- Tranh chấp gì? án hình sự — "LÒ VĂN CƯỜNG - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2026/HS-ST Ngày 05/ 02/ 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Chảo Phù Hiển
2. Bà Lò Thị Lên
- Thư ký phiên tòa: Ông Quàng Văn Nam Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Trần Hồng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2026/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2026/QĐXXST - HS ngày 23 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Lò Văn C sinh ngày 22 tháng 6 năm 2004 tại xã Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Nơi thường trú: Bản Huổi Đáp, xã Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên; Thẻ CCCD: 011204007441; Nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ Công An; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Y sinh năm 1964 và con bà Lò Thị T sinh năm 1970; Bị cáo Lò Văn C chưa có vợ, con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án kết tội lần nào. Bị cáo Lò Văn C bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30 tháng 10 năm 2025 đến nay, có mặt.
- Bị hại: Chị Quàng Thị Thư sinh ngày 01 tháng 8 năm 2002.
Nơi thường trú: Bản Tâu 2, xã Thanh Nưa, tỉnh Điện Biên.
Nơi tạm trú: Bản Nậm Nhừ 1, xã Nà Hỳ, tỉnh Điện. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Anh Đào Quang Trung sinh ngày 18 tháng 8 năm 1987.
Nơi trường trú: Đội 10, phường Mường Thanh, tỉnh Điện Biên.Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt); -
- Những người có nghĩa vụ liên quan:
Chị Lò Thị Thơm sinh ngày 01 tháng 6 năm 1970.
Nơi thường trú: Bản Huổi Đáp, xã Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt;
- Chị Lò Thị Pan sinh ngày 12 tháng 3 năm 2002
Nơi thường trú: Bản Nậm Nhừ 1, xã Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Anh Lò Văn Tiệp sinh ngày 01 tháng 10 năm 2007. Vắng mặt.
Nơi thường trú: Bản Huổi Đáp, xã Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên.
- Chị Nguyễn Thị Thanh Huyền sinh ngày 13 tháng 7 năm 1986
Nơi thường trú: Phường Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Anh Tạ Quang Hữu sinh năm 1998. Vắng mặt.
Nơi thường trú: Tổ 9 - Phường Mường Thanh, tỉnh Điện Biên.
- Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn Cường: Ông Pờ Go Loòng Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên tham gia tố tụng. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 05 tháng 10 năm 2025 bị cáo Lò Văn C đến phòng trọ của Lò Thị Pan tại bản Nậm Nhừ 1, xã Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên. Trước đó Lò Văn C cho Lò Thị Pan mượn ba lô, bị cáo Lò Văn C mang ba lô đi giặt. Khoảng 16 giờ ngày 05 tháng 10 năm 2025 chị Lò Thị Pan hỏi Lò Văn C là mang ba lô đi giặt thì để máy tính ở đâu? Bị cáo Lò Văn C trả lời là để ở trong tủ, chị Lò Thị Pan bảo chiếc máy tính đó là của Quàng Thị Thư gửi nhờ cất cho cẩn thận vào. Lúc đó Lò Văn C mới biết chiếc máy tính đó là của chị Quàng Thị Thư. Khoảng 09 giờ ngày 06 tháng 10 năm 2025 bị cáo Lò Văn C mở tủ thấy có 02 (hai) cái máy tính 01(một) cái của Lò Thị Pan và 01 (một) cái của Quàng Thị Thư. Lúc này bị cáo Lò Văn C nảy sinh ý định trộm cắp chiếc máy tính của chị Quàng Thị Thư mang đi bán lấy tiền tiêu dùng cá nhân. Bị cáo Lò Văn C đã cho vào chiếc ba lô rồi gọi điện thoại cho Lò Văn Tiệp lên đón về nhà ở bản Huổi Đáp, xã Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên. Khoảng 08 giờ ngày 07 tháng 10 năm 2025 bị cáo Lò Văn C nhờ mẹ trở lên bến xe khách Nà Hỳ để bắt xe khách đi Điện Biên. Sau khi đến Điện Biên bị cáo Lò Văn C mang máy tính đến cửa hàng máy tính Quang Trung tại Tổ dân phố 3, phường Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên bán cho anh Đào Quang Trung với giá 2.000.000 đồng bằng hình thức chuyển tiền vào tài khoản của bị cáo qua điện thoại.
Ngày 08 tháng 10 năm 2025 chị Quàng Thị Thư có đơn trình báo về việc mất trộm tài sản là máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu DELL, loại i3 đến Công an xã Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên xem xét giải quyết.
Ngày 17 tháng 10 năm 2025 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND xã Nà Hỳ ban hành Kết luận định giá tài sản số: 01/KL-HĐĐGTS, kết luận: Máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu DELL, loại i3, System, Model: Vostro 153510 đã qua sử dung trị giá 4.500.000 (bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
Bản cáo trạng số: 29/CT-VKSKV5 ngày 08 tháng 01 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Điện Biên đã truy tố Lò Văn Cường để xét xử về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Lò Văn C từ: 06 (sáu) tháng tù đến: 09 (chín) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS đối với bị cáo; Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu huỷ vật chứng và sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định. Áp dụng Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Chị Quàng Thị Thư trình bày như sau: Ngày 05 tháng 10 năm 2025 tôi có gửi nhờ chiếc máy tính ở nhà chị Lò Thị Pan ở cùng dãy nhà trọ với tôi. Khi tôi đến hỏi lấy thì mới biết là bị mất trộm. Sau này tôi mới biết Lò Văn C là người đã lấy. Đến nay tôi đã nhận lại được chiếc máy tính. Đề nghị xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự không. Ngoài ra tôi không có yêu cầu bổ sung gì khác.
Anh Đào Quang Trung trình bày như sau: Ngày 07 tháng 10 năm 2025 tôi có mua một máy tính Laptop của anh Lò Văn C với giá 2.000.000 đồng. Sau khi mua tôi kiểm tra máy mới biết số Zalo của chị Quàng Thị Thư và báo cho chị biết máy tính của chị là do Lò Văn C trộm cắp bán lại cho tôi. Đối với số tiền 2.000.000 đồng tôi đã nhận lại được do anh Lò Văn C trả lại. Do đó tôi không có đề nghị hay yêu cầu bổ sung gì khác.
Chị Lò Thị Thơm trình bày như sau: Tôi hoàn toàn không biết việc con trai tôi trộm cắp máy tính của ai thì tôi không biết. Đến khi Công an xã Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên mời tôi lên làm việc thì tôi mới biết việc Lò Văm C con trai tôi trộm cắp tài sản là chiếc máy tính của chị Quàng Thị Thư.
Chị Lò Thị Pan trình bày như sau: Ngày 03 tháng 10 năm 2025 chị Quàng Thị Thư có gửi nhờ tôi chiếc máy tính màu đen, nhãn hiệu DELL. Đến ngày 08 tháng 10 năm 2025 chị Quàng Thị Thư có hỏi tôi để lấy máy tính thì không thấy mới biết mất trộm chị Quàng Thị Thư đã đến Công an xã Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên để trình báo. Sau này tôi mới biết là do Lò Văn Cường là người đã lấy chiếc máy tính đó.
Anh Lò Văn Tiệp trình bày như sau: Vào ngày 06 tháng 10 năm 2025 Lò Văn Cường gọi điện thoại lên đón tại phòng trọ của chị Lò Thị Pan thuộc bản Nậm Nhừ 1, xã Nà Hỳ, khi đến thì thấy Lò Văn C cầm một ba lô màu đen, tôi chở Lò Văn Cường về nhà. Sau này tôi mới biết là Lò Văn C trộm cắp chiếc máy tính và bị Công an bắt.
Chị Nguyễn Thị Thanh Huyền trình bày như sau: Vào ngày 07 tháng 10 năm 2025 Lò Văn Cường có mượn xe đạp điện của gia đình khi mượn Lò Văn C chỉ nói đi mua đồ, còn việc Lò Văn Cường mang máy tính do trộm cắp đi bán thì tôi không biết.
Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn C không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố cũng như phần luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đề nghị HĐXX xem xét đến điều kiện sinh sống của bị cáo dẫn đến nhận thức pháp luật có phần hạn chế; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS, xem xét xử phạt cho bị cáo Lò Văn Cường mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát; đề nghị không áp dụng khoản 5 Điều 173 BLHS về hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về án phí, đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí với nội dung truy tố trong Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Lò Văn C nhất trí với lời bào chữa và không có ý kiến bổ sung; không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Lời sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét hành vi phạm tội bị cáo thấy: Lời khai nhận tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng đã có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 14 giờ ngày 05 tháng 10 năm 2025 bị cáo Lò Văn Cường đến phòng trọ của Lò Thị Pan tại bản Nậm Nhừ 1, xã Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên. Trước đó Lò Văn C cho Lò Thị Pan mượn ba lô, bị cáo Lò Văn Cường mang ba lô đi giặt. Khoảng 16 giờ ngày 05 tháng 10 năm 2025 chị Lò Thị Pan hỏi Lò Văn C là mang ba lô đi giặt thì để máy tính ở đâu? Bị cáo Lò Văn C trả lời là để ở trong tủ, chị Lò Thị Pan bảo chiếc máy tính đó là của Quàng Thị Thư gửi nhờ cất cho cẩn thận vào. Lúc đó Lò Văn Cường mới biết chiếc máy tính đó là của chị Quàng Thị Thư. Khoảng 09 giờ ngày 06 tháng 10 năm 2025 bị cáo Lò Văn C mở tủ thấy có 02 (hai) cái máy tính 01(một) cái của Lò Thị Pan và 01 (một) cái của Quàng Thị Thư. Lúc này bị cáo Lò Văn Cường nảy sinh ý định trộm cắp chiếc máy tính của chị Quàng Thị Thư mang đi bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Bị cáo Lò Văn C đã cho vào chiếc ba lô rồi gọi điện thoại cho Lò Văn Tiệp lên đón về nhà ở bản Huổi Đáp, xã Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên. Khoảng 08 giờ ngày 07 tháng 10 năm 2025 bị cáo Lò Văn C nhờ mẹ trở lên bến xe khách Nà Hỳ để bắt xe khách đi Điện Biên. Sau khi đến Điện Biên bị cáo Lò Văn C mang máy tính đến cửa hàng máy tính Quang Trung tại Tổ dân phố 3, phường Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên bán cho anh Đào Quang Trung với giá 2.000.000 đồng bằng hình thức chuyển tiền vào tài khoản của bị cáo qua điện thoại.
Khoảng 09 giờ ngày 06 tháng 10 năm 2025 bị cáo Lò Văn Cường đã có hành vi lén lút, lục lọi và mở tủ chiếm đoạt chiếc máy tính màu đen, nhãn hiệu DELL, loại i3, System, Model: Vostro 153510 trị giá 4.500.000 đồng, mục đích mang đi bán lấy tiền tiêu dùng cá nhân. Do đó HĐXX có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lò Văn C đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật, bị cáo không bị oan sai.
[2] Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội bị cáo thấy: Đây là vụ án ít nghiêm trọng xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của công dân; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Như vậy cần xử lý bị cáo với mức hình phạt thỏa đáng, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo thấy: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án kết tội lần nào. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Lò Văn C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS.
[4] Từ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần áp dụng một hình phạt thỏa đáng để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Lò Văn C từ: 06 (sáu) tháng tù đến: 09 (chín) tháng tù. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên cần xem xét xử phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS có căn cứ áp dụng. HĐXX xét thấy việc đề nghị của người bào chữa là phù hợp nên được chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát, người bào chữa về việc không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Đối với ý kiến của chị Quàng Thị Thư đề nghị xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bổ sung, chị Thư đã nhận lại chiếc máy tính. HĐXX chấp nhận ý kiến trên.
Đối với anh Đào Quang Trung trong quá trình điều tra đã xác minh làm rõ anh Đào Quang Trung không biết chiếc máy tính là tài sản trộm cắp, khi phát hiện anh đã trình báo cơ quan pháp luật. Anh Đào Quang Trung đã nhận lại tiền số tiền do bị cáo Lò Văn C trả lại, đồng thời không yêu cầu bị cáo bồi thường, không có đề nghị bổ sung. HĐXX cần chấp nhận những ý kiến trên.
Đối với Lò Thị Pan, Lò Thị Thơm, Lò Văn Tiệp, Nguyễn Thị Thanh Huyền trình bày và các tài liệu thu thập trong hồ sơ vụ án, không có dấu hiệu của đồng phạm, giúp sức, tạo điều kiện che dấu, không biết việc Lò Văn Cường trộm cắp máy tính của chị Quàng Thị Thư nên HĐXX không đặt vấn đề xử lý trách nhiệm.
Theo lời khai của Lò Văn C số tiền 1.900.000 đồng bị cáo chuyển khoản cho anh Tạ Quang Hữu vào những mục đích sau: Số tiền 1.000.000 đồng là để trả nợ trước kia bị cáo có vay. Số tiền 900.000 đồng là lấy tiền mặt để chi dùng cá nhân. Còn 100.000 đồng bị cáo dùng vào tiêu dùng cá nhân bằng hình thức chuyển khoản mua trên mang. Anh Tạ Quang Hữu không biết số tiền này do đâu mà có. HĐXX thấy là có căn cứ nên chấp nhận ý kiến trên.
[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1; điểm a, c khoản 1 Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) ba lô màu đen, có dây đeo, mặt lưng của ba lô có chữ LI – NING của Lò Văn C không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động iphoneXs Max số máy MT5F2LL/A, số IMEI 353097104823579; số IMEI 2: 353097104910467, bên trong có sim: 0345.482.971 tài khoản gốc là: 0 đồng của Lò Văn Cường đã cũ, qua sử dụng.
Ngày 04 tháng 11 năm 2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên đã ra quyết định xử lý vật chứng số 6048 trao trả lại chiếc máy tính màu đen, nhãn hiệu DELL, loại i3, System, Model: Vostro 153510 cho chủ sở hữu hợp pháp chị Quàng Thị Thư. HĐXX chấp nhận về việc xử lý vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên.
[8] Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Bị cáo Lò Văn C có giấy chứng nhận hộ nghèo do UBND xã cấp. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; HĐXX quyết định miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát; Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không khiếu nại hoặc ý kiến gì. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Áp dụng Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội "Trộm cắp tài sản".
2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn C: 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày bắt chấp hành án.
3.Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) ba lô màu đen, có dây đeo, mặt lưng của ba lô có chữ LI – NING của Lò Văn C không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động iphoneXs Max số máy MT5F2LL/A, số IMEI 353097104823579; số IMEI 2: 353097104910467, bên trong có sim: 0345.482.971 tài khoản gốc là: 0 đồng của Lò Văn C đã cũ, qua sử dụng. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09 tháng 01 năm 2026 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên và Phòng thi hành án dân sự khu vực 5, tỉnh Điện Biên.
4.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5.Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 BLTTHS. Bị cáo Lò Văn C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 05 tháng 02 năm 2026). Chị Quàng Thị Thư có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai.
Anh Đào Quang Trung có quyền kháng cáo bản án; quyết định của Tòa án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Phòng GĐ - TT, KT-THA Tòa án tỉnh Điện Biên; - VKSND khu vực 5; - VKSND tỉnh Điện Biên; - CQĐT Công an tỉnh Điện Biên; - Phân trại tam giam Nà Hỳ Công an tỉnh ; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Điện Biên; - Bộ phận HS – LL Tư pháp Công an tỉnh Điện Biên; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Bị cáo; Bị hại, Người bào chữa; - THADS tỉnh Điện Biên; - Lưu HS, HSTHA. Các thành viên Chảo Phù Hiển Lò Thị Lên | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giàng A Bách Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Giàng A Bách |