) để chia ma túy. Khi đ n g n bụi tre gai, D ngồi xu ng đất, bật đèn Flash điện thoại lên soi rồi lấy gói ma túy ra d ng tay bóp nhiều l n làm cho chất ma túy bên trong vỡ vụn h t thành dạng bột. Sau đó D d ng dao lam c t tờ giấy mang theo thành nhiều mảnh nhỏ, c t giấy xong, D mở gói ma túy ra, d ng một mảnh giấy xúc từng ph n ma túy vào từng mảnh giấy nhỏ vừa c t ra rồi gói lại đư c 17 gói (tép), s ma túy còn thừa ra (t ơng đ ơng với l ng ma tú của 1 tép mà D vừa g i) thì D để lại để sử dụng. D cho toàn bộ 17 gói (tép) ma túy vừa gói xong vào trong 01 túi ni lông trong su t (loại vỏ bao thuốc lào) rồi d ng s i dây cao su buộc lại và cất toàn bộ s ma túy này vào túi phía trư c bên trái c a chi c qu n lửng mà mình đang mặc mang theo trên người v i mục đích khi nào có nhu c u thì sử dụng, cất ma túy xong, D lấy s ma túy để lại trư c đó sử dụng h t bằng hình th c hít. Sau đó D lấy mảnh túi ni lông màu xanh gói ma túy trư c đó, c ng v i 03 đ n 04 mảnh giấy nhỏ c t ra còn thừa không d ng đ n và mảnh giấy bạc mà D vừa d ng để sử dụng ma túy để lẫn vào nhau rồi vo tròn lại (kích th ớc to bằng đầu ng n trỏ) ném về phía bụi tre gai cách vị trí D gói ma túy khoảng 04 đ n 05 mét, D ti p tục ném chi c dao lam về phía bụi tre (do tr i tối nên D không xác định đ c những đ vật trên rơi ở vị trí nào) rồi quay vào nhà. Đ n khoảng 22 giờ 30 phút c ng ngày D đi bộ một mình đ n khu vực c u (thuộc Quốc lộ 4C đi qua địa phận thôn B, xã N hu ện M, cách nhà D khoảng 1 m) để b t sóng Wifi ch i điện tử trên điện thoại. Đ n 22 giờ 50 phút c ng ngày, D bị Công an xã N, huyện M phát hiện b t quả tang và thu giữ toàn bộ 17 gói (tép) ma túy Heroine mà D mang theo trên người c ng các tang vật khác có liên quan.

Ngày 28/7/2021, C quan CSĐT Công an huyện M đã ph i h p v i Viện Kiểm sát nhân dân huyện M, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang ti n hành cân tịnh xác định: Tổng kh i lư ng c a tang vật nghi là chất ma túy Heroine đã phát hiện thu giữ khi b t quả tang đ i v i L Văn D là 0,44g (không phấ bốn m ơi bốn gam), đồng thời gửi giám định đ i v i toàn bộ tang vật nêu trên (đ c ký hiệu từ A1 đến A17).

Tại bản k t luận giám định s : 337/KL-PC09, ngày 31/7/2021 c a Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang k t luận: Mẫu chất bột màu tr ng gửi giám định ký hiệu l n lư t từ A1 đ n A17 là ma túy, loại Heroine.

Ngày 29/7/2021, C quan CSĐT Công an huyện M đã ph i h p v i Trung tâm Y t huyện M ti n hành Test ma túy đ i v i L Văn D, k t quả tại thời điểm Test L Văn D dư ng tính v i ma túy Heroine.

* Vật chứng đã thu giữ:

Trong quá trình điều tra, C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Hà Giang đã ti n hành thu giữ tài liệu, đồ vật sau:

01) 01 phong bì màu tr ng (bên trong đựng chất bột ma tú Heroine là mẫu vật còn lại sau giám định) đã niêm phong, mặt trư c phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1 đến A17”, mặt sau phong bì có hình dấu c a Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ vi t c a thành ph n tham gia niêm phong.

02) 01 chi c phong bì màu tr ng đã niêm phong, mặt trư c phong bì ghi “Các vỏ bao g i và phong bì niêm phong cũ tang vật thu giữ của Lù Văn D”, mặt sau phong bì có chữ ký, chữ vi t c a các thành ph n tham gia niêm phong và hình dấu c a C quan CSĐT Công an huyện M.

03) 01 chi c điện thoại di động, màn hình cảm ng, vỏ mặt sau màu xanh đen có chữ OPPO (loại má RENO3 PRO 5G), điện thoại đã qua sử dụng đư c niêm phong bên trong 01 chi c phong bì màu tr ng, mặt trư c phong bì có ghi “chiếc điện thoại di động phát hiện tạm giữ của Lù Văn D vào ngà 27/7/2 21”, mặt sau phong bì có chữ ký, chữ vi t c a các thành ph n tham gia niêm phong và hình dấu c a C quan CSĐT Công an huyện M.

04) 01 chi c điện thoại di động loại màn hình cảm ng, vỏ mặt phía sau màu xanh, đã qua sử dụng đư c niêm phong bên trong 01 chi c phong bì màu tr ng, mặt trư c phong bì ghi “chiếc điện thoại di động của Phan Văn T” mặt sau phong bì có chữ ký, chữ vi t c a thành ph n tham gia niêm phong và hình dấu c a C quan CSĐT Công an huyện M.

05) 01 chi c xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RSX, màu s n đỏ đen, biển kiểm soát 23P1 - 053.82, xe đã qua sử dụng, không ti n hành kiểm tra tình trạng hoạt động c a xe.

06) 01 chi c chìa khóa xe máy bằng kim loại màu tr ng, có ph n tay c m bọc nhựa màu đen có chữ HONDA, đã qua sử dụng.

07) 01 Ch ng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Lù Mí C (sinh năm 1982 địa chỉ: N - M - Hà Giang); Đăng ký s : 003172, do Công an huyện M cấp ngày: 29/02/2016; Biển s đăng ký: 23P1 - 053.82.

08) S tiền 150.000đ (một trăm năm m ơi nghìn đ ng) đư c niêm phong trong 01 chi c phong bì màu tr ng, mặt trư c phong bì có ghi chữ “Số ti n 15

(một trăm năm m ơi nghìn đ ng) phát hiện tạm giữ của Lù Văn D vào ngà 27/7/2 21”, mặt sau phong bì có chữ ký, chữ vi t, c a những người tham gia niêm phong và hình dấu c a Công an xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang.

Ngày 02/8/2021 C quan CSĐT Công an huyện M, tỉnh Hà Giang ra quy t định khởi t vụ án, khởi t bị can đ i v i bị cáo L Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 249 c a Bộ luật hình sự.

Căn c vào các tình ti t nêu trên. Tại bản cáo trạng s 37/CT-VKSMV, ngày 02/11/2021 c a Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang truy t ra trư c Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang để xét xử bị cáo: L Văn D về tội Tàng Trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 c a Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, kiểm sát viên tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, m c độ nguy hiểm cho xã hội đ i v i hành vi phạm tội c a bị cáo đã giữ nguyên quy t định truy t và đề nghị Hội đồng xét xử:

V tội danh: Tuyên b : Bị cáo Lù Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

V hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 c a Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo:

Lù Văn Dư ng từ 15 (Mười lăm) tháng t đ n 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn t tính từ ngày bị cáo bị b t tạm giữ (Ngày 27/7/2021).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đ i v i bị cáo.

Vật chứng: Căn c Điều 106 c a Bộ luật T tụng hình sự, áp dụng Điều 47 c a Bộ luật hình sự 2015. Xử lí vật ch ng theo quy định c a pháp luật.

V án phí: Căn c điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quy t 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Đề nghị Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo Lù Văn D.

Lời nói sau c ng: Bị cáo cảm thấy ăn năn h i cải về hành vi phạm tội c a mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo đư c hưởng m c án nhẹ nhất để bị cáo s m đư c trở về v i gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên c sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quy t định t tụng: Trong quá trình khởi t , điều tra, truy t . C quan Cảnh sát điều tra huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định c a Bộ luật T tụng hình sự về th m quyền, trình tự, th tục. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không khi u nại về hành vi, quy t định t tụng c a c quan ti n hành t tụng, người ti n hành t tụng, do đó các hành vi, quy t định t tụng đã thực hiện đều h p pháp.

Về tội danh: Bị cáo là công dân đã có đ y đ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận th c đư c tác hại c a ma tuý đ i v i s c khoẻ con người và xã hội, bi t đư c nhà nư c ta coi ma tuý là hàng qu c cấm và nghiêm cấm mọi hành vi Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý. Nhưng vì không giữ vững lập trường bản thân, bị cáo đã tự cai nghiện một thời gian sau đó bị cáo ti p tục dẫn thân vào con đường nghiện ngập. Cụ thể vào khoảng 22 giờ 50 phút bị cáo bị b t quả tang tại thôn Bản Tồng, xã Niêm S n, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, lực lư ng ch c phát hiện thu giữ trên người bị cáo 01 túi nilon trong su t đư c buộc bằng 01 dây cao su màu hồng, bên trong túi nilon có ch a 17 gói nhỏ màu tr ng có dòng kẻ ô ly, bên trong mỗi gói đều ch a chất bột màu tr ng, bị cáo khai nhận là ma túy loại heroine có tổng trọng lư ng 0,44 gram. Như vậy có đ c sở k t luận bị cáo đã vi phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 c a Bộ luật hình sự.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 c a bộ luật hình sự 2015 quy định:

“1. Ng i nào tàng trữ trái phép chất ma tú mà không nhằm m c đích mua bán vận chu n sản xuất trái phép chất ma tú thuộc một trong các tr ng h p sau đâ thì bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm

a)…;

…

c) Hêrôine, cocaine Methamphetamine amphetamine MDMA hoặc XLR-11 có khối l ng từ 1 gam đến d ới 5 gam;”

Xét tính chất, m c độ hành vi phạm tội c a bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực ti p đ n chính sách độc quyền về quản lý, kiểm soát c a nhà nư c đ i v i chất ma túy. Heroine là chất ma túy bị nghiêm cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chi m đoạt. Ma túy không chỉ trực ti p h y hoại đ n s c khỏe, nhân cách c a người sử dụng, mà còn là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, gây mất trật tự trị an tại địa phư ng. V i tính chất m c độ hành vi phạm tội c a bị cáo, c ng như để đấu tranh phòng ch ng loại tội phạm ma tuý hiện nay đang diễn ra h t s c ph c tạp, c n xử bị cáo một m c án nghiêm theo quy định c a pháp luật.

Về tình ti t giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn h i cải, ngoài ra bị cáo là người dân tộc thiểu s , s ng ở v ng có điều kiện kinh t - xã hội đặc biệt khó khăn là tình ti t giảm nhẹ cho bị cáo đư c quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 c a Bộ luật hình sự.

Về tình ti t tăng nặng: Bị cáo không có tình ti t tăng nặng.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 c a BLHS quy định Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đ n dư i 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm ch c vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đ n 05 năm hoặc tịch thu một ph n hoặc toàn bộ tài sản.” HĐXX xét thấy, bị cáo là đ i tư ng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đ i v i bị cáo.

Xét về nhân thân: Bị cáo xuất thân từ gia đình lao động, ăn học không đ n n i đ n ch n. Ngoài l n phạm tội này bị cáo chưa phạm tội l n nào, chưa có tiền án tiền sự, xét thấy bị cáo có nhân thân t t.

Căn c vào tính chất, m c độ, hành vi phạm tội, tình ti t giảm nhẹ, tăng nặng, nhân thân c a bị cáo HĐXX xét thấy c n phải cách ly bị cáo ra khỏi đời s ng xã hội một thời gian nhất định, thì m i có tác dụng cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành công dân bi t s ng, làm việc theo hi n pháp và pháp luật. Đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

Về xử lí vật ch ng vụ án:

- Đ i v i chi c xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RSX, màu s n đỏ đen, biển kiểm soát 23P1 - 053.82 xác định tài sản là c a anh L Minh C (sinh năm: 1982 nơi c trú: thôn B, xã N, hu ện M là chú ruột của bị cáo Lù Văn D), anh C cho em trai mình là L Văn H (sinh năm: 1985 c trú cùng thôn) mư n để đi lại từ năm 2017. Do bị cáo sinh s ng c ng anh L Văn H nên hàng ngày bị cáo vẫn thường sử dụng chi c xe này để đi lại phục vụ sinh hoạt c a gia đình, việc bị cáo sử dụng chi c xe máy nêu trên vào việc thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 27/7/2021 là do bị cáo tự ý lấy đi, anh C và anh H hoàn toàn không bi t.

- Đ i v i s tiền 150.000 đồng phát hiện tạm giữ c a bị cáo vào ngày 27/7/2021; xác định đây là tài sản cá nhân c a bị cáo, bị cáo không d ng s tiền này vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên không phải là vật ch ng c a vụ án.

- Đ i v i chi c điện thoại di động loại màn hình cảm ng, vỏ mặt phía sau màu xanh, đã qua sử dụng; xác định đây là tài sản cá nhân c a Phan Văn T. Căn c tài liệu thu thập đư c có trong hồ s không đ c sở để xác định Phan Văn T sử dụng điện thoại tham gia vào việc thực hiện hành vi phạm tội. Do đó chi c điện thoại nêu trên không phải là vật ch ng c a vụ án.

Tại giai đoạn điều tra C quan CSĐT Công an huyện M đã ra Quy t định xử lý vật ch ng s : 25/QĐ-CSĐT ngày 22/10/2021 trả lại toàn bộ s tài sản, đồ vật trên cho ch sở hữu gồm: anh L Minh C, Phan Văn T và bị cáo L Văn D, nên HĐXX không đề cập xem xét.

- Đ i v i mảnh túi ni lông màu xanh c , các mảnh giấy nhỏ bị cáo c t ra để gói ma túy còn thừa không d ng đ n, chi c dao lam d ng để c t giấy và mảnh giấy bạc bị cáo d ng để sử dụng ma túy vào ngày 27/7/2021, đ n ngày 29/7/2021 C quan CSĐT Công an huyện M đã ph i h p v i Viện Kiểm sát nhân dân huyện M và đại diện chính quyền xã N ti n hành truy tìm toàn bộ khu vực đồi đất phía sau nhà L Văn D nhưng không có k t quả nên HĐXX không xem xét.

- Đ i v i 01 chi c điện thoại di động, màn hình cảm ng, vỏ mặt sau màu xanh đen có chữ OPPO (loại má RENO3 PRO 5G). Tại phiên hôm nay, bị cáo khai nhận các l n mua ma túy bị cáo đều sử dụng điện thoại nêu trên để liên lạc. HĐXX xét thấy đây là công cụ phạm tội c n tịch thu sung công quỹ Nhà nư c.

- Đ i v i 01 phong bì màu tr ng (bên trong đựng chất bột ma tú Heroine là mẫu vật còn lại sau giám định) đã niêm phong, mặt trư c phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1 đến A17”, mặt sau phong bì có hình dấu c a Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ vi t c a thành ph n tham gia niêm phong. Xét thấy đây là vật Nhà nư c cấm lưu hành c n tịch thu tiêu h y.

- Đ i v i 01 chi c phong bì màu tr ng đã niêm phong, mặt trư c phong bì ghi “Các vỏ bao g i và phong bì niêm phong cũ tang vật thu giữ của Lù Văn D”, mặt sau phong bì có chữ ký, chữ vi t c a các thành ph n tham gia niêm phong và hình dấu c a C quan CSĐT Công an huyện M. Xét thấy các vật ch ng không còn giá trị sử dụng c n tịch thu tiêu h y.

Về án phí: Căn c điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quy t 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí HSST đ i v i bị cáo Lù Văn D.

Quá trình điều tra, bị cáo khai nhân Phan Văn T là người đã bán ma túy cho mình. Tuy nhiên, quá trình điều tra, giải quy t vụ án, C quan CSĐT Công an huyện M không thu thập đư c ch ng c pháp lý gì ch ng minh về hành vi mua bán trái phép chất ma túy c a Phan Văn T. Đ i v i hành vi mua bán trái phép chất ma túy c a Phan Văn T C quan CSĐT Công an huyện M ti p tục điều tra làm r và s xử lý bằng một vụ án khác. Đ i v i hành vi sử dụng trái phép chất ma túy c a T c quan Công an huyện M đã ra Quy t định xử phạt vi phạm hành chính s 00574/QĐ-XPHC ngày 22/10/2021 bằng hình th c phạt tiền 750.000 đồng là ph h p v i quy định c a pháp luật.

Đ i v i hành vi sử dụng trái phép chất ma túy c a bị cáo Công an huyện M đã ra Quy t định xử phạt vi phạm hành chính s : 00573/QĐ-XPHC, ngày 22/10/2021 bằng hình th c phạt cảnh cáo là ph h p v i quy định c a pháp luật.

Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận ngoài mua ma túy c a Phan Văn T bị cáo còn mua ma túy c a những người nghiện ở xã C, huyện B, tỉnh Cao Bằng. Do không bi t tên, tuổi, địa chỉ cụ thể c a những người bán ma túy cho bị cáo nên không đ căn c để điều tra xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tội danh: Tuyên b : Bị cáo Lù Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 c a Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo:

Lù Văn D 15 (Mười lăm) tháng t . Thời hạn t tính từ ngày bị cáo bị b t (27/7/2021).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đ i v i bị cáo.

3 Vật chứng: Căn c Điều 106 BLTTHS, áp dụng Điều 47 c a Bộ luật hình sự 2015:

Tịch thu sung công quỹ Nhà nư c:

- 01 chi c điện thoại di động, màn hình cảm ng, vỏ mặt sau màu xanh đen có chữ OPPO (loại má RENO3 PRO 5G) điện thoại đã qua sử dụng đư c niêm phong bên trong một chi c phong bì màu tr ng, mặt trư c phong bì có ghi chiếc điện thoại di động phát hiện tạm giữ của Lù Văn D vào ngà 27/7/2 21”, mặt sau phong bì có chữ ký, chữ vi t c a các thành ph n tham gia niêm phong và hình dấu c a C quan CSĐT Công an huyện M. Vì vật ch ng là công cụ phạm tội.

Tịch thu tiêu h y:

- 01 phong bì màu tr ng (bên trong đựng chất bột ma tú Heroine là mẫu vật còn lại sau giám định) đã niêm phong, mặt trư c phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1 đến A17”, mặt sau phong bì có hình dấu c a Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ vi t c a thành ph n tham gia niêm phong. Vì vật ch ng là vật nhà nư c cấm lưu hành.

- 01 chi c phong bì màu tr ng đã niêm phong, mặt trư c phong bì ghi “Các vỏ bao g i và phong bì niêm phong cũ tang vật thu giữ của Lù Văn D”, mặt sau phong bì có chữ ký, chữ vi t c a các thành ph n tham gia niêm phong và hình dấu c a C quan CSĐT Công an huyện M. Vì vật ch ng không còn giá trị sử dụng.

(Tình trạng đặc đi m chi tiết của các vật chứng nh biên bản giao nhận vật chứng ngà 2/11/2021 giữa Cơ quan Công an hu ện M tỉnh Hà Giang và Chi c c Thi hành án dân sự hu ện M tỉnh Hà Giang.)

4. Án phí: Căn c điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quy t 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Miễn toàn bộ án phí HSST đ i v i bị cáo Lù Văn D

5. Quy n kháng cáo: Áp dụng các Điều 331; Điều 333 c a Bộ luật t tụng hình sự năm 2015 bị cáo, người có quyền l i ngh a vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (09-12-2021).

Cỡ chữ