- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phá A Dế"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phá A D .
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Số: 33/QĐ-TA | Điện Biên, ngày 20 tháng 7 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: bà Đao Thị Bích Thảo.
2. Thư ký phiên họp: ông Quàng Văn Long.
Ngày 20/7/2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 35/QĐ-TA ngày 16/7/2026 đối với:
Họ và tên: Phá A D; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 01/6/1973; Số căn cước công dân: 011073001552; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 0/12; Nguyên quán: tỉnh Sơn La; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Bản Huổi Quang 2, xã N, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Tiền án: Không; Tiền sự: không; Nhân thân: Chưa bị xử lý vi phạm hành chính, bị Tòa án kết tội 02 lần (Lần 1: Bị xử phạt 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Bản án số 32/2014/HSST ngày 18/6/2014 của Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2016 và quyết định khác của bản án ngày 05/02/2015, đã được xóa án tích; Lần 2: Bị xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Bắt, giữ người trái pháp luật theo Bản án số 11/2019/HSST ngày 16/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên, đến ngày 21/12/2019 chấp hành xong hình phạt và các quyết định của bản án, đã được xóa án tích); Con ông Phá A Sai và bà Vừ Thị Sua (Đã chết).
Người bị đề nghị Phá A D bị quản lý tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Điện Biên từ ngày 02/7/2026 cho đến nay. Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: ông Lầu A Thếnh Chức vụ: Phó Trưởng Công an Xã N, tỉnh Điện Biên (Theo văn bản ủy quyền số 07/CV-CAX ngày 17/7/2026 của Trưởng Công an xã N).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên: ông Hoàng Văn Xuân - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phá A D thể hiện:
Phá A D là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2014, có nơi cư trú ổn định tại bản Huổi Quang 2, xã N, tỉnh Điện Biên. Theo đơn tự nguyện xác định tình trạng nghiện của Phá A D, ngày 24/6/2026 Trạm Y tế xã N đã trả lời Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý, kết luận: Phá A D nghiện ma tuý, loại OPI (Heroine).
Công an xã N đã ban hành Thông báo số 12/TB-CAX ngày 24/6/2026 về việc thông báo cho Phá A D đi đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày 24/6/2026. Tuy nhiên đến ngày 02/7/2026 Phá A D vẫn không thực hiện đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Công an xã N đã lập biên bản vi phạm số 12/BB-VPHC ngày 02/7/2026 về việc không thực hiện đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện đối với Phá A D.
Tại bản tường trình về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy: Phá A D thừa nhận nghiện chất ma túy, loại ma túy sử dụng là Heroine, sử dụng bằng hình thức hít; tần suất sử dụng trung bình khoảng 01- 02 lần/ngày; thời điểm sử dụng ma túy lần đầu là năm 2014, thời điểm sử dụng ma túy lần cuối là ngày 02/7/2026 (Bút lục số 17).
Tại Biên bản làm việc của Công an xã N đối với Phá A D ngày 02/7/2026 thể hiện: Phá A D nhận thức rõ phải đi đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả xác định tình trạng nghiện nhưng hết thời hạn mà D vẫn không thực hiện vì lý do lên cơn nghiện (bút lục số 18).
Ngày 06/7/2026 Công an xã N có văn bản số 12/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phá A D.
Sau khi lập hồ sơ, Công an xã N ban hành Thông báo số 12/TB-CAX ngày 06/7/2026 về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phá A D. Quá trình lập hồ sơ, Phá A D đã được thông báo về việc lập hồ sơ và được đọc hồ sơ đúng quy định.
Tại phiên họp:
Đại diện cơ quan đề nghị phát biểu ý kiến: Công an xã N giữ nguyên quan điểm đề nghị như văn bản số 12/ĐN-CNBB ngày 06/7/2026. Phá A D nghiện ma túy từ năm 2014, bản thân cũng mong muốn cai nghiện ma tuý nên đã tự nguyện đi xác định tình trạng nghiện. Ngày 24/6/2026 Phá A D được xác định là nghiện ma túy và đã được thông báo thời hạn đi đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nhưng hết thời hạn quy định D vẫn không thực hiện. Với vi phạm nêu trên Phá A D thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Luật Phòng chống, ma túy năm 2025. Do đó, đề nghị Toà án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Phá A D đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Điện Biên; địa chỉ: Thôn C1, xã Thanh Nưa, tỉnh Điện Biên với thời hạn 24 tháng.
Người bị đề nghị Phá A D thừa nhận nghiện ma túy và đã vi phạm quy định về đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Phá A D không có ý kiến tranh luận, nhất trí đi cai nghiện bắt buộc theo đề nghị của Công an Xã N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Trình tự, thủ tục lập hồ sơ của cơ quan đề nghị và quá trình thụ lý, giải quyết của Toà án đối với việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phá A D được thực hiện đúng theo quy định. Người bị đề nghị Phá A D đã được bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Xét thấy có đủ căn cứ pháp lý đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Phá A D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu, đã được thẩm tra tại phiên họp. Căn Cứ vào kết quả phân tích tình trạng nghiện ma túy của Phá A D tại phiên họp. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến cơ quan đề nghị, người bị đề nghị và ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và ý kiến của những người tham gia phiên họp, thấy rằng:
Về điều luật áp dụng: Phá A D được xác định tình trạng nghiện và trả phiếu kết quả tình trạng nghiện vào ngày 24/6/2026 do đó phải thực hiện thời hạn đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện theo quy định của Luật phòng, chống ma túy năm 2021 và Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý cai nghiện ma túy. Đến ngày 02/7/2026 công an xã N tiến hành kiểm tra, phát hiện Phá A D không thực hiện đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Căn cứ điều 58 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cần áp dụng Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 và Nghị định 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống ma túy (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026) để xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phá A D.
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Công an xã N đối với Phá A D đã đảm bảo đúng về thẩm quyền, thời hiệu, thành phần hồ sơ đề nghị và trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ, tình trạng nghiện ma túy của người bị đề nghị: Phá A D là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính, có nơi cư trú ổn định. Phá A D sử dụng ma túy từ năm 2014 với tần suất khoảng 01 -02 lần/ngày cho thấy sự lệ thuộc vào ma túy ở mức độ cao. Việc thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy không những làm ảnh hưởng đến sức khỏe, hạn chế khả năng lao động của bản thân Phá A D mà còn làm giảm sút kinh tế gia đình và ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương trong lĩnh vực quản lý hành chính.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hành chính thấy rằng: Phá A D có nhân thân xấu, mặc dù chưa bị xử lý vi phạm hành chính và nhưng đã bị Tòa án kết tội 02 lần (đều đã được xóa án tích). Trong quá trình lập hồ sơ xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính Phá A D đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Phá A D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính.
Về mức độ nhận thức của người bị đề nghị: Phá A D đã thừa nhận nghiện ma túy, nhận thức rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, biết tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và đời sống xã hội. Bản thân Phá A D cũng mong muốn cai nghiện tuy nhiên nhưng không thể tự nguyện từ bỏ chất ma túy. Phá A D nhất trí với ý kiến của cơ quan đề nghị về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về ý kiến của những người tham gia phiên họp: Tại phiên họp, đại diện Công an xã N, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Điện Biên và bản thân người bị đề nghị đều nhất trí đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phá A D. Các ý kiến của những người tham gia phiên họp là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Về lý do, căn cứ và sự cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người bị đề nghị:
Ngày 24/6/2026 Phá A D được xác định nghiện ma túy nhưng không thực hiện đăng ký cai nghiện tự nguyện trong thời hạn quy định. Hành vi không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện đã vi phạm điểm a khoản 1 Điều 89 Nghị định 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy. Do đó, có đủ cơ sở để xác định Phá A D thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản điểm a khoản 1 Điều 35 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025.
Căn cứ khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 5, điểm d khoản 2 Điều 6, Khoản 2 Điều 9, Điều 95, Khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung các năm 2020, 2025);
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 29 Luật phòng, chống ma túy năm 2025;
Căn cứ Điều 58 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Căn cứ khoản 7 Điều 4, điểm a khoản 1 Điều 89 khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 98 Nghị định 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy;
Căn cứ vào các Điều 3, Điều 23, Điều 24, Điều 30, Điều 31, Điều 32, Điều 33 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Khoản 1 điều 5 Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 về sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu biển, pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu bay, pháp lệnh trình tự, thủ tục tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng, pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại tòa án nhân dân và pháp lệnh chi phí tố tụng, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2025.
Xét thấy Phá A D đã nghiện ma túy lâu năm và không đủ khả năng để cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Để Phá A D cai nghiện ma túy hiệu quả, học tập, rèn luyện và lao động trở thành công dân khỏe mạnh, sống có ích cho gia đình và xã hội thì cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phá A D.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phá A D .
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày được giao vào quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Điện Biên, ngày 02/7/2026.
3. Phá A D có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
Công an xã N có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Điện Biên có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (ngày 20/7/2026).
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành Quyết định: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Điện Biên.
| Nơi nhận: - Phòng GĐ, KT, TT và THA TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND khu vực 4 - Điện Biên; - Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Điện Biên; - Công an xã N; - UBND xã N; - NBĐN: Phá A D ; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đao Thị Bích Thảo |