- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Đ phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2025/HS-ST Ngày: 20-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Công
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Văn Liêm
Ông Cao Hữu Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố C - tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C - tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên toà: Ông Trần Đình Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2025/HSST ngày 24 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh Đ, sinh ngày 13 tháng 10 năm 1978, tại C, Khánh Hoà. Nơi cư trú: Tổ dân phố LH, phường CL, thành phố C, tỉnh Khánh Hoà. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 10/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Nguyễn Hữu Thống, sinh năm 1953 và bà Lê Thị Kim Hòa, sinh năm 1958. Vợ: Lê Thị Kim Liên, sinh năm 1982. Con: Có 04 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2016. Tiền án: Không. Tiền sự: Quyết định số 141/QĐ-XPHC ngày 01/8/2024, của Công an thành phố C xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 02/8/2024. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/02/2025. (Có mặt).
- Bị hại:
+ Nguyễn Vũ Thế H, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Tổ dân phố PL, phường CP, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)
+ Võ Thị Quang Hồng D, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Tổ dân phố PL, phường CP, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 58 phút ngày 27/12/2024, Nguyễn Thanh Đ đi bộ đến cửa hàng bán thiết bị điện HA ở tổ dân phố PL, phường CP, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa để mua đinh. Tại đây, Đ gặp ông Nguyễn Vũ Thế H hỏi mua đinh. Lợi dụng lúc anh H cuối người xuống, không để ý, Đ lấy 01 cuộn dây điện màu đen nhãn hiệu CADIVI cất giấu vào trong người thì bị bà Võ Thị Quang Hồng D (vợ ông H) đi ra phát hiện. Đ lấy cuộn dây điện trong người ra để lại rồi bỏ chạy.
Tại Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 03/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: Cuộn dây điện trên trị giá 600.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKSCR-HS ngày 24/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C đã truy tố bị cáo Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đ về điều khoản như trên của bản cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đ từ 04 tháng tù đến 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo ăn năn hối hận vì đã gây ra hành vi vi phạm pháp luật nên đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt. Tuy nhiên, bị hại đã có lời khai trong hồ sơ, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã tuân thủ và thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong hồ sơ và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Nguyễn Thanh Đ là người đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Đến khoảng 12 giờ 58 phút ngày 27/12/2024, tại cửa hàng bán thiết bị điện HA ở tổ dân phố PL, phường CP, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Nguyễn Thanh Đ đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở của người khác, lén lút trộm cắp 01 cuộn dây điện màu đen nhãn hiệu CADIVI của ông Nguyễn Vũ Thế H và bà Võ Thị Quang Hồng D trị giá 600.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Đ có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Do đó, cáo trạng số 30/CT-VKSCR-HS ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố bị cáo Đ về điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý tài sản của người khác là một trong những khách thể quan trọng được Luật hình sự bảo vệ, gây tâm lý hoài nghi lẫn nhau trong cộng đồng dân cư, gây mất an ninh trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần pH xử lý nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, trong hồ sơ và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Vì vậy, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo, trở thành công dân tốt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C đề nghị Tòa án áp dụng khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015, “3. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, …..; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức hình phạt tù mà điều luật quy định.”. Hội đồng xét xử nhận thấy: Tội “Trộm cắp tài sản” hoàn thành là khi người phạm tội lấy tài sản mang ra khỏi nơi cất giữ ban đầu của chủ sở hữu. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị trên của đại diện Viện kiểm sát.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Vũ Thế H và Võ Thị Quang Hồng D đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh Đ 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Vũ Thế H và Võ Thị Quang Hồng D đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
- TAND tỉnh Khánh Hòa;
| - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Khánh Hòa; - Cơ quan thi hành án hình sự tỉnh Khánh Hòa; - Phân trại tạm giam khu vực C, thuộc Trại Tạm giam Công an tỉnh Khánh Hòa; - VKSND t.p C; - CCTHADS t.p C; - Công an phường CP, t.p C; - Bị cáo; - Bị hại. - Lưu án văn, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Công |