vanban.org

Bản án 33/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 28/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Vệ C, Đỗ Trung H, V Hữu P, Phạm T Đ, V Thiên T, Nguyễn Trung K, Nguyễn Thái T, Trịnh Long V phạm tội “Gây rối trật tự C cộng”

1 Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 218; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025: 1/ Xử phạt: Nguyễn Văn T 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án. Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BẢN ÁN HSST Nguyễn Văn Thành + ĐP gây rồi - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Vệ C, Đỗ Trung H, V Hữu P, Phạm T Đ, V Thiên T, Nguyễn Trung K, Nguyễn Thái T, Trịnh Long V phạm tội “Gây rối trật tự C cộng”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11- HÀ N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2026/HS-ST
Ngày: 28 - 01 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - PHỐ HÀ N

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Tuyển Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân T và bà Trương Thị Thái. Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hảo - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 11- Hà N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Hà N tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thúy Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà N xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự T lý số 183/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2026/QĐXXST-HS ngày 10/01/2026 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn T, sinh ngày 11/3/2006. HKTT và chỗ ở: thôn Đồng Vinh, xã CHên M, T phố Hà N. Giới tính: N; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn M và bà V Thị T; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị bắt khẩn cấp tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 – C an T phố Hà N. (Có mặt)

2. Hoàng Vệ C, sinh ngày 28/4/2000. HKTT và chỗ ở: Tiểu khu Đại N, xã Phú X, T phố Hà N. Giới tính: N; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Hoàng Đình P (đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1980; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt)

Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Hoàng Vệ C: Bà Nguyễn Thị C sinh năm 1980. Trú tại: Tiểu khu Đại N, Phú X, Hà N

3. Đỗ Trung H, sinh ngày 23/8/2003. HKTT và chỗ ở: Tiểu khu M L, xã Phú X, T phố Hà N. Giới tính: N; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: 11/12; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Đỗ Trung K và bà Lê Thị T X; Vợ, con: Chưa; Bị cáo là con D nhất trong gia đình.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt)

Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo H: Ông Đỗ Trung K, sinh năm 1989. Trú tại: Tiểu khu Đông Đ, xã Phú X, T phố Hà N.

4. V Hữu P, sinh ngày 21/5/2009. HKTT và chỗ ở: Tiểu khu Đông Đ, xã Phú X, T phố Hà N. Giới tính: N; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông V Hữu T và bà Ngyễn Thị H; Gia đình có 03anh em, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị bắt khẩn cấp tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 – C an T phố Hà N. (Có mặt) Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo P: Anh V Hữu T, sinh năm 1981. Trú tại: Tiểu khu Đông Đ, xã Phú X, T phố Hà N.

5. Phạm T Đ, sinh năm 26/01/2009. HKTT và chỗ ở: Thôn N Phú, xã Phú X, T phố Hà N. Giới tính: N; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: 11/12; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Phạm Văn T và bà Lại Thị H; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt)

Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Đ: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1980. Trú tại: Thôn N Phú, xã Phú X, TP Hà N.

6. V Thiên T, sinh năm 13/8/2008. HKTT và chỗ ở: Thôn Cổ C, xã Đại X, T phố Hà N. Giới tính: N; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: C giáo; Con ông V Anh T và bà Kiều Thị T T ; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt)

Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo V Thiên T: Ông V Anh T, sinh năm 1982. Trú tại: Thôn Cổ Chế, xã Đại X, TP Hà N.

7. Nguyễn Trung K, sinh năm 20/11/2008. HKTT và chỗ ở: Thôn Cổ C, xã CHên M, T phố Hà N. Giới tính: N; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Hồng M và bà Trần Thị N; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt)

Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo K: Ông Nguyễn Hồng M, sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn Cổ Châu, xã CHên M, T phố Hà N

8. Nguyễn Thái T, sinh ngày 10/10/2007. HKTT và chỗ ở: Thôn Cổ Châu, xã CHên M, T phố Hà N. Giới tính: N; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Quang T và bà Lương Thị T; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt)

Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo T: Bà Lương Thị T, sinh năm 1989, Trú tại: Thôn Cổ Châu, xã CHên M, T phố Hà N

9. Trịnh Long V, sinh ngày 16/3/2008. HKTT và chỗ ở: Thôn Cổ C, xã CHên M, T phố Hà N. Giới tính: N; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: 08/12; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Trịnh Văn C và bà V Thị C; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt)

Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo V: Bà V Thị C, sinh năm 1974. Trú tại: Thôn Cổ Châu, xã CHên M, TP Hà N.

Người bào chữa cho các bị cáo Đỗ Trung H, Hoàng Vệ C, V Thiên T, V Đức P, Phạm T Đ: Ông Nguyễn Ngọc C, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước T phố Hà N.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trung K, Nguyễn Thái T, Trịnh Long V: Ông D C Hòa, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước T phố Hà N.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: + Anh Đào Phú K, sinh ngày 07/02/2010. Trú tại: Tiểu khu M L, xã Phú X, T phố Hà N. Người đại diện theo pháp luật cho anh K: Ông Đào Văn C, sinh năm 1979. Trú tại: Tiểu khu M L, xã Phú X, T phố Hà N. + Anh Nguyễn Đức T, sinh ngày 26/11/2009. Trú tại: Tiểu khu Đại N, xã Phú X, T phố Hà N. Người đại diện theo pháp luật cho anh T: Bà Lê Thị V, sinh năm 1969. Trú tại: Tiểu khu Đại N, xã Phú X, T phố Hà N. + Anh V H N, sinh ngày 10/11/2010. Trú tại: Tiểu khu Đông Đ, xã Phú X, T phố Hà N. Người đại diện theo pháp luật cho anh N: Bà Kiều Thị N, sinh năm 1990. Trú tại: Tiểu khu Đông Đ, xã Phú X, T phố Hà N. + Anh V Đức D, sinh ngày 05/9/2010. Trú tại: Tiểu khu Đại N, xã Phú X, T phố Hà N. Người đại diện theo pháp luật cho anh D: Ông V Hữu T, sinh năm 1981. Trú tại: Tiểu khu Đại N, xã Phú X, T phố Hà N. + Anh Hà Ngọc K, sinh ngày 05/6/2010. Trú tại: Tiểu khu Đại N, xã Phú X, T phố Hà N. Người đại diện theo pháp luật cho anh K: Ông Hà Ngọc Tú, sinh năm 1973. Trú tại: Tiểu khu Đại N, xã Phú X, T phố Hà N. + Anh V Trọng K, sinh ngày 13/10/2010. Trú tại: Tiểu khu Đông Đ, xã Phú X, T phố Hà N. Người đại diện theo pháp luật cho anh K: Ông V Văn Bảng, sinh năm 1968. Trú tại: Tiểu khu Đông Đ, xã Phú X, T phố Hà N. + Anh Nguyễn Hữu N P, sinh ngày 16/2/2010. Trú tại: Tiểu khu Đông Đ, xã Phú X, T phố Hà N. Người đại diện theo pháp luật cho anh P: Ông Nguyễn Phú Thịnh, sinh năm 1983. Trú tại: Tiểu khu Đông Đ, xã Phú X, T phố Hà N. + Anh Nguyễn Văn C, sinh ngày 27/11/2009. Trú tại: Thôn Bài Lễ, xã CHên M, T phố Hà N. Người đại diện theo pháp luật cho anh C: Bà Nguyễn Thị Châm, sinh năm 1980; Trú tại: Thôn Bài Lễ, xã CHên M, T phố Hà N. + Anh Nguyễn Gia H, sinh ngày 16/4/2011. Trú tại: Tiểu khu M L, xã Phú X, T phố Hà N. Người đại diện theo pháp luật cho anh H: Bà Đỗ Bích L, sinh năm 1985. Trú tại: Tiểu khu M L, xã Phú X, T phố Hà N. + Anh Hoàng H , sinh ngày 18/12/2009. Trú tại: Tiểu khu Đại N, xã Phú X, T phố Hà N. Người đại diện theo pháp luật cho anh D: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1985. Trú tại: Tiểu khu Đại N, xã Phú X, T phố Hà N. + Anh Đỗ Trung K, sinh năm 1980. Tiểu khu M L, xã Phú X, T phố Hà N. + Anh Phạm Văn T, sinh năm 1980. Thôn N Phú, xã Phú X, T phố Hà N. + Anh V Hữu T, sinh năm 1981. Trú tại: Tiểu khu Đông Đ, xã Phú X, T phố Hà N. + Chị Kiều Thị T T, sinh năm 1987. Trú tại: Thôn Cổ C, xã Phú X, T phố Hà N. + Chị Đào Thị T, sinh năm 1988. Trú tại: Tiểu khu Đông Đ, xã Phú X, T phố Hà N. + Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1985. Trú tại: Tiểu khu Đại N, xã Phú X, T phố Hà N. + Anh Nguyễn Hồng M, sinh năm 1978. Trú tịa: Thôn Cổ Châu, xã Chuyên M, T phố Hà N.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn C, V H N, Nguyễn Hữu N P, V Trọng K, Đào Phúc K: Ông D C Hòa, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước T phố Hà N.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Đỗ Trung H, Hoàng Vệ C, V Thiên T, V Đức P, Phạm Tiếm Đ: Ông Nguyễn Ngọc C, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước T phố Hà N.

N DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, N dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 20/09/2025, Nguyễn Đức T (SN: 26/11/2009, HKTT: tiểu khu Đại N, xã Phú X, TP. Hà N), V H N (SN:10/11/2010; HKTT: tiểu khu Đông Đ, xã Phú X, TP. Hà N); Nguyễn Gia H (SN: 16/4/2011; HKTT: tiểu khu M L, xã Phú X, TP. Hà N), Đỗ Trung H (SN: 13/8/2008; HKTT: tiểu khu M L, xã Phú X, TP. Hà N), Hoàng H D (SN: 18/12/2009; HKTT: tiểu khu Đại N, xã Phú X, TP. Hà N), Đào Phú K (SN: 07/02/2010; HKTT: Tiểu khu M L, xã Phú X, TP. Hà N); Nguyễn Văn T (SN: 11/03/2006; HKTT: thôn Đồng Vinh, xã CHên M, TP. Hà N), Hà Ngọc K (Sinh ngày: 05/06/2010; HKTT: tiểu khu Đại N, xã Phú X, TP. Hà N); V Đức D (SN: 05/09/2010; HKTT: tiểu khu Đại N, xã Phú X, TP. Hà N), V Trọng K (SN: 13/10/2010; HKTT: tiểu khu Đông Đ, xã Phú X, TP. Hà N); V Hữu P (SN 21/05/2009; HKTT: tiểu khu Đông Đ, xã Phú X, TP. Hà N), Nguyễn Hữu N P (SN: 16/02/2010; HKTT: tiểu khu Đông Đ, xã Phú X, TP. Hà N); Hoàng Vệ C (SN: 28/04/2009; HKTT: tiểu khu Đại N, xã Phú X, TP. Hà N), V Thiên T (SN: 13/08/2008; HKTT: thôn Cổ Chế, xã Đại X, TP. Hà N), Phạm T Đ (SN: 26/01/2009; HKTT: thôn N Phú, xã Phú X, TP. Hà N) cùng nhau tụ tập tại nhà văn hóa tiểu khu Đông Đ, xã Phú X, TP. Hà N. Sau đó, tất cả rủ nhau ra đường quốc lộ 1A để đi chơi (gọi là nhóm của T gồm: 15 đối tượng). Lúc này, Nguyễn Đức T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, không đeo biển kiểm soát chở V H N; Nguyễn Gia H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu xám, biển kiểm soát 30Y6 - 0622 chở Đỗ Trung H; Hoàng H D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave 110, màu đỏ, biển kiểm soát 29AC - 431.14 chở Đào Phú K; Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu trắng, không đeo biển kiểm soát chở Hà Ngọc K. V Đức D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave 50cc, màu trắng, biển kiểm soát 29AB - 16492 chở V Trọng K; V Hữu P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S100, màu đen, biển kiểm soát 33B2 - 4585 chở Nguyễn Hữu N P; Hoàng Vệ C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu đen, biển kiểm soát 29Y7 - 08716 chở V Thiên T; Phạm T Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát 29AN - 04487 đi một mình.

Khi nhóm của T đi đến khu vực đèn tín hiệu giao thông tiếp giáp tuyến đường Thao Chính - Tân Dân với Quốc lộ 1A thuộc tiểu khu Thao Chính, xã Phú X, TP. Hà N thì nhìn thấy Nguyễn Văn C (SN: 27/11/2009, HKTT: thôn Bài Lễ, xã CHên M, TP. Hà N) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen, không đeo biển kiểm soát chở Nguyễn T N (SN: 12/07/2009, HKTT: thôn Vực, xã CHên M, TP. Hà N) phóng nhanh qua đèn tín hiệu giao thông. Thấy vậy, các đối tượng trong nhóm của T cùng nhau hô hào đuổi theo xe của C, các đối tượng điều khiển xe với tốc độ cao, nẹt pô, đánh võng, bấm còi inh ỏi trên đường. Khi đi đến gần cửa hàng kính mắt Tony Luxury thuộc thôn Ứng Hòa, xã Đại X, TP. Hà N thì xe của Nguyễn Đức T và Hoàng Vệ C đuổi vượt lên chặn đầu được xe của C. T và C xuống xe dùng chân tay không đánh C. Khi N đang cầm mũ bảo hiểm để đánh về phía người của C thì các xe còn lại trong nhóm của T cũng đuổi đến và điều khiển xe mô tô quây lại vòng tròn chặn xe mô tô của C nhằm mục đích không cho xe của C bỏ chạy. Sau đó, nhóm của T không đánh C nữa mà điều khiển xe mô tô di cHển trên đường Quốc Lộ 1A hướng về khu vực thị trấn Phú X cũ.

Sau khi bị nhóm của T đánh, Nguyễn Văn C đã gọi cho Nguyễn Trung K (SN: 20/11/2008); Nguyễn Thái T (SN: 10/10/2007) cùng HKTT: thôn Cổ Châu, xã CHên M, TP. Hà N và Trịnh Long V (SN: 16/03/2008, HKTT: thôn Cổ Châu, xã CHên M, TP. Hà N) để đi tìm nhóm của T đánh lại. Sau đó, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Ariblade, màu xanh, không đeo biển kiểm soát chở K; V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, không đeo biển kiểm soát chở C (gọi là nhóm của C gồm: 04 đối tượng) đi từ quán Bi-a 68 ở gầm cầu vượt cao tốc thuộc thôn Cổ Trai, xã Đại X, TP. Hà N đi theo đường quốc lộ 1A hướng N Bình đi Hà N. Quá trình di cHển trên đường nhóm của C đi với tốc độ cao, bấm còi inh ỏi, lạng lách, đánh võng vượt các phương tiện khác. Khi đi đến gần cụm đèn tín hiệu giao thông ngã ba Đỗ Xá, xã Phú X thì nhóm của C thấy xe mô tô do T điều khiển chở N và xe của Đ đang đi một mình theo hướng ngược chiều còn các xe khác đi theo sau cách xa, C nhận ra người vừa đánh mình nên nhóm của C đã điều khiển xe mô tô quay lại đuổi theo chặn đầu xe của T và Đ. Lúc này, nhóm của C xuống xe rồi K, C, T, V dùng chân tay không đánh vào người T, N, Đ. Sau đó, nhóm của C điều khiển xe bỏ đi theo đường Quốc lộ 1A hướng đi N Bình. Ngay sau đó, những xe mô tô còn lại trong nhóm của T đi đến thì biết T, N, Đ vừa bị nhóm của C đánh nên tất cả nhóm của T cùng điều khiển xe mô tô theo đường Quốc lộ 1A hướng N B đuổi theo nhóm của C. Nhóm của C thấy có nhiều ánh đèn xe ở phía sau, biết là nhóm của T đang đuổi theo nên đã tăng ga bỏ chạy. Nhóm của T đuổi theo nhóm C đến gần quán cắt tóc Mạnh C thuộc thôn N Hợp, xã Phú X, TP. Hà N thì đuổi kịp. Lúc này, cả hai nhóm xuống xe chửi bới, thách thức đánh nhau thì bị Tổ tuần tra của C xã Phú X, TP. Hà N phát hiện, bắt giữ được Nguyễn Trung K, Nguyễn Thái T, Đỗ Trung H, Nguyễn Gia H, Phạm T Đ và Hoàng H D còn các đối tượng khác hoảng sợ bỏ chạy. Tổ C tác đã T hành lập biên bản và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Trung K, Nguyễn Thái T, Đỗ Trung H, Nguyễn Gia H, Phạm T Đ và Hoàng H D đã T khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và khai ra các đối tượng trong nhóm đã bỏ chạy.

Cơ quan điều tra đã T hành triệu tập các đối tượng Nguyễn Văn T, Hoàng Vệ C, V Thiên T, V Hữu P, Trịnh Long V, Đào Phú K, Nguyễn Đức T, V H N, Hà Ngọc K, V Đức D, V Trọng K, Nguyễn Hữu N P, Nguyễn Văn C lên làm việc. Tại cơ quan điều tra các đối tượng nêu trên đều T khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Hậu quả: Nguyễn Văn C có 01 vết sưng đỏ hơi mờ kích thước khoảng (1×3) cm ở trên đỉnh đầu phía bên trái. Phạm T Đ, V H N, Nguyễn Đức T bị thương tích nhẹ ở phần mềm.

Tang vật thu giữ:

+ 01 mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi trai, màu tím than kích thước (28x19) cm.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu xám,biển kiểm soát: 30Y6 - 0622; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát: 29AN - 044.87, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 33B2 - 4585; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu biển kiểm soát: 29Y7 - 087.16; 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, màu trắng, biển kiểm soát: 29AB - 164.92; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát: 29AC - 431.14; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, không biển kiểm soát.

Ngày 12/11/2025, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định

thương tích đối với thương tích của Phạm T Đ, V H N, Nguyễn Văn C, Nguyễn Đức T nhưng Đ, N, C, T đều K quyết từ chối đi giám định thương tích, không yêu cầu đề nghị gì về dân sự.

Ngày 26/9/2025, UBND xã Phú X, C an xã Phú X có C văn thể hiện N dung:

“Hành động của nhóm T niên nêu trên rất côn đồ, coi thường pháp luật, quá trình đuổi đánh nhau hò hét, chửi bới, gây hoang mang, lo sợ, bức xúc cho dân cư. Hành động gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe rất nhiều người dân sinh sống xung quanh và người dân đi lại trên đường”.

Đối với Đào Phú K, Nguyễn Đức T, V H N, Hà Ngọc K, V Đức D, V Trọng K, Nguyễn Hữu N P, Nguyễn Văn C, Nguyễn Gia H và Hoàng H D có hành vi gây rối trật tự C cộng, thời điểm thực hiện hành vi các đối tượng trên là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nên không cấu T tội “Gây rối trật tự C C” quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự. Do vậy, căn cứ khoản 7 điều 3 nghị định 120/2021/NĐ-CP ngày 24/12/2021 của Chính phủ. Cơ quan CSĐT - C an TP Hà N đề nghị UBND xã Phú X, xã CHên M, TP. Hà N ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với các đối tượng trên về hành vi Gây rối trật tự C cộng.

Quá trình điều tra xác định: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S

màu xám, biển kiểm soát: 30Y6 - 0622 là của anh Đỗ Trung K (SN: 1980; HKTT: Tiểu khu M L, xã Phú X, TP. Hà N) là bố đẻ của Đỗ Trung H; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát: 29AN - 044.87 là của anh Phạm Văn T (SN: 1980; HKTT: thôn N Phú, xã Phú X, TP. Hà N) là bố đẻ của Phạm T Đ; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 33B2 - 4585 là của anh V Hữu T (SN: 1981; HKTT: Tiểu khu Đông Đ, xã Phú X, TP. Hà N) là bố đẻ của V Hữu P; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu biển kiểm soát: 29Y7 - 087.16 của chị Kiều Thị T T (SN: 1987; HKTT: thôn Cổ Chế, xã Phú X, TP. Hà N) là mẹ đẻ của V Thiên T; 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, màu trắng, biển kiểm soát: 29AB - 164.92 là của chị Đào Thị T (SN: 1988; HKT: tiểu khu Đông Đ, xã Phú X, TP. Hà N) là mẹ đẻ của V Đức D; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát: 29AC - 431.14 là của chị Nguyễn Thị P (SN: 1985; HKTT: tiểu khu Đại N, xã Phú X, TP. Hà N) là mẹ đẻ của Hoàng H D; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, không biển kiểm soát (qua xác M xe mang biển kiểm soát: 29AN - 028.05) là của anh Nguyễn Hồng M (SN: 1978; HKTT: thôn Cổ Châu, xã CHên M, TP. Hà N là bố đẻ của Nguyễn Trung K. Anh Đỗ Trung K, anh Phạm Văn T, anh V Hữu T, chị Kiều Thị T T, chị Đào Thị T, chị Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Hồng M không biết việc H, Đ, P, T, D, D và K sử dụng xe trên để phạm tội. Do vậy, Cơ quan điều tra đã trả lại anh K, anh T, anh T, chị T, chị T, chị P, anh M các xe nêu trên. Tất cả đều đã nhận lại xe và không có yêu cầu đề nghị gì.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 28S7 - 2681

là của chị V Thị Chung (Sinh năm: 1974, HKTT: thôn Cổ Châu, xã CHên M, TP. Hà N) là mẹ đẻ của Trịnh Long V; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu xanh, BKS: 61DB - 000.19 là của Nguyễn Văn T; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen, BKS: 88AD - 039.44 là của chị Lê Thị V (SN: 1969, HKTT: tiểu khu Đại N, xã Phú X, TP. Hà N) là mẹ đẻ của Nguyễn Đức T; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng đen BKS: 29AB - 417.13 là của chị Nguyễn Thị Châm (SN: 1980, HKTT: thôn Bài Lễ, xã CHên M, TP. Hà N), là mẹ đẻ của C. Chị Chung, chị V, chị Châm đều không biết V, T, C sử dụng xe để đi phạm tội. Mặt khác, hiện Chị Chung, chị V, chị Châm và T đã bán chiếc xe trên nên Cơ quan điều tra không tạm giữ xe trên.

Đối với 01 mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi trai, màu tím than kích thước (28x19)

cm. Quá trình điều tra xác định các đối tượng sử dụng để phạm tội nên cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại cơ quan điều tra các bị can Nguyễn Trung K, Nguyễn Thái T, Trịnh

Long V, Nguyễn Văn T, Hoàng Vệ C, Đỗ Trung H, V Hữu P, Phạm T Đ, V Thiên T và các đối tượng liên quan đều T khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu chứng cứ Cơ quan điều tra đã thu thập được.

Tại bản cáo trạng số 104/CT-VKS ngày 30 tháng 12 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà N đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Vệ C, Đỗ Trung H, Đỗ Trung H, V Hữu P, Phạm T Đ, V Thiên T về tội Gây rối trật tự C cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự, truy tố các bị cáo Nguyễn Trung K, Nguyễn Thái T, Trịnh Long V về tội Gây rối trật tự C cộng theo quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng truy tố

và bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 –Hà N giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Vệ C, Đỗ Trung H, Đỗ Trung H, V Hữu P, Phạm T Đ, V Thiên T phạm tội Gây rối trật tự C cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự, tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trung K, Nguyễn Thái T, Trịnh Long V phạm tội Gây rối trật tự C cộng theo quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Tranh luận tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Không ai có ý kiến tranh luận.

Người bào chữa cho các bị cáo

trình bày quan điểm bào chữa và đề nghị: Các bị cáo phạm tội khi vừa bước qua tuổi 16, 17 tuổi đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện về thể chất, tâm sinh lý, nhân cách sống; độ tuổi này chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần; có sự hạn chế về kinh nghiệm sống, kiến thức pháp luật dễ bị tác động, chi phối bởi hoàn cảnh sống. Đề nghị Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

Những người đại diện theo pháp luật của các bị cáo đều trình bày quan điểm và để nghị: Các bị cáo tuổi đời còn trẻ, khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi, còn ham chơi bồng bột thích thể hiện nên đã không kiểm soát được hành vi của mình. Bố mẹ các bị cáo bận lao động kiếm tiền lo trang trải cho cuộc sống gia đình nên không có thời gian bảo ban, dạy dỗ con cái đến nơi đến chốn, đây cũng là một phần trách nhiệm của bố mẹ các bị cáo. Các bị cáo còn tH suy nghĩ và tH hiểu biết pháp luật nên đề nghị Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội. Gia đình các bị cáo nhận trách nhiệm giáo dục các bị cáo sớm trở T người có ích cho xã hội.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở N dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20/9/2025, tại địa bàn xã Phú X, TP. Hà N do nhìn thấy Nguyễn Văn C điều khiển xe mô tô chở Nguyễn T N phóng nhanh qua đèn tín hiệu giao thông thuộc tiểu khu Thao Chính, xã Phú X, TP. Hà N nên Đỗ Trung H, Nguyễn Văn T, Hoàng Vệ C, V Thiên T, V Hữu P, Phạm T Đ cùng các đối tượng liên quan đã điều khiển xe mô tô đuổi theo xe của C. Khi đuổi kịp xe C thì T và C dùng chân tay không để đánh C còn N sử dụng mũ bảo hiểm đánh về phía người C, các đối tượng khác trong nhóm điều khiển xe mô tô quây T vòng tròn xe của C để không cho xe C bỏ chạy. Sau khi bị đuổi đánh, C đã gọi cho Nguyễn Trung K, Nguyễn Thái T, Trịnh Long V để tìm đánh nhóm T. Khi gặp xe của T và Đ thì C, K, T, V đã dùng chân tay không đánh T, N, Đ xong rồi bỏ đi. Quá trình khi hai nhóm đuổi đánh nhau đã điều khiển xe mô tô đi với tốc độ cao, rú ga, bấm còi, lạng lách, đánh võng, hò hét, chửi bới trên các tuyến đường quốc lộ 1A thuộc địa phận xã Phú X, TP. Hà N. Sau đó, hai nhóm lại gặp nhau tại khu vực thôn N Hợp, xã Phú X, TP. Hà N thì tiếp tục thách thức, chửi nhau thì bị Tổ C tác C an xã Phú X kiểm tra ngăn chặn, bắt giữ. Hành vi nêu trên của các đối tượng đã gây hoang mang lo sợ cho nhân dân và người dân đi đường, gây mất an N trật tự trên địa bàn xã Phú X, TP. Hà N.

Hành vi tụ tập, to Tg cãi chứi nhau, sử dụng tay chân và hung khí đuổi đánh nhau tại nơi C cộng là đường liên thôn, đồng dân cư sinh sống của các bị can đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an N trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân trên địa bàn.

Đối cH với quy định của pháp luật, hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Vệ C, Đỗ Trung H, Đỗ Trung H, V Hữu P, Phạm T Đ, V Thiên T đã phạm vào tội Gây rối trật tự C cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự, hành vi của các bị cáo Nguyễn Trung K, Nguyễn Thái T, Trịnh Long V đã phạm vào tội Gây rối trật tự C cộng theo quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà N truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an toàn xã hội, khiến quần chúng nhân dân bất bình. Để kịp thời đấu tranh phòng chống tội phạm, cần thiết pH xử lý các bị cáo bằng pháp luật hình sự mới tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và để làm gương cho những kẻ khác.

Xét về vai trò của từng bị cáo:

Về nhân thân: Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nguyễn Văn T, Hoàng Vệ C, Đỗ Trung H, V Hữu P, Phạm T Đ, V Thiên T, Nguyễn Trung K, Nguyễn Thái T, Trịnh Long V đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự do “T khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Riêng bị can Nguyễn Thái T, Trịnh Long V được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự do “phạm tội lần đầu thuộc T hợp ít nghiêm trọng”. Các bị cáo

có thân nhân là người có C với cách mạng nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không pH chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Khi lượng hình, xét thấy: Các bị cáo Hoàng Vệ C, Đỗ Trung H, V Hữu P, Phạm T Đ, V Thiên T, Nguyễn Trung K, Nguyễn Thái T, Trịnh Long V khi phạm tội dưới 18 tuổi nên được hưởng mức hình phạt cao nhất không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng

Về vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu xám, biển kiểm soát: 30Y6 - 0622 là của anh Đỗ Trung K là bố đẻ của Đỗ Trung H; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát: 29AN - 044.87 là của anh Phạm Văn T; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 33B2 - 4585 là của anh V Hữu T; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu biển kiểm soát: 29Y7 - 087.16 của chị Kiều Thị T T là mẹ đẻ của V Thiên T; 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, màu trắng, biển kiểm soát: 29AB - 164.92 là của chị Đào Thị T là mẹ đẻ của V Đức D; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát: 29AC - 431.14 là của chị Nguyễn Thị P là mẹ đẻ của Hoàng H D; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, không biển kiểm soát (qua xác M xe mang biển kiểm soát: 29AN - 028.05) là của anh Nguyễn Hồng M là bố đẻ của Nguyễn Trung K. Anh Đỗ Trung K, anh Phạm Văn T, anh V Hữu T, chị Kiều Thị T T, chị Đào Thị T, chị Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Hồng M không biết việc H, Đ, P, T, D, D và K sử dụng xe trên để phạm tội. Do vậy, Cơ quan điều tra đã trả lại anh K, anh T, anh T, chị T, chị T, chị P, anh M các xe nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Tất cả đều đã nhận lại xe và không có yêu cầu đề nghị gì.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 28S7 - 2681

là của chị V Thị Chung là mẹ đẻ của Trịnh Long V; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu xanh, BKS: 61DB - 000.19 là của Nguyễn Văn T; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen, BKS: 88AD - 039.44 là của chị Lê Thị V là mẹ đẻ của Nguyễn Đức T; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng đen BKS: 29AB - 417.13 là của chị Nguyễn Thị Châm, là mẹ đẻ của C. Chị Chung, chị V, chị Châm đều không biết V, T, C sử dụng xe để đi phạm tội. Mặt khác, hiện Chị Chung, chị V, chị Châm và T đã bán chiếc xe trên nên Cơ quan điều tra không tạm giữ xe trên.

Đối với 01 mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi trai, màu tím than kích thước (28x19)

cm. Quá trình điều tra xác định các đối tượng sử dụng để phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Các bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Vệ C, Đỗ Trung H, V Hữu P, Phạm T Đ, V Thiên T, Nguyễn Trung K, Nguyễn Thái T, Trịnh Long V phạm tội “Gây rối trật tự C cộng”

1.1 Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 218; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025:

1/ Xử phạt: Nguyễn Văn T 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án. Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

2/ Xử phạt: Hoàng Vệ C 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án.

3/ Xử phạt: Đỗ Trung H 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án.

4/ Xử phạt: V Hữu P 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án. Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

5/ Xử phạt: Phạm T Đ 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án.

6/ Xử phạt: V Thiên T 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án.

7/ Xử phạt: Nguyễn Trung K 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng kể từ ngày tuyên án.

8/ Xử phạt: Nguyễn Thái T 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án.

9/ Xử phạt: Trịnh Long V 8 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Chương D, Hện Thường Tín, T phố Hà N kết hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

T hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo pH chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Tịch thu tiêu hủy:

(Số vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự Hện Thường Tín quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày ).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Mỗi bị cáo pH nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Các bị cáo, người đại diện theo pháp luật, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt và người đại diện theo pháp luật của họ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

T hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ