vanban.org

Bản án 33/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 06/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H, Lò Văn A Phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý ”

Xử phạt: Bị cáo Lò Văn H, bị cáo Lò Văn A 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28 tháng 10 năm 2024. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua ban trai phep ma tuy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý (điều 195…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H, Lò Văn A Phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý ”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HS-ST
Ngày 06 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Sự

Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lý và ông Hoàng Đức Cảnh

Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thanh Thuỷ- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thuý- Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Lò Văn H, sinh năm: 2001, tại: Điện Biên; giới tính: Nam; ĐKHKTT: Bản Lĩnh Luông, xã Chiềng Pấc, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Tổ dân phố 4B, phường Dương Quan, thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Họ và tên bố: Lò Văn Thưởng (đã chết). Họ tên mẹ: Lò Thị May, sinh năm 1982; Bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 28/10/2024 đến ngày 06/11/2024 chuyển tạm giam. Có mặt

2. Lò Văn A, Sinh năm: 1987, tại: Điện Biên; giới tính: Nam; ĐKHKTT: Bản Chăn, xã Chiềng Đông, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Tổ dân phố 4B, phường Dương Quan, thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12. Họ và tên bố: Lò Văn Hao, sinh năm 1963. Họ tên mẹ: Bạc Thị Tượi, sinh năm 1965; Họ tên vợ: Cà Thị Biên, sinh năm 1989. Có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bản án số 27/2017/HSST ngày 01/3/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 18/02/2018 chấp hành xong án phạt tù, đã thi hành xong khoản án phí hình sự sơ thẩm ngày 09/11/2017 (đã xóa án tích).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 28/10/2024 đến ngày 06/11/2024 chuyển tạm giam. Có mặt

Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn H và Lò Văn A: Ông Bùi Văn Bình - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng tham gia tố tụng; có mặt.

Người làm chứng: Trần Thị Biên, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 30 phút ngày 28/10/2024, tại khu vực chân cầu Bính thuộc thôn 4B, xã Tân Dương, huyện Thuỷ Nguyên (nay là tổ dân phố 4B, phường Dương Quan, thành phố Thuỷ Nguyên), Hải Phòng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma tuý, Công an huyện Thuỷ Nguyên kết hợp với Công an xã Tân Dương phát hiện bắt quả tang Lò Văn H và Lò Văn A có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý. Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái Lò Văn H đang mặc có 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là chất ma túy). Tạm giữ 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 16R3-0042 đã qua sử dụng do Lò Văn H điều khiển (Kiểm tra xe không thu giữ gì).

Khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực có liên quan của Lò Văn H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuỷ Nguyên không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Tại Kết luận giám định số 1252/KL-KTHS ngày 31/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,19 gam, loại Heroine.

Tại Cơ quan điều tra, Lò Văn H và Lò Văn A khai nhận: do bản thân nghiện ma tuý nên Hải thường xuyên đi mua ma túy về sử dụng. Khoảng 11 giờ ngày 28/10/2024, tại cổng công trường dự án khu hành chính Hải Phòng, Hải gặp Hưng là công nhân làm việc cùng Hải và cũng nghiện ma túy Heroine. Hải hỏi mượn xe mô tô biển kiểm soát: 16R3-0042 của Hưng để đi mua ma túy và hứa sau khi mua được ma túy sẽ cho Hưng một ít ma túy để sử dụng. Hưng đồng ý và yêu cầu được đi mua ma túy cùng Hải. Khoảng 12 giờ cùng ngày, Hưng điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 16R3-0042 đến đón Hải đi mua ma túy. Sau đó, Hải điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 16R3-0042 chở Hưng sang chân cầu Bính phía nội thành Hải Phòng để mua ma túy. Hải bảo Hưng đứng ngoài đợi rồi một mình điều khiển xe vào khu vực chợ hoa quả để mua ma túy. Tại đây, Hải gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy Heroine với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Hải đi ra thông báo cho Hưng biết đã mua được ma túy và bảo Hưng lên xe đi về, khi về đến khu vực chân cầu Bính địa phận huyện Thủy Nguyên thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Vật chứng: 01 bì giấy niêm phong số 1252MT/PC09 chứa chất ma túy còn lại sau giám định (0,13 gam Heroine) cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủy Nguyên quản lý.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 16R3-0042, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Phạm Tiến Dũng, sinh năm 1988, ĐKHKTT: thôn Thanh Lanh, xã Trung Mỹ, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, nơi cư trú: tổ dân phố 4B, phường Dương Quan, thành phố Thuỷ Nguyên, Hải Phòng (là người thuê Lò Văn A lao động). Anh Dũng cho Hưng mượn xe đi lại, không biết Hưng sử dụng vào mục đích đi mua ma tuý nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh Dũng quản lý, sử dụng.

Tại bản Cáo trạng số 34/CT - VKSTN ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên truy tố Lò Văn H, Lò Văn A đồng phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý ” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự

Tại phiên toà:

Bị cáo Lò Văn H, Lò Văn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội

dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, các bị cáo đã tỏ ra ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà trình bày quan điểm: Sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội và cùng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của từng bị cáo trong vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ vào điểm c khoản 1Điều 249, điểm s khoản 1Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn H, Lò Văn A từ 15 đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong chứa chất ma tuý còn lại sau giám định (0,13 gam Heroin ) cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 01 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuỷ Nguyên)

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 các bị cáo Lò Văn H, Lò Văn A là đối tượng được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28/10/2024. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuỷ Nguyên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Lời khai của bị cáo Lò Văn H, Lò Văn A tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, Bản kết luận giám định số 1252/ KL -KTHS ngày 31/10/2024 của phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ đủ căn cứ xác định: Để có ma tuý sử dụng, khoảng 11 giờ ngày 28/10/2024 Hải gặp Hưng tại cổng công trường dự án khu hành chính Hải Phòng hỏi mượn xe đi mua ma tuý về sử dụng và hứa cho Hưng ma tuý để sử dụng, Hưng đồng ý và cùng đi với Hải. Sau khi mua được ma tuý trên đường về đến chân cầu Bính Hải và Hưng bị phát hiện bắt quả tang cất giữ 0,19 gam ma tuý loại Heroin. Hành vi của các bị cáo Lò Văn H và Lò Văn A đã thoả mãn cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

- Về đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma tuý của nhà nước. Hiện nay tệ nạn ma tuý đang là hiểm hoạ lớn đối với toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khoẻ của con người, gây mất trật tự an toàn xã hội và là tác nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm xã hội khác. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của từng bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây thuộc tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về nhân thân:

Bị cáo Lò Văn A đã có 01 tiền án tại Bản án số 27/2017/HSST ngày 01/3/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 18/02/2018 chấp hành xong án phạt tù, đã thi hành xong khoản án phí hình sự sơ thẩm ngày 09/11/2017 (đã xóa án tích).

Bị cáo Lò Văn H không có tiền án, tiền sự.

- Về vai trò:

Trong vụ án bị cáo Lò Văn H người đề xuất, nguồn tiền mua ma tuý là của Hải và Hải là người trực tiếp vào mua ma tuý, bị cáo Lò Văn A là người được Hải đề xuất và thực hành tích cực. Do đó trong vụ án xác định vai trò của bị cáo Hải cao hơn bị cáo Lò Văn A.

- Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo:

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng mức án tù có thời hạn đối với bị cáo Lò Văn H, Lò Văn A như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên là đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung:

Do các bị cáo Lò Văn A, Lò Văn H không có tài sản riêng, thu nhập của các bị cáo không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì giấy niêm phong số 1252MT/ PC09 chứa chất ma tuý còn lại sau giám định (0,13 gam Heroin) cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 01 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuỷ Nguyên)

- Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 các bị cáo Lò Văn H, Lò Văn A là đối tượng được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm

- Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Diều 58 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H, Lò Văn A Phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý ”

Xử phạt: Bị cáo Lò Văn H, bị cáo Lò Văn A 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28 tháng 10 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì giấy niêm phong số 1252MT/ PC09 chứa chất ma tuý còn lại sau giám định (0,13 gam Heroin) cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 01 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuỷ Nguyên)

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lò Văn H, Lò Văn A không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự,

Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án, tự nguyện thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ