- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh T ly hôn chị L"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2026/HNGĐ-ST Ngày: 28-01-2026 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Phước Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lâm Ngọc Hà.
Bà Ngô Thị Muỗi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Loan Em là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Bé Năm – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 82/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 269/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Lâm Văn T, sinh ngày 01/01/1979.
Nơi cư trú: Ấp P, xã M, thành phố Cần Thơ (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Ấp P, xã M, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
Chứng minh nhân dân số: xxxxxxxxx.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 8 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Lâm Văn T trình bày:
Anh Lâm Văn T và chị Nguyễn Thị Thùy L tổ chức lễ cưới vào năm 2008, đến ngày 15 tháng 6 năm 2011 đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (cũ). Sau khi kết hôn, anh T và chị L chung sống tại ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (cũ). Thời gian đầu khi mới chung sống, thì vợ chồng chung sống rất vui vẻ, hạnh phúc, nhưng thời gian về sau hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hôn nhân. Anh T và chị L đã không còn sống chung với nhau từ năm 2023 đến nay.
Về con chung: Anh T và chị L có một người con chung tên Lâm Thị Cẩm L1, sinh ngày 25/6/2009. Hiện nay, cháu L1 đang sống chung với anh T.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay anh Lâm Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lâm Văn T yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thùy L.
- Về con chung: Anh T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lâm Thị Cẩm L1, sinh ngày 25/6/2009 đến tuổi thành niên, anh T không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý vụ án số: 82/TB-TLVA ngày 03 tháng 10 năm 2025 và đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn chị Nguyễn Thị Thùy L, nhưng chị L không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh T. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với chị L để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị L vắng mặt không có lý do, Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải nên Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được và cũng không có lời khai của chị L trong hồ sơ vụ án.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án, xét thấy nguyên đơn, bị đơn thường xuyên mâu thuẫn với nhau do bất đồng quan điểm sống, không còn sống chung với nhau, không hàn gắn được nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
- Về con chung: Anh T và chị L có một người con chung tên Lâm Thị Cẩm L1, sinh ngày 25/6/2009. Hiện nay, cháu L1 đang sống chung với anh T, anh T có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L1 đến tuổi thành niên và cháu L1 có nguyện vọng được sống chung với anh T. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Lâm Thị Cẩm L1, sinh ngày 25/6/2009 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp, đúng quy định của pháp luật. Căn cứ vào khoản 1 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, giành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho chị L mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Anh T có đơn yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử nghị án và tuyên án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về thủ tục thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn và thẩm quyền giải quyết: Khi anh Lâm Văn T khởi kiện thì chị Nguyễn Thị Thùy L; cư trú tại ấp P, xã M, thành phố Cần Thơ. Anh T có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thùy L và yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con chung. Anh T đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ đã thụ lý đơn khởi kiện và thông báo cho anh T nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật và anh T đã thực hiện việc nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định. Như vậy, việc Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ thụ lý đơn khởi kiện của anh Lâm Văn T là đúng thẩm quyền và đúng theo trình tự thủ tục tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn anh Lâm Văn T và bị đơn chị Nguyễn Thị Thùy L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Anh T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và chị L vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt anh Lâm Văn T và chị Nguyễn Thị Thùy L.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Lâm Văn T, sinh ngày 01/01/1979 và chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1988 tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (cũ) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 101 ngày 15 tháng 6 năm 2011 nên quan hệ hôn nhân giữa anh Lâm Văn T và chị Nguyễn Thị Thùy L là hợp pháp.
Xét lý do xin ly hôn của anh Lâm Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng anh T và chị L hạnh phúc được một thời gian, thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng sống không còn hạnh phúc. Anh T và chị L không còn sống chung với nhau thời gian dài và đã bỏ mặc nhau làm cho tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh T và chị L trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T.
Về con chung: Anh T và chị L có một người con chung tên Lâm Thị Cẩm L1, sinh ngày 25/6/2009. Hiện nay, cháu L1 đang sống chung với anh T, anh T có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L1 đến tuổi thành niên và cháu L1 có nguyện vọng được sống chung với anh T. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Lâm Thị Cẩm L1, sinh ngày 25/6/2009 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung đến tròn 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, chị Nguyễn Thị Thùy L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Chị L không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của anh T.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Anh Lâm Văn T là người có đơn xin ly hôn nên căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, anh T phải chịu án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 56; khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Lâm Văn T và chị Nguyễn Thị Thùy L ly hôn.
2. Về con chung: Giao con chung tên Lâm Thị Cẩm L1, sinh ngày 25/6/2009 cho anh Lâm Văn T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Chị Nguyễn Thị Thùy L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Chị L không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của anh T.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
5. Về án phí: Anh Lâm Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003496 ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Như vậy, anh Lâm Văn T đã nộp xong án phí sơ thẩm.
6. Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND khu vực 6 – Cần Thơ; - THADS thành phố Cần Thơ (Phòng THADS khu vực 6 – Cần Thơ); - TAND thành phố Cần Thơ (Phòng GĐ, KT, TT & THA); - UBND xã M, thành phố Cần Thơ; - Lưu hồ sơ; - Lưu Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Đặng Phước Tuấn |