- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Xuân V - gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân V phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2026/HS-ST Ngày: 17 - 4 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Dần
2. Ông Đặng Văn Thuận
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Văn Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7- Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Lê Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở TAND khu vực 7- Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2026/TLST-HS, ngày 12/3/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2026/QĐXXST-HS, ngày 06/4/2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Xuân V; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 23/7/2007, tại xã K, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: 038207005100; (Theo danh, chỉ bản số 82, do Cơ quan CSĐT công an tỉnh Thanh Hóa lập ngày 13/01/2026); Nơi cứ trú: Thôn T, xã K, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Bố đẻ: Bùi Văn S; Mẹ đẻ: Bùi Thị T; Vợ, con: chưa; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Xuất phát từ việc nhận nhầm đối tượng mâu thuẫn, vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 27/9/2025 Bùi Đình T, Phạm Việt Đ, Trần Đình Đ, Bùi Xuân V đã có hành vi chửi bới, lùa đuổi, gây ồn ào, náo động khu dân cư tại cửa hàng xăng dầu T thuộc thôn 2, xã T và trước nhà văn hoá thôn 3, xã T, tỉnh Thanh Hoá. Trong đó, Bùi Xuân V dùng chân đạp vào xe của Lê Duy A; Phạm Việt Đ, Trần Đình Đ sử dụng tay, chân đánh nhau. Bùi Đình T sử dụng thắt lưng da đánh vào người của Nguyễn Duy M. Vụ việc gây náo loạn khu dân cư, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho người dân, làm mất an ninh trật tự của địa phương.
Sau khi sự việc xảy ra chính quyền địa phương và người dân sinh sống quanh khu vực hiện trường đã có báo cáo đến cơ quan điều tra về sự việc đánh nhau đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, đề nghị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ việc, hiện trường được xác định là tại cửa hàng xăng dầu T thuộc thôn 2, xã T và nhà văn hoá thôn 3, xã T, tỉnh Thanh Hoá. Quá trình xác minh, Cơ quan điều tra đã thu thập và trích xuất dữ liệu Camera an ninh tại: Cây xăng T tại thời điểm xảy ra vụ việc; nhà bà Đỗ Thị H sinh năm 1984 trú tại thôn 3, xã T; nhà bà Lưu Thị Q sinh năm 1984 trú tại thôn 3, xã T ghi nhận tuyến đường di chuyển của nhóm đối tượng.
Tại Bản kết luận giám định số 4730/KL-KTHS ngày 10/12/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
- Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong các tệp video của mẫu vật gửi đến giám định.
- Trích xuất một số hình ảnh trong tệp video gửi giám định – Thể hiện trong phụ lục.
Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của Lê Duy A ngày 28/9/2025 ghi nhận các vết thương: Mặt trong cẳng tay trái có các vết trầy xước da trong diện (7x4) cm; Tại vị trí khuỷu tay phải có vết xây xước da có kích thước (3x2) cm; Tại vị trí ngón trỏ tay phải có vết xây xước da có kích thước (0,5x0,5) cm.
Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể Nguyễn Duy M ngày 28/9/2025 ghi nhận các vết thương: 01 (một) vết trầy xước không xác định tại vị trí sau gáy kích thước (3x1) cm; Tại mặt ngoài cẳng tay phải có vết trầy xước có kích thước (9x2) cm (vết trầy xước không liên tục); 01 (một) vết thâm tại vị trí khối mi mắt trái có kích thước (01x01) cm; Tại vị trí đầu gối phải có vết trầy xước không liên tục có kích thước (3x3)cm; Tại vị trí mặt sau cánh tay trái có kích thước (4x3) cm; Tại vị trí mu bàn tay trái có vết sưng đỏ kích thước (6x3) cm; tại vị trí cánh tay phải có vết tấy đỏ kích thước (5x2)cm.
Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra, cơ chế hình thành thương tích đối với Lê Duy A và Nguyễn Duy M, kết quả:
Tại Bản kết luận giám định số 670/KLTTCT-PYTH ngày 08/12/2025 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh Thanh Hoá, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Duy A tại thời điểm giám định là 03% (Ba phần trăm).
Tại Bản kết luận giám định số 669/KLTTCT-PYTH ngày 18/12/2025 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh Thanh Hoá, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Duy M tại thời điểm giám định là 01% (Một phần trăm).
Đối với Trần Đình Đ, Phạm Việt Đ, Bùi Xuân V, Bùi Đình T tham gia đánh nhau, tuy nhiên qua xem xét dấu vết trên thể không có thương tích gì nên không tiến hành giám định thương tích.
Ngày 09/02/2026, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự đối với hành vi của Bùi Đình T, Phạm Việt Đ, Trần Đình Đ là người thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi theo quy định của Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024, sửa đổi bổ sung năm 2025 và Bùi Xuân V là người đủ 18 tuổi thành một vụ án hình sự khác để điều tra theo quy định.
Quá trình điều tra Bùi Xuân V đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị can phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, hình ảnh trích xuất camera, biên bản khám nghiệm hiện trường cùng các tài liệu khác thu thập được trong quá trình điều tra.
Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKSKV7, ngày 10/3/2026, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) khu vực 7- Thanh Hóa đã truy tố Bùi Xuân Văn về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).
Phần tranh tụng phiên tòa Đại diện VKS giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Áp dụng khoản 1, Điều 318; điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 BLHS để xử phạt bị cáo Bùi Xuân V từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Phạm Việt Đ, Bùi Tuấn V, Phạm Văn Q, Trần Đình Đ, Bùi Xuân V, Lê Trung H, Trần Tuấn A đã bồi thường thiệt hại cho Lê Duy A tổng số tiền là 15.000.000 đồng; bồi thường cho Nguyễn Duy M tổng số tiền là 70.000.000 đồng. Các bên không có yêu cầu, đề nghị khác về dân sự.
Về vật chứng của vụ án: Đã được xử lý trong giai đoạn điều tra nên đại diện VKS không đề cập xử lý.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Thanh Hóa, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội: Xuất phát từ việc nhận nhầm đối tượng mâu thuẫn, vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 27/9/2025, Bùi Đình T, Phạm Việt Đ, Trần Đình Đ, Bùi Xuân V đã có hành vi chửi bới, lùa đuổi, gây ồn ào, náo động khu dân cư tại cửa hàng xăng dầu T thuộc thôn 2, xã T và trước nhà văn hoá thôn 3, xã T, tỉnh Thanh Hoá. Trong đó, Bùi Xuân V dùng chân đạp vào xe của Lê Duy A; Phạm Việt Đ, Trần Đình Đ sử dụng tay, chân đánh nhau. Bùi Đình T sử dụng thắt lưng da đánh vào người của Nguyễn Duy M. Vụ việc gây náo loạn khu dân cư, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho người dân, làm mất an ninh trật tự của địa phương. Sau khi sự việc xảy ra chính quyền địa phương và người dân sinh sống quanh khu vực hiện trường đã có báo cáo đến cơ quan điều tra về sự việc đánh nhau đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, đề nghị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Như vậy, HĐXX có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Bùi Xuân V đã đủ yếu tố cầu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 BLHS. Cáo trạng của Viện trưởng VKSND khu vực 7 - Thanh Hóa truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, bị cáo “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, bị cáo đã tác động với gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho Lê Duy A, Nguyễn Duy M nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo có ông cố ngoại là người có công với cách mạng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
. Về tính chất của vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn do các bị cáo cùng thực hiện. Trong đó, Bùi Xuân V là người chủ động dùng chân đạp vào đuôi xe của Lê Duy A để khởi đầu cho việc nhóm của mình đánh nhóm của Duy A nên giữ vai trò thứ nhất trong vụ án. Do Bùi Đình T, Phạm Việt Đ, Trần Đình Đ thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên Cơ quan điều tra đã tách vụ án hình sự để xử lý T, Đ, Đ trong một vụ án khác.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh bình thường của cửa hàng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Do đó, cần xử lý bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo tuổi đời còn trẻ, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bản thân bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi thường trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 BLHS để cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ sức răn đe và giáo dục bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
. Bị cáo được hủy bỏ biện pháp ngăn chăn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
. Việc các đối tượng đánh nhau gây thương tích cho Lê Duy A và Nguyễn Duy M có dấu hiệu của tội “Cố ý gây thương tích”. Hậu quả, Nguyễn Duy M bị thương tích 01% (một phần trăm), Lê Duy A bị thương tích 03% (ba phần trăm). Vào các ngày 10/12/2025 và ngày 20/12/2025, Lê Duy A và Nguyễn Duy M đã làm đơn đề nghị không khởi tố vụ án hình sự và miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người đã gây ra thương tích cho bản thân trong vụ án nêu trên và gửi đến Cơ quan điều tra. Do đó không xử lý các đối tượng về tội “Cố ý gây thương tích”. Cơ quan điều tra đã chuyển Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Đình T, Phạm Việt Đ, Trần Đình Đ về hành vi xâm phạm sức khỏe theo quy định pháp luật.
. Về trách nhiệm dân sự: Các gia đình Phạm Việt Đ, Bùi Tuấn V, Phạm Văn Q, Trần Đình Đ, Bùi Xuân V, Lê Trung H, Trần Tuấn A đã bồi thường thiệt hại cho Lê Duy A tổng số tiền là 15.000.000 đồng; bồi thường cho Nguyễn Duy M tổng số tiền là 70.000.000 đồng. Các bên không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
. Về vật chứng: Đã được xử lý trong giai đoạn điều tra nên HĐXX không xem xét.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1, Điều 318; điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 BLHS.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân V phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
2. Về mức hình phạt:
Xử phạt bị cáo Bùi Xuân V 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Bùi Xuân V cho Ủy ban nhân dân xã K, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92, Điều 68 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.
Căn cứ khoản 1 Điều 125 BLTTHS: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 6, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo Bùi Xuân V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 7 – Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an tỉnh Thanh Hóa; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Cúc |