- Tranh chấp gì? "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! !CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM! HUYỆN!ĐỒNG!PHÚ! TỈNH!BÌNH!PHƯỚC! |
Bản án số: 33/2019/HSST Ngày: 12-7-2019
!
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!ĐỒNG!PHÚ,!TỈNH!BÌNH!PHƯỚC!
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"tòa:"Ông!Huỳnh!Tòa
Các"Hội"thẩm"nhân"dân: Ông!Lê!Quang!Thìn
Ông!Đồng!Văn!Hóa!
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trương Văn Phương, Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Bùi Anh Tuấn!- Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2019/HSST ngày 24 tháng 5 năm 2019, đối với bị cáo:
Họ và tên: H; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1981; Nơi sinh: Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp 2, xã Đồng T, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Họ tên cha: Dư Văn H (đã chết); Họ tên mẹ: Quách Ngọc H1, sinh năm 1948; Chỗ ở hiện nay: 197/3 Trần P, Khu phố Xuân A, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo có 01 em ruột sinh năm 1983 và 02 người con ruột, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2010.
- Tiền án: Bị cáo có 03 tiền án:
+ Ngày 25/8/2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích.
+ Ngày 08/5/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích.
1
+ Ngày 24/01/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích.
- Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2019 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tạo phiên tòa.
*"Người"bị"hại:"
- Ông Đỗ Công M, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Khu phố 3, phường Tân Đ, thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
*"Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan:"
- Bà Huỳnh Thị Quế Ph, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Ấp Vĩnh A, xã Vĩnh H2, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
*"Người"làm"chứng:""
- Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1977.
Địa chỉ: ấp 1, xã Đồng T, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ, ngày 07/3/2019, bị cáo H khi đi ngang qua nhà ông Nguyễn Văn Hiếu tại ấp 1, xã Đồng T, huyện Đồng Phú, phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển kiểm soát 61L3 - 2707 của ông Đỗ Công M đang dựng trong sân nhà ông Hiếu, trên xe cắm sẵn chìa khóa mà không có người trông coi nên H nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Bị cáo H vào lấy xe mô tô rồi điều khiển về hướng thành phố Đồng Xoài. Trên đường đi, H gặp ông Trương Hồ V là Phó Trưởng Công an xã Đồng T, huyện Đồng Phú do sợ bị ông V phát hiện việc trộm cắp tài sản nên bị cáo H đã đem theo xe mô tô trộm cắp của ông M đến Công an huyện Đồng Phú tự thú về hành vi của mình (bút lục 22; 60 -61).
Vật!chứng!thu!giữ:!01 (một) xe mô tô Wave, hiệu Linmax màu đen, biển kiểm soát 61L3 - 2707.
Theo Kết luận định giá tài sản số 15 ngày 08/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Đồng Phú, kết luận: Xe mô tô Wave, hiệu Linmax màu đen, biển kiểm soát 61L3 - 2707 có giá trị là 2.500.000 đồng (bút lục 26).
2
Tại bản cáo trạng số 33/CTr -VKS ngày 24/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo H về tội “Trộm"cắp"tài"sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo H phạm tội “Trộm cắp tài sản”."""
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm r,s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo H mức án từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Trộm"cắp" tài"sản”.
- Về vật chứng vụ án:
Ngày 25/4/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đồng Phú đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô Wave, hiệu Linmax màu đen, biển kiểm soát 61L3 - 2707 cho ông Đỗ Công M là chủ sở hữu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về trách nhiệm dân sự:
Ông Đỗ Công M đã nhận lại tài sản không có ý kiến yêu cầu gì.
Ý kiến của bị cáo H: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Lời nói sau cùng bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử theo quy định.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, quá trình trông tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau: !
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Đỗ Công M, bà Huỳnh Thị Quế Ph đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Xét thấy, quá trình điều tra, truy tố ông Minh, bà Phương không có yêu cầu gì, sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử; Do đó căn cứ khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ
3 sung năm 2017, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật.
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đồng Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa, bị cáo H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 33/CTr -VKS ngày 24/5/2019 mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố đối với bị cáo.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng vụ án đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xét hỏi công khai tại phiên tòa, phù hợp kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do muốn có tiền tiêu xài nên khoảng 13 giờ, ngày 07/3/2019, bị cáo H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô Wave, hiệu Linmax màu đen, biển kiểm soát 61L3 - 2707 của ông Đỗ Công M tại ấp 1, xã Đồng T, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình sẽ bị pháp luật nghiêm trị nhưng do bản tính lười lao động, ham muốn có tiền tiêu xài cá nhân một cách nhanh chóng mà không phải lao động vất vả nên bị cáo đã cố ý trực tiếp thực hiện hành vi
4 lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô của ông Đỗ Công M, giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 2.500.000đ.
Xét bản thân bị cáo đã có 03 tiền án: Vào ngày 25/8/2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích; Vào ngày 08/5/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong Bản án ngày 02/6/2016 chưa được xóa án tích; Vào ngày 24/01/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt ngày 10/11/2018 nhưng chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội do cố ý, thể hiện bị cáo là người thiếu ý thức chấp hành pháp luật, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú đã truy tố bị cáo H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng điều khoản quy định của pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi mà các bị cáo gây ra mới có tác dụng răn đe, nhằm giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng quyền sở hữu tài sản của người khác và nhằm mục đích đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét bị cáo sau khi phạm tội bị cáo đã ra tự thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; bị cáo còn nuôi con nhỏ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, r,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đã được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình.
[5]!Vật!chứng!vụ!án:!!
Ngày 25/4/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đồng Phú đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô Wave, hiệu Linmax màu đen, biển kiểm soát 61L3 - 2707 cho Đỗ Công M là chủ sở hữu, ông M không có ý kiến yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5
[6]Về!trách!nhiệm!dân!sự:!
!
Quá trình điều tra, truy tố ông Đỗ Công M, bà Huỳnh Thị Quế Ph không có ý kiến yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]Về!hình!phạt!bổ!sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8]!Án!phí!hình!sự!sơ!thẩm: Bị cáo H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì"các"lẽ"trên,"
QUYẾT!ĐỊNH!
1. Tuyên bố bị cáo H phạm tội “Trộm cắp tài sản ”.
2. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo H 02 (hai)năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2019.
3. Vật chứng vụ án: Không.
4. Về hình phạt bổ sung: Không.
5. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo H phải nộp 200.000đồng.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo bản án; bị hai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước (01); - P. PV 27 CA tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện Đồng Phú (01); - VKSND tỉnh Bình Phước (01); - CC THADS huyện Đồng Phú(01); - CA huyện Đồng Phú (03); - TT LLTP - Sở Tư pháp Bình Phước (01); - UBND xã Đồng T (01); - Bị cáo; người tham gia tố tụng(01); - Lưu: HSVA (02). | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! !!Thẩm!phán!-!Chủ!tọa!phiên!tòa! ! ! !Huỳnh!Tòa! 6 7 8 |