vanban.org

Bản án 33/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thị Hồng H.

Về hôn nhân: Bà Cao Thị Hồng H được ly hôn với ông Trần Trọng Q. Về con chung: Giao cháu Trần Hữu P, sinh ngày 09/11/2023 và cháu Trần Ngọc Phương N, sinh ngày 23/3/2025 cho bà Cao Thị Hồng H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con. Ông Trần Trọng Q không phải cấp dưỡng nuôi con … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cao Thị Hồng H - Trần Trọng Q"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thị Hồng H.
  • Căn cứ chính? Luật tố tụng hành chính; Luật phá sản; Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 04 - 5 - 2026
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Khánh .

2. Ông Đỗ Quang Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Tường Vy - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 01/2026/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/3/2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2026/QĐST-HNGĐ ngày 13/4/2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Cao Thị Hồng H, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường B, tỉnh Khánh Hòa. Chỗ ở: Thôn H, xã P, tỉnh Khánh Hòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Trần Trọng Q, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Thôn C, phường B, tỉnh Khánh Hòa (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/12/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Cao Thị Hồng H trình bày:

Bà và ông Trần Trọng Q tự nguyện tìm hiểu và quen biết nhau, hai bên gia đình có tổ chức cưới hỏi, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là phường B, tỉnh Khánh Hòa) vào năm 2023.

Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống ở nhà chồng bà tại phường B, tỉnh Khánh Hòa, quá trình chung sống không có hạnh phúc, do ông Q nhậu say về kiếm chuyện gây lộn khiến vợ chồng thường xuyên cãi vã, ông Q không chăm lo gì cho vợ con. Từ giữa năm 2024, ông Q nhậu sỉn về chửi và đuổi bà ra khỏi nhà nên bà đã đưa con về nhà mẹ bà sống từ đó cho đến nay. Bà và ông Q không có liên hệ gì với nhau, cũng không ai có ý định hàn gắn quay lại. Nay do mâu thuẫn kéo dài, bà không còn tình cảm với ông Q nên đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Q.

Về con chung: Bà và ông Q có 02 con chung là Trần Hữu P, sinh ngày 09/11/2023; Trần Ngọc Phương N, sinh ngày 23/3/2025. Ly hôn, bà sẽ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung, không yêu cầu ông Q phải cấp dưỡng nuôi con. Từ khi vợ chồng không còn sống chung đến nay, bà là người trực tiếp nuôi dạy, chăm sóc các con. Bà làm nghề buôn bán thu nhập bình quân 12.000.000 đồng/tháng, ngoài ra còn có mẹ bà phụ chăm cháu nên bà đủ điều kiện để nuôi các con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Trần Trọng Q: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Q nhưng ông vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa phát biểu: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Cao Thị Hồng H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với bị đơn ông Trần Trọng Q. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; Bị đơn ở phường B, tỉnh Khánh Hòa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án.

Đối với việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Ngày 23/3/2026, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm mở phiên tòa sơ thẩm, Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là ông Q nhưng ông Q vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là phường B, tỉnh Khánh Hòa) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 21 ngày 27/3/2023 nên là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án bà H trình bày: Quá trình chung sống, vợ chồng bà không có hạnh phúc, thường xuyên cãi vã, không ai quan tâm đến ai. Từ năm 2024 đến nay bà và ông Q không còn sống chung với nhau. Tại đơn xác nhận được Tổ trưởng tổ dân phố C và Ủy ban nhân dân phường B xác nhận lời trình bày của bà H là đúng, bà H và ông Q không còn sống chung với nhau, điều đó thể hiện việc mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông Q là có thật. Đối với ông Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng ông Q không đến Tòa án để làm việc, có thái độ bỏ mặc không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Xét thấy, hôn nhân giữa bà H và ông Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.

Về con chung: Bà H và ông Q có 02 con chung là cháu Trần Hữu P và Trần Ngọc Phương N. Xét yêu cầu được nuôi con của bà H, thấy rằng: Từ trước đến nay cháu P và N đều do bà H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà H làm nghề buôn bán thu nhập khoảng 12.000.000 đồng/tháng, ngoài ra còn có mẹ bà phụ chăm cháu nên đủ điều kiện để nuôi các con. Do vậy, Hội đồng xét xử giao cháu P và cháu N cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục là phù hợp.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu ông Q thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thị Hồng H.

1. Về hôn nhân: Bà Cao Thị Hồng H được ly hôn với ông Trần Trọng Q.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Hữu P, sinh ngày 09/11/2023 và cháu Trần Ngọc Phương N, sinh ngày 23/3/2025 cho bà Cao Thị Hồng H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con. Ông Trần Trọng Q không phải cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Bà Cao Thị Hồng H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005161 ngày 29/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa. Bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn vắng mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.

Cỡ chữ