- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tiêu Thị Bé H, Ngô Huỳnh Vũ H1 - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: các bị cáo Tiêu Thị Bé H và Ngô Huỳnh Vũ H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2026/HS-ST Ngày: 25-5-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A – TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Huỳnh Thủy Tiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hải.
2. Ông Võ Thành Ngon.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực A – Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực A – Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Huỳnh Thị Hải Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực A – Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2026/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2026 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2026/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2026 đối với:
- Các bị cáo:
1. Tiêu Thị Bé H, sinh ngày 09/01/1970, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 2 T, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh); chỗ ở: ấp E, xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã H, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1929 (đã chết) và bà Tiêu Thị S, sinh năm 1933 (đã chết); chồng: không đăng ký kết hôn, có 01 con sinh năm 2006; tiền sự: không;
Tiền án: 01;
+ Ngày 15/4/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 14 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy tại Bản án số 84/2010/HSST. Chấp hành xong ngày 27/4/2019, hiện chưa xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam T - Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh T, có mặt tại phiên tòa.
2. Ngô Huỳnh Vũ H1, sinh ngày 20/11/1976, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 3 P, Phường R, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh); chỗ ở: ấp E, xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã H, Thành phố Hồ Chí Minh), nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn L, sinh năm: 1943 và bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1949; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
+ Ngày 08/6/2001, bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại Bản án số 256/HSST. Đã xóa án tích.
+ Ngày 19/01/2018, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng theo Quyết định số 34/QĐ-TA.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam T - Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh T, có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Trần Thị Thu T, sinh năm: 1996 (vắng mặt);
Địa chỉ: Chung cư T, phường M, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Huỳnh Cẩm N1, sinh năm: 1986 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã M, tỉnh Tây Ninh.
3. Phạm Sơn T1, sinh năm: 1995 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp D, xã T, tỉnh Tây Ninh.
4. Nguyễn Bảo T2, sinh năm: 1998 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp D, xã T, tỉnh Tây Ninh.
5. Nguyễn Anh T3, sinh năm: 1991 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp D, xã T, tỉnh Tây Ninh.
6. Trần Tấn S1, sinh năm: 1997 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 40 phút, ngày 19/6/2025 lực lượng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh L (nay là tỉnh Tây Ninh) phối hợp Công an xã M, huyện C, tỉnh Long An tiến hành bắt quả tang đối tượng Tiêu Thị Bé H có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ: 01 (một) túi nylon màu đen bên trong túi có 01 (một) túi nylon màu trắng có rãnh kép, viền màu đỏ bên trong chứa tinh thể màu trắng và 02 (hai) nỏ thủy tinh. Qua làm việc đối tượng Tiêu Thị Bé H thừa nhận túi nylon màu đen bên trong có 01 (một) túi nylon màu trắng có rãnh kép, viền màu đỏ bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy, mục đích đem theo để bán cho một nam thanh niên tên thường gọi Ông G (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 4.000.000 đồng, địa điểm giao dịch là trên đường T, khi Ngô Huỳnh Vũ H1 điều khiển xe mô tô hiệu Dream, màu nâu, biển số 59S1-029.45 chở Tiêu Thị Bé H chạy trên đường T gần đến điểm hẹn giao dịch thì thấy lực lượng Công an đến nên H dùng tay phải ném 01 túi nylon màu đen xuống lề đường gần mé ruộng thì bị bắt quả tang.
Khám xét chỗ ở của Tiêu Thị Bé H tại ấp E, xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện trên bàn gỗ trong phòng ngủ có 01 gói nylon viền màu xanh chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy và 01 gói nylon được hàn kín chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Công an đã lập biên bản thu giữ và niêm phong toàn bộ tang vật.
Tại Kết luận giám định số 2906/KL-KTHS ngày 25/6/2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
Tinh thể màu trắng túi niêm phong mã số: PS3 2141823 (ký hiệu M1) được niêm phong, gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 9,8622 gam.
Tinh thể màu trắng túi niêm phong mã số: PS3 2012872 (ký hiệu M2) được niêm phong, gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3688 gam.
H2 lại mẫu vật gửi giám định: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng mẫu M1: 9,5299 gam; M2: 0,1945 gam được niêm phong.
Quá trình điều tra xác định: Từ khoảng cuối năm 2023, Tiêu Thị Bé H bắt đầu thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Nguồn ma túy do H mua từ một người nam tên H1 (không rõ họ tên và địa chỉ) cư trú tại Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, H quen biết người này từ khoảng giữa năm 2022. Mỗi lần mua ma túy, H mua từ 200.000 đồng đến 4.500.000 đồng, sau đó đem số ma túy này bán lại dưới hình thức bán sỉ hoặc bán lẻ cho các con nghiện trên địa bàn các tỉnh Long An (cũ), Tiền Giang (cũ) và Thành phố Hồ Chí Minh. Số tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy, H sử dụng vào mục đích chi tiêu cá nhân. Từ đầu năm 2025, Ngô Huỳnh Vũ H1 sinh sống chung với H có tham gia phụ giúp H trong việc giao ma túy cho người mua. Trong quá trình này, H chỉ lo chi phí ăn uống và đưa tiền đổ xăng cho H1 khi đi giao ma túy theo sự chỉ đạo của H. Vào chiều tối ngày 18/6/2025, H đang ở nhà trọ ở ấp E, xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã H, Thành phố Hồ Chí Minh) thì nhận được cuộc điện thoại từ một người quen tên gọi Ông G (không rõ họ tên thật, quê quán), gọi vào số điện thoại 0776291480 của H để hỏi mua ma túy với số lượng 100 số ma túy đá (10 gam), H đồng ý bán và hẹn sáng hôm sau giao ma túy. Sau đó H sử dụng điện thoại liên lạc với một người tên H1 (không rõ họ tên) ở Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh để hỏi mua 100 số ma túy đá với giá 3.300.000 đồng, người này đồng ý và hẹn sáng hôm sau giao ma túy tại một tiệm tạp hóa thuộc chợ T11. Đến khoảng 04 giờ 30 phút sáng ngày 19/6/2025, H điều khiển xe mô tô hiệu Dream, màu nâu biển số 59S1-029.45 đến địa điểm hẹn thì gặp một thanh niên (không rõ lai lịch) điều khiển xe mô tô hiệu Wave màu đỏ, người này đưa cho H một túi nylon màu trắng bên trong có 01 bịch bánh và 01 túi nylon màu đen, bên trong túi nylon đen có gói ma túy và 02 nỏ thủy tinh, H nhận số ma túy nêu trên nhưng chưa trả tiền, do thỏa thuận sau khi bán xong sẽ thanh toán, rồi điều khiển xe đi về nhà trọ ở ấp E, xã Q, huyện B. Khoảng 08 giờ 40 phút cùng ngày, H nhờ Ngô Huỳnh Vũ H1, là người đang sinh sống chung tại nhà trọ, điều khiển xe mô tô biển số 59S1-029.45 chở H đi giao ma túy. Trong quá trình di chuyển, H1 chở H qua nhiều tuyến đường thuộc địa bàn xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, thị trấn C, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An. Khi đến đường T thuộc ấp L, xã M, huyện C, tỉnh Long An (nay là ấp L, xã M, tỉnh Tây Ninh) thì H phát hiện lực lượng Công an đang chặn phía trước nên đã ném túi nylon màu đen bên trong có chứa ma túy và 02 nỏ thủy tinh xuống lề đường gần mé ruộng nhằm phi tang vật chứng thì bị bắt quả tang.
Tiến hành khám xét nhà trọ của H tại ấp E, xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã H, Thành phố Hồ Chí Minh), phát hiện tại vị trí bàn gỗ bên trong phòng ngủ của Hai có 01 gói nylon viền xanh có rãnh khép và gói nylon được hàn kín bên trong có chứa chất nghi là ma túy, H xác nhận đây là ma túy của H, được H cất thêm trước đó khoảng 20 ngày, mục đích cho H bán lại khi có người hỏi mua và 01 (một) hủ nhựa hình tròn bên trong có 01 ống hút nhựa, 05 ống thủy tinh, 02 ống hút màu trắng một đầu hàn kín một đầu nhọn và trên tường cửa ra vào phòng ngủ có treo 01 (một) túi nylon màu đỏ bên trong có 01 cân tiểu ly hiệu Marlboro, 02 kéo kim loại, 01 muỗng nhựa màu vàng, 02 ống hút một đầu hàn kín một đầu nhọn, 10 túi nylon có quai xách màu đen, 50 túi nylon trắng có rãnh khép kích thước 7,5x4 cm, 20 túi nylon có rãnh khép nhiều kích thước khác nhau, những vật trên H dùng phục vụ cho việc mua bán trái phép chất ma túy.
Qua điều tra xác định được Tiêu Thị Bé H đã bán ma túy cho những đối tượng sau đây:
1/ Ông Già (không rõ lai lịch) 02 lần: lần thứ nhất, ngày 14/6/2025 với giá tiền 2.000.000 đồng; lần thứ hai là ngày bị bắt với giá tiền 4.000.000 đồng, cả hai lần đều hẹn giao tại đường T thuộc ấp L, xã M, huyện C, tỉnh Long An.
2/ Nguyễn Thị Bích T4, sinh năm 1994, nơi cư trú: ấp D, xã L, huyện C, tỉnh Long An (nay là ấp D, xã R, tỉnh Tây Ninh) khoảng 02 lần, mỗi lần bán với giá từ 500.000 đồng – 800.000 đồng, địa điểm giao tại khu vực cầu C thuộc thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An, thời gian trong tháng 5/2025 đến tháng 6/2025, lần bán gần nhất là ngày 12/6/2025.
3/ Trần Tấn S1, sinh năm 1997, nơi cư trú: ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An (nay là ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh) khoảng 05 lần, mỗi lần bán với giá từ 200.000 đồng – 400.000 đồng, địa điểm giao tại khu vực ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Long An, thời gian trong tháng 4/2025 đến tháng 5/2025.
4/ Nguyễn Anh T3, sinh năm 1991, nơi cư trú: ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Long An (nay là ấp D, xã T, tỉnh Tây Ninh) khoảng 03 lần, mỗi lần bán với giá từ 300.000 đồng – 800.000 đồng, địa điểm giao tại khu vực cầu M, thời gian trong tháng 4/2025 đến tháng 5/2025.
5/ Nguyễn Bảo T2, sinh năm 1998, nơi cư trú: ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Long An (nay là ấp D, xã T, tỉnh Tây Ninh), khoảng 03 lần, mỗi lần bán với giá từ 400.000 đồng – 800.000 đồng, địa điểm giao tại khu vực bến phà Mỹ Lợi cũ, thời gian trong tháng 4/2025 đến tháng 5/2025.
6/ Phạm Sơn T1, sinh năm 1995, nơi cư trú: ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Long An (nay là ấp D, xã T, tỉnh Tây Ninh), khoảng 02 lần, một lần với giá 200.000 đồng tại khu vực gần chùa P1, thời gian tháng 5/2025 và một lần thời gian tháng 4/2025 H không lấy tiền.
7/ T5 (không rõ lai lịch) khoảng 03 lần, mỗi lần từ 300.000 đồng - 1.000.000 đồng tại khu vực gần Cầu M, lần bán gần nhất là ngày 17/6/2025 với giá 500.000 đồng.
8/ N2 (không rõ lai lịch) khoảng 02 lần, mỗi lần từ 300.000 đồng – 1.000.000 đồng, lần bán gần nhất là ngày 12/6/2025 với giá 300.000 đồng, địa điểm giao tại đoạn giao Quốc lộ E với đường K.
Đối với các lần giao dịch nêu trên, H trực tiếp thực hiện việc giao ma túy và nhận tiền của người mua. Ngoài ra, H còn nhờ Ngô Huỳnh Vũ H1 đi giao ma túy thay cho H, mỗi lần nhờ, H đều nói rõ cho H1 biết là đi giao ma túy. Theo đó, Ngô Huỳnh Vũ H1 đã trực tiếp giao ma túy cho các đối tượng sau đây:
1/ Trần Thị Thu T, sinh năm 1996, nơi cư trú: Chung cư T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường M, Thành phố Hồ Chí Minh), khoảng 03 lần, mỗi lần với giá 300.000 đồng, địa điểm giao tại Chung cư T, lần đầu H trực tiếp giao, hai lần sau H nhờ H1 giao ma túy, T chuyển khoản thanh toán tiền cho H, ma túy Hai cất giấu tại nhà ở ấp E, xã Q và chỉ chỗ cho H1 lấy đi giao.
2/ L1 (không rõ lai lịch), H nhờ H1 đi giao 01 lần với số tiền 800.000 đồng, địa điểm giao gần khu vực lò quay Hùng T6 trên tuyến Q, Lé chuyển khoản thanh toán tiền cho H, ma túy Hai cất giấu tại nhà ở ấp E, xã Q và chỉ chỗ cho H1 lấy đi giao.
3/ Huỳnh Cẩm N1, sinh năm 1986, nơi cư trú: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã M, tỉnh Tây Ninh), khoảng 02 lần, mỗi lần với giá 200.000 đồng, địa điểm giao gần ngã tư G, N chuyển khoản thanh toán tiền cho H, ma túy Hai cất giấu tại nhà ở ấp E, xã Q và chỉ chỗ cho H1 lấy đi giao.
Ngoài ra, vào ngày 22/11/2023, Lê Hoàng T7, sinh năm 1978, nơi cư trú: ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Long An (nay là ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh) liên hệ với H để đặt mua ma túy với giá 3.500.000 đồng. Sau đó, H đi một mình đến khu vực Bến xe Q, Thành phố Hồ Chí Minh gặp một người nam tên T8 (không rõ lai lịch) để nhận ma túy rồi đem về phòng trọ do H thuê ở khu vực xã T, thị trấn C. Sau khi có ma túy, H nhờ Huỳnh Ngọc T9, sinh năm 1977, nơi thường trú: I B, phường H, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh) đi giao ma túy cho T7 tại khu vực gần cầu C thị trấn C (nay là xã C, tỉnh Tây Ninh), T9 đồng ý. Hai giao cho T9 01 (một) túi nylon màu đen bên trong có chứa ma túy đá (khối lượng sau khi giám định 15,9918 gam Methamphetamine) và yêu cầu T9 giao cho T7, nhận tiền mang về cho H. Hai nhờ tài xế xe ôm Lê Văn V, sinh năm 1992, nơi thường trú: ấp T, xã L, là người đang có mặt tại nhà trọ, chở T9 về C. Do biết V có sử dụng ma túy, H đưa cho V một gói ma túy đá trị giá khoảng 200.000 đồng để trả công chở T9 đi, V đồng ý nhưng không biết việc T9 đi giao ma túy cho T7. Sau khi giao ma túy cho T9, H rời khỏi nhà trọ. Đến chiều cùng ngày, H được biết T9 đã bị cơ quan Công an bắt giữ. Đối với 01 (một) gói ma túy có khối lượng 11,9801 gam ma túy, loại Methamphetamine tạm giữ trên người của T9, T9 khai nhận cất giữ giúp H để cùng bán cho người khác, tuy nhiên H không thừa nhận đã giao số ma túy này cho T9, số ma túy nêu trên là của riêng T9, không liên quan đến H.
Về vật chứng: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng mẫu M1: 9,5299 gam; M2: 0,1945 gam được niêm phong; 01 (một) xe mô tô hiệu Dream màu nâu biển số 59S1-029.45; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A54 màu xanh đen của Ngô Huỳnh Vũ H1; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Reno 8T 5G màu trắng phản quang, tiền Việt Nam 2.300.000 đồng, 01 (một) ví da màu nâu của Tiêu Thị Bé H; 01 (một) hủ nhựa hình tròn bên trong có 01 (một) ống hút dài 22cm; 05 (năm) ống thủy tinh; 02 (hai) ống hút màu trắng một đầu hàn kín một đầu nhọn; 01 (một) túi nylon có quai xách màu đỏ bên trong có 01 (một) cân tiểu ly hiệu Marlono; 01 (một) kéo kim loại màu trắng; 01 (một) kéo kim loại cán nhựa; 01 (một) muỗng nhựa màu vàng; 02 (hai) ống hút một đầu hàn kín một đầu nhọn; 10 (mười) túi nylon có quai xách màu đen; 50 (năm mươi) túi nylon màu trắng có rãnh khép kích thước 7,5x4cm; 20 (hai mươi) túi nylon có rãnh khép nhiều kích thước khác nhau.
Cáo trạng số 28/CT-VKSKV6 ngày 25 tháng 02 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực A – Tây Ninh đã truy tố bị cáo Tiêu Thị Bé H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và truy tố bị cáo Ngô Huỳnh Vũ H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
* Tại phiên tòa:
Các bị cáo Tiêu Thị Bé H và Ngô Huỳnh Vũ H1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản Cáo trạng đã nêu và đồng ý với các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Quá trình điều tra vụ án các bị cáo tự khai ra hành vi phạm tội, không bị ai ép cung, mớm cung hay nhục hình buộc phải khai nhận hành vi phạm tội. Viện kiểm sát nhân dân khu vực A - Tây Ninh truy tố các bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội, không oan cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực A – Tây Ninh tham gia phiên tòa, phát biểu luận tội về hành vi của các bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Tiêu Thị Bé H và Ngô Huỳnh Vũ H1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
2. Về trách nhiệm hình sự:
- Hình phạt chính:
+ Áp dụng điểm b, i, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt Tiêu Thị Bé H từ 14 năm đến 15 năm tù.
+ Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt Ngô Huỳnh Vũ H1 từ 09 năm đến 10 năm tù.
- Hình phạt bổ sung:
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự,
+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng mẫu M1: 9,5299 gam; M2: 0,1945 gam được niêm phong; 01 (một) hủ nhựa hình tròn bên trong có 01 (một) ống hút dài 22cm; 05 (năm) ống thủy tinh; 02 (hai) ống hút màu trắng một đầu hàn kín một đầu nhọn; 01 (một) túi nylon có quai xách màu đỏ; 01 (một) cân tiểu ly hiệu Marlono; 01 (một) kéo kim loại màu trắng; 01 (một) kéo kim loại cán nhựa; 01 (một) muỗng nhựa màu vàng; 02 (hai) ống hút một đầu hàn kín một đầu nhọn; 10 (mười) túi nylon có quai xách màu đen; 50 (năm mươi) túi nylon màu trắng có rãnh khép kích thước 7,5x4cm; 20 (hai mươi) túi nylon có rãnh khép nhiều kích thước khác nhau.
+ Đề nghị tịch thu sung quỹ các phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A54 màu xanh đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Reno 8T 5G màu trắng phản quang.
+ Đề nghị trả lại cho bị cáo Tiêu Thị Bé H các tài sản không liên quan đến việc phạm tội gồm: tiền Việt Nam 2.300.000 đồng; 01 (một) ví da màu nâu.
Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Dream màu nâu biển số 59S1-029.45 chưa làm việc được chủ sở hữu nên tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau.
4. Về trách nhiệm dân sự: không.
Đối với Lê Hoàng T7 và Huỳnh Ngọc T9 đã bị xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy tại Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
* Tại phần tranh luận:
Các bị cáo Tiêu Thị Bé H và Ngô Huỳnh Vũ H1 đồng ý với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng: các bị cáo Tiêu Thị Bé H và Ngô Huỳnh Vũ H1 nhận thức hành vi của mình là không đúng. Các bị cáo mong muốn được giảm nhẹ hình phạt để sớm được đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực A – Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Tại phiên tòa, những người làm chứng Trần Thị Thu T, Huỳnh Cẩm N1, Phạm Sơn T1, Nguyễn Bảo T2, Nguyễn Anh T3, Trần Tấn S1 vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về hành vi phạm tội: lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được, có đủ cơ sở kết luận:
Vì mục đích vụ lợi, từ cuối năm 2023 đến ngày 19/6/2025, bị cáo Tiêu Thị Bé H đã nhiều lần mua ma túy loại Methamphetamine của các đối tượng tên T8 và H1 (không rõ lai lịch) đem về cất giấu tại nơi ở thuộc ấp E, xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh để phân chia nhỏ bán lại cho nhiều đối tượng nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh Long An (nay là tỉnh Tây Ninh) và Thành phố Hồ Chí Minh nhằm thu lợi bất chính. Quá trình điều tra xác định bị cáo H đã trực tiếp bán ma túy cho nhiều đối tượng như: Ông Già, Nguyễn Thị Bích T4, Trần Tấn S1, Nguyễn Anh T3, Nguyễn Bảo T2, Phạm Sơn T1, T5, N2 và Trần Thị Thu T; đồng thời còn chỉ đạo Ngô Huỳnh Vũ H1 đi giao ma túy cho Trần Thị Thu T, L1 và Huỳnh Cẩm N1. Ngày 19/6/2025, khi bị cáo H mang theo 9,8622 gam Methamphetamine đi bán cho Ông G thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang; khám xét nơi ở của bị cáo H còn thu giữ thêm 0,3688 gam Methamphetamine cất giấu để tiếp tục bán cho người khác. Ngoài ra, đối với lần mua bán ma túy ngày 22/11/2023 cho Lê Hoàng T7 bị phát hiện, thu giữ 15,9918 gam Methamphetamine. Bị cáo Tiêu Thị Bé H đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tổng khối lượng ma túy Methamphetamine bị thu giữ trong các lần phạm tội là 26,2228 gam; đồng thời bị cáo đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Tiêu Thị Bé H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b, i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Ngô Huỳnh Vũ H1 biết rõ việc bị cáo Tiêu Thị Bé H thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhưng vẫn nhiều lần tham gia giao ma túy cho người mua Trần Thị Thu T, L1 và Huỳnh Cẩm N1 theo sự chỉ đạo của bị cáo H. Ngày 19/6/2025, bị cáo H1 trực tiếp điều khiển xe mô tô biển số 59S1-029.45 chở bị cáo H đi giao 9,8622 gam Methamphetamine cho Ông G thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Ngô Huỳnh Vũ H1 là giúp sức tích cực cho bị cáo H trong việc thực hiện tội phạm. Do đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Ngô Huỳnh Vũ H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với vai trò đồng phạm giúp sức theo quy định tại các điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
“Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
…
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
…
i) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
…
q) Tái phạm nguy hiểm.”
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực A - Tây Ninh truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo H có cha ruột là người có công với cách mạng nên bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hình phạt chính:
Hành vi của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy; làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Ma túy còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác nên cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, giữa các bị cáo không có sự phân công vai trò chặt chẽ từ trước mà chủ yếu thực hiện theo sự chỉ đạo của bị cáo Tiêu Thị Bé H.
Bị cáo Tiêu Thị Bé H là người giữ vai trò chính trong vụ án, trực tiếp mua ma túy, tổ chức cất giấu, phân chia và bán lại cho nhiều đối tượng nghiện ma túy trong thời gian dài; đồng thời còn lôi kéo, chỉ đạo bị cáo H1 tham gia giao ma túy. Bị cáo đã có 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội với khối lượng ma túy lớn nên cần xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Bị cáo Ngô Huỳnh Vũ H1 giữ vai trò đồng phạm giúp sức. Mặc dù không phải là người trực tiếp mua ma túy nhưng bị cáo biết rõ hành vi phạm tội của bị cáo H mà vẫn nhiều lần tham gia giao ma túy cho người mua. Bị cáo H1 có nhân thân xấu, từng bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và từng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất và mức độ tham gia phạm tội của bị cáo.
Xét hình phạt bổ sung: các bị cáo Tiêu Thị Bé H và Ngô Huỳnh Vũ H1 không có thu nhập, không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng mẫu M1: 9,5299 gam; M2: 0,1945 gam được niêm phong; 01 (một) hủ nhựa hình tròn bên trong có 01 (một) ống hút dài 22cm; 05 (năm) ống thủy tinh; 02 (hai) ống hút màu trắng một đầu hàn kín một đầu nhọn; 01 (một) túi nylon có quai xách màu đỏ; 01 (một) cân tiểu ly hiệu Marlono; 01 (một) kéo kim loại màu trắng; 01 (một) kéo kim loại cán nhựa; 01 (một) muỗng nhựa màu vàng; 02 (hai) ống hút một đầu hàn kín một đầu nhọn; 10 (mười) túi nylon có quai xách màu đen; 50 (năm mươi) túi nylon màu trắng có rãnh khép kích thước 7,5x4cm; 20 (hai mươi) túi nylon có rãnh khép nhiều kích thước khác nhau.
Tịch thu sung công quỹ các phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A54 màu xanh đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Reno 8T 5G màu trắng phản quang.
Trả lại cho bị cáo Tiêu Thị Bé H các tài sản không liên quan đến việc phạm tội gồm: tiền Việt Nam 2.300.000 đồng; 01 (một) ví da màu nâu.
Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Dream màu nâu biển số 59S1-029.45, qua tra cứu xác minh thông tin dữ liệu đăng ký xe, kết quả xác minh chủ xe tên Ngô Phan . Hiện nay chưa làm việc được chủ sở hữu nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau là phù hợp.
Về án phí: Các bị cáo Tiêu Thị Bé H và Ngô Huỳnh Vũ H1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đối với các đối tượng tên H1, T8, Ông G, T5, N2 do chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ.
Đối với Trần Thị Bích T10, Trần Tấn S1, Nguyễn Anh T3, Nguyễn Bảo T2, Phạm Sơn T1, Trần Thị Thu T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra chuyển hồ sơ vi phạm đến cơ quan công an đề nghị xem xét xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Đối với Lê Hoàng T7 và Huỳnh Ngọc T9 đã bị xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy tại Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: các bị cáo Tiêu Thị Bé H và Ngô Huỳnh Vũ H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1. Căn cứ vào điểm b, i, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Tiêu Thị Bé H 14 (mười bốn) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 19/6/2025).
2. Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Ngô Huỳnh Vũ H1 09 (chín) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 19/6/2025).
3. Căn cứ vào khoản 3 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025: tiếp tục tạm giam các bị cáo Tiêu Thị Bé H và Ngô Huỳnh Vũ H1 mỗi bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/5/2026) để đảm bảo cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
5. Về xử lý vật chứng: căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
5.1. Tịch thu tiêu hủy các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng mẫu M1: 9,5299 gam; M2: 0,1945 gam được niêm phong; 01 (một) hủ nhựa hình tròn bên trong có 01 (một) ống hút dài 22cm; 05 (năm) ống thủy tinh; 02 (hai) ống hút màu trắng một đầu hàn kín một đầu nhọn; 01 (một) túi nylon có quai xách màu đỏ; 01 (một) cân tiểu ly hiệu Marlono; 01 (một) kéo kim loại màu trắng; 01 (một) kéo kim loại cán nhựa; 01 (một) muỗng nhựa màu vàng; 02 (hai) ống hút một đầu hàn kín một đầu nhọn; 10 (mười) túi nylon có quai xách màu đen; 50 (năm mươi) túi nylon màu trắng có rãnh khép kích thước 7,5x4cm; 20 (hai mươi) túi nylon có rãnh khép nhiều kích thước khác nhau.
5.2. Tịch thu sung công quỹ các phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A54 màu xanh đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Reno 8T 5G màu trắng phản quang.
5.3. Trả lại cho bị cáo Tiêu Thị Bé H các tài sản không liên quan đến việc phạm tội gồm: tiền Việt Nam 2.300.000 đồng; 01 (một) ví da màu nâu.
5.4. Giao Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh T tiếp tục xử lý theo thẩm quyền đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Dream màu nâu biển số 59S1-029.45.
Vật chứng và tài sản trên được Phòng Thi hành án dân sự khu vực A, tỉnh Tây Ninh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số: 14/QĐ-VKSKV6 ngày 25/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực A, tỉnh Tây Ninh và Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/3/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra tỉnh Tây Ninh và Phòng Thi hành án dân sự khu vực A, tỉnh Tây Ninh.
6. Về án phí: căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Tiêu Thị Bé H và Ngô Huỳnh Vũ H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
7. Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh (01b); - VKSND khu vực A – Tây Ninh (01b); - VKSND tỉnh Tây Ninh (01b); - Phòng PV 06 CA tỉnh Tây Ninh (01b); - CQCSĐT Công an tỉnh Tây Ninh (01b); - THADS tỉnh Tây Ninh (01b); - Bị cáo (01b); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thủy Tiên |