vanban.org

Bản án 33/2025/HS-PT — Hình sự

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Phạt bị cáo Châu Văn T 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù.

Phạt bị cáo Bùi Thị Bích N1 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 24/6/2023. Phạt bị cáo Đỗ Thị H 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 24/6/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Phạt bị cáo Châu Văn T 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 291 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HS-PT
Ngày: 11/8/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Lê Văn Thường

Các thẩm phán:

Ông Trần Đức Kiên

Ông Đinh Phước Hòa

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hoàng, Thư ký Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 239/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Châu Văn T và các bị cáo khác về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Tàng trữ, mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” “Rửa tiền”. Do có kháng cáo của các bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2025/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị).

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Châu Văn T, sinh ngày 12/5/1984 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An (nay là xã H, tỉnh Nghệ An) ; giới tính: nam; trình độ học vấn: lớp 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Châu Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 24/6/2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q (nay là T1 tạm giam số 2 Công an tỉnh Q); có mặt.

2. Bùi Thị Bích N1, sinh ngày 20/3/1977 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình (nay là xã K, tỉnh Hưng Yên); giới tính: nữ; trình độ học vấn: lớp 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Bùi Đức K và bà Hoàng Thị N2; có chồng là Phùng Vũ N3 (đã ly hôn); có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 24/6/2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q (nay là T1 tạm giam số 2 Công an tỉnh Q); có mặt.

3. Đỗ Thị H, sinh ngày 08/3/1993 tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: Khu C, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường M, tỉnh Quảng Ninh); giới tính: nữ; trình độ học vấn: lớp 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Đỗ Văn L (đã chết) và bà Trương Thị Đ; có chồng là Nguyễn Trí C; có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 24/6/2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q (nay là T1 tạm giam số 2 Công an tỉnh Q); có mặt.

4. Huỳnh Chí D, sinh ngày 12/02/2003 tại tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú: ấp C, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liệu; giới tính: nam; trình độ học vấn: lớp 5/12; nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Huỳnh Hồng T2 và bà Võ Thị O; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 24/6/2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.

5. Nguyễn Thị Kim C1, sinh ngày 06/01/1996 tại thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Tổ I, Ấp B, xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã N, thành phố Hồ Chí Minh); giới tính: nữ; trình độ học vấn: lớp 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Kim V1 và bà Nguyễn Thị B; có chồng Đặng Văn N4 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 24/6/2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q (nay là T1 tạm giam số 2 Công an tỉnh Q); có mặt.

6. Bùi Quang K1 (tên gọi khác: N5) sinh ngày 20/02/1994 tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (nay là xã K, tỉnh Hà Tĩnh); giới tính: nam; trình độ học vấn: lớp 10/12; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Bùi Quang H1 và bà Đường Thị N6; có vợ là Trần Thị Thùy L1; có 02 con, con lớn sinh năm 2024, con nhỏ sinh năm 2025; tiền án, tiền sự: không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”; có mặt.

7. Trần Thế S, sinh ngày 14/01/1995 tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (nay là xã K, tỉnh Hà Tĩnh); giới tính: nam; trình độ học vấn: lớp 11/12; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Trần Văn D1 và bà Nguyễn Thị N7; có vợ là Bùi Thị H2; có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”; có mặt.

8. Phạm Thanh T3, sinh ngày 25/7/1992 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp D, xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh (nay là xã L, tỉnh Tây Ninh); giới tính: nam; trình độ học vấn: lớp 08/12; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Phạm Văn T4 và bà Phan Ngọc T5; có vợ là Phạm Thị P (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 27/4/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q (nay là T1 tạm giam số 2 Công an tỉnh Q); có mặt.

9. Bùi Thị H2, sinh ngày 13/12/1995 tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (nay là xã K, tỉnh Hà Tĩnh); giới tính: nữ; trình độ học vấn: lớp 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Bùi Quang H1 và bà Đường Thị N6; có chồng là Trần Thế S; có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”; có mặt.

10. Trần Minh T6, sinh ngày 14/12/1995 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (nay là phường L, tỉnh Tây Ninh); giới tính: nam; trình độ học vấn: lớp 10/12; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Trần Ngọc P1 và bà Nguyễn Phan Thị Nguyệt M1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 24/6/2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q (nay là T1 tạm giam số 2 Công an tỉnh Q); có mặt.

11. Nguyễn Văn H3, sinh ngày 03/02/1990 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Tổ I, Ấp B, xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh (nay là xã L, tỉnh Tây Ninh); giới tính: nam; trình độ học vấn: lớp 8/12; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn H4 và bà Nguyễn Thị N8; có vợ là Trần Thị T7 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 27/4/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q (nay là T1 tạm giam số 2 Công an tỉnh Q); có mặt.

12. Hồ Thanh T8 (tên gọi khác: Anna H5), sinh ngày 24/5/1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: D, Tổ C, Ấp D, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã B, thành phố Hồ Chí Minh); giới tính: nữ; trình độ học vấn: lớp 3/12; nghề nghiệp: buôn bán; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Hồ Phi H6 và bà Đặng Thị T9; có chồng Lim K2 Ken quốc tịch Malaysia (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 21/7/2023 cho đến ngày 14/12/2023 thì được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Đặt tiền để bảo đảm”; có mặt.

13. Hồ Phi H7, sinh ngày 22/5/1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: D, Tổ C, Ấp D, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã B, thành phố Hồ Chí Minh); giới tính: nam; trình độ học vấn: lớp 7/12; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Hồ Phi H6 và bà Đặng Thị T9; có vợ Tăng Chúc L2; có 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”; có mặt.

14. Khương Thuận P2, sinh ngày 21/12/1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: số F Hậu Giang, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, thành phố Hồ Chí Minh); giới tính: nam; trình độ học vấn: lớp 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: không; con ông Khương Cẩm V2 và bà Đặng Thị T10 (đã chết); chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 21/7/2023 cho đến ngày 15/3/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”; có mặt.

15. Phạm Thị Thùy D2, sinh ngày 06/11/1994 tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: E khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường H, tỉnh Đồng Nai); giới tính: nữ; trình độ học vấn: lớp 12/12; nghề nghiệp: nhân viên văn phòng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Phạm Văn T11 và bà Phạm Thị T12; chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/7/2023, đến ngày 15/3/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Đặt tiền để bảo đảm”; có mặt.

16. T45 (tên gọi khác: A H8), sinh ngày 07/10/1989 tại Malaysia; nơi cư trú: N, J, T, 42800 Tanjong S, Malaysia; giới tính: nam; nghề nghiệp: Công nghệ thông tin; quốc tịch: Malaysia; dân tộc: Hoa; tôn giáo: không; Hộ chiếu A55728729 cấp ngày 12/8/2022, nơi cấp: Malaysia; con ông The Keng H9 và bà Yow Kowk H10 (đều đã chết); tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 23/7/2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q (nay là T1 tạm giam số 2 Công an tỉnh Q); có mặt.

17. L7 (tên gọi khác: I), sinh ngày 29/02/1988 tại Malaysia; nơi cư trú: N, Jalan P3, T, 42800 Tanjong S, Malaysia; giới tính: nam; quốc tịch: Malaysia; dân tộc: Hoa; tôn giáo: không; Hộ chiếu A 55728651, nơi cấp: Malaysia; con ông Loh Yao T13 (đã chết) và bà Goh Siew H11; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 23/7/2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q (nay là T1 tạm giam số 2 Công an tỉnh Q); có mặt.

- Các bị hại có kháng cáo:

1. Ông Nguyễn Đức T14, sinh năm 1980; nơi cư trú: F Cầu T, phường S, Thành phố Hà Nội; có mặt.

2. Ông Nguyễn Ngọc Thái S1, sinh năm 1989; nơi cư trú: E Đ, phường T, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt có Đơn xin xét xử vắng mặt.

- Những người bào chữa:

1. Người bào chữa cho các bị cáo Hồ Thanh T8, Đỗ Thị H và Khương Thuận P2: Luật sư Lê Viết K3 - Đoàn Luật sư tỉnh Q; có mặt.

2. Người bào chữa cho bị cáo Bùi Thị Bích N1: Luật sư Nguyễn Văn N9 - Đoàn Luật sư tỉnh Q; có mặt.

3. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Kim C1: Luật sư Trương Văn B1 - Đoàn Luật sư tỉnh Q; có mặt.

4. Người bào chữa cho bị cáo Châu Văn T: Luật sư Ngô Tấn L3 - Đoàn Luật sư tỉnh Q; có mặt.

5. Người bào chữa cho bị cáo Bùi Quang K1: Luật sư Đỗ Ngọc T15 - Đoàn Luật sư tỉnh Q; có mặt.

6. Người bào chữa cho bị cáo Bùi Thị H2: Luật sư Trương Thanh T16 - Đoàn Luật sư tỉnh Q; có mặt.

7. Người bào chữa cho bị cáo Trần Thế S: Luật sư Nguyễn Hữu C2 - Đoàn Luật sư tỉnh Q; có mặt.

8. Người bào chữa cho bị cáo Trần Minh T6: Luật sư Dương Thị Thúy H12

- Đoàn Luật sư tỉnh Q; có mặt.

9. Người bào chữa cho bị cáo Phạm Thanh T3: Luật sư Nguyễn Thị Thiếu L4 - Đoàn Luật sư tỉnh Q; có mặt.

10. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H3: Luật sư Trần Văn Đ1, Đoàn Luật sư tỉnh Q; có mặt.

11. Người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại Nguyễn Đức T14:

+ Luật sư Nguyễn Quang T17; địa chỉ: Số E, ngõ G phố M, phường T, thành phố Hà Nội; có mặt.

+ Luật sư Nguyễn Quang D3 - Công ty L8 - Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.

- Người phiên dịch, dịch thuật cho hai bị cáo Teh Jian H13 và Loh Choon H14: Ông Trương Thiện T18 - Đội quản lý xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài - Phòng Quản lý xuất, nhập cảnh Công an tỉnh Q; địa chỉ: Số I H, phường Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tranh tụng tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Tổ chức tội phạm lừa đảo do nhóm đối tượng người Trung Quốc cầm đầu như: “Lão Bạch”, “Bê Tà”, “Dashan”, “Liu”, “A H15” lập ra tại khu K, thị xã B, tỉnh Svay Rieng, Campuchia đã tuyển dụng, quản lý, chỉ đạo hàng trăm đối tượng người Việt Nam tham gia làm việc nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Thông qua không gian mạng Internet, các đối tượng cầm đầu người Trung Quốc trực tiếp quản lý, điều hành sàn “RosyStyle” liên kết với ứng dụng “MetaTrader4” (viết tắt là MT4) để kêu gọi công dân Việt Nam tham gia đầu tư ngoại hối (“Forex”). Các đối tượng cầm đầu người Trung Quốc đã xây dựng phương án dẫn dụ khách tham gia đầu tư bằng tiếng Trung Quốc, sau đó giao cho các đối tượng Liềng Ký Thương, Nguyễn Thị Kim O1 và các đối tượng khác dịch ra tiếng Việt Nam để hướng dẫn cho các nhân viên người Việt Nam làm việc trong tổ chức thực hiện.

Các nhân viên người Việt Nam được hướng dẫn sử dụng các thiết bị máy tính, điện thoại, sim “rác” (sim không chính chủ), tài khoản ảo trên mạng xã hội, học các đoạn văn mẫu hướng dẫn cách tiếp cận, tương tác, cách xử lý tình huống để kêu gọi, dụ dỗ, lôi kéo bị hại tham gia, chuyển tiền đầu tư. Sau đó, căn cứ năng lực của nhân viên khi phỏng vấn và thử việc, các đối tượng cầm đầu chia nhân viên trong công ty cơ bản làm ở 03 bộ phận chính, gồm: Bộ phận telesale: gọi điện chạy quảng cáo tìm kiếm khách hàng; Bộ phận chăm sóc khách hàng: nhận thông tin số điện thoại khách hàng từ bộ phận telesale, kết bạn Zalo, tương tác trực tiếp để hướng dẫn khách mở tài khoản đầu tư; Bộ phận hướng dẫn khách hàng nạp tiền đầu tư, chuyển tiền vào các số tài khoản ngân hàng Việt Nam do các đối tượng người Trung Quốc chỉ định.

Quá trình hoạt động, để che giấu, ẩn danh và tạo vỏ bọc trên mạng internet, các đối tượng đã sử dụng nhiều thủ đoạn khác nhau, đặc biệt là sử dụng các tài khoản mạng xã hội không chính chủ (tài khoản ảo), sim “rác”, giả danh các công ty tài chính có tại Việt Nam như Công ty Đ7, Công ty TNHH T46, Công ty Đ8, Công ty Đ9 P4 để hoạt động nhằm tạo niềm tin cho người đầu tư.

Khi người đầu tư tham gia, các đối tượng lừa đảo hướng dẫn họ tạo tài khoản cá nhân trên sàn “RosyStyle” tại các trang như: vnfx-rosystyle.com, vnfxrosyrm.com, rosystyle.uk, vncrmrosy.com, vnrosycrm.com, https://wealth-management.com.vnliên kết với tài khoản được tạo lập trên ứng dụng MT4. Để tạo lòng tin và kích thích người đầu tư, tổ chức lừa đảo đưa ra chương trình khuyến mại tặng 200.000 đồng theo phương thức nạp thẻ (card) điện thoại, chuyển khoản hoặc chuyển quà tặng là chai rượu vang cho bị hại, kèm theo là “Voucher 500USD” (tài khoản người đầu tư được tặng 500USD nhưng không thể rút được) khi người đầu tư đăng ký thành công. Hàng ngày, các đối tượng lừa đảo giả vờ hỏi thăm, quan tâm đến đời sống, tâm lý của người đầu tư để tạo tình cảm và lòng tin. Sau đó, tổ chức lừa đảo tiếp tục tặng cho người đầu tư thêm Voucher 500USD và đưa họ vào nhóm Zalo để trải nghiệm đầu tư miễn phí từ 3-5 ngày. Khi kết thúc chương trình trải nghiệm miễn phí, tổ chức lừa đảo hướng dẫn người đầu tư rút được lợi nhuận (khoảng 30 - 40USD/người) để tạo lòng tin. Khi người đầu tư tin tưởng, tổ chức lừa đảo tổ chức hình thức quay số trúng thưởng và cho tất cả người đầu tư tham gia quay số đều trúng giải nhì được tặng thưởng Voucher 4.000USD vào tài khoản. Sau đó, tổ chức lừa đảo đưa ra yêu cầu người đầu tư muốn được chính thức tham gia đầu tư trải nghiệm lần hai thì phải phải nạp thêm 1.000USD để đủ 5.000USD theo quy định. Thời gian của chương trình đầu tư trải nghiệm lần thứ hai theo thông báo là 30 ngày nhưng đến khoảng 20 ngày thì tổ chức lừa đảo ra thông báo kết thúc và yêu cầu người đầu tư nạp thêm 5.000USD cho đủ điều kiện trở thành “thành viên chính thức của đội ngũ quản lý tài chính” để được hưởng mức lợi nhuận 25%/tháng và có cơ hội tham gia tiếp chương trình “Giao dịch nhất quán” mỗi tuần, với mức lợi nhuận chúng đưa ra là không dưới 20%/lần giao dịch. Khi người đầu tư tin tưởng tiếp tục tham gia thì tổ chức lừa đảo đưa ra các chương trình khác hấp dẫn hơn để người đầu tư tăng thêm vốn. Đối với những người đầu tư nhận thấy không còn khả năng tăng vốn thì tổ chức lừa đảo tạo ra các lý do, cách thức khác nhau để người đầu tư không thể rút tiền, khóa không cho đăng nhập tài khoản. Quá trình thực hiện hành vi, tổ chức lừa đảo còn tạo ra các tài khoản người đầu tư giả (chúng thường gọi là “sanfang”) tham gia cùng nhóm với người đầu tư, tương tác khoe được nhận lợi nhuận cao, tỏ ra chia sẻ, giúp đỡ người đầu tư khi có khó khăn để tạo lòng tin, kích thích lòng tham cho người đầu tư.

Bằng phương thức, thủ đoạn nêu trên, tổ chức tội phạm lừa đảo do nhóm đối tượng người Trung Quốc cầm đầu lập ra tại Campuchia hiện đã chiếm đoạt của 20 người Việt Nam số tiền 47.846.337.312 đồng (bốn mươi bảy tỷ tám trăm bốn mươi sáu triệu ba trăm mười hai đồng), cụ thể:

- Bị hại Nguyễn Minh T19:

Vào ngày 12/6/2021, tài khoản Zalo của ông T19 được tài khoản Z có tên “Hân Hân” kết bạn, mời tham gia đầu tư chứng khoán sàn RosyStyle wealth limited. Sau khi kết bạn, ông T19 được hướng dẫn đăng ký tài khoản trên ứng dụng MT4 và cách thức đầu tư. Ông T19 tin tưởng nên từ ngày 01/7/2021 đến 18/10/2021 đã sử dụng tài khoản số 53110000010960 Ngân hàng B4 và tài khoản số 03110004445443 Ngân hàng V5 đều mang tên Nguyễn Minh T19 chuyển tổng số tiền là 18.782.930.160 đồng vào các tài khoản ngân hàng do các đối tượng lừa đảo cung cấp, gồm: tài khoản số 1021444562 Ngân hàng V5, tài khoản số 72110001325817 Ngân hàng B4 đều mang tên Trương Thị Cẩm B2; tài khoản số 19034904585028 Ngân hàng T47 mang tên Nguyễn Ngọc A; tài khoản số 100873396362 Ngân hàng V6 mang tên Nguyễn Thị Thùy T20; tài khoản số 1021445429 Ngân hàng V5, tài khoản số 72110001325792 Ngân hàng B4 đều mang tên Nguyễn Hoàng K4; tài khoản số 19037279352019 Ngân hàng T47 mang tên Võ Ngọc V3; tài khoản số 19037312636011 Ngân hàng T47 mang tên Hà Văn C3.

Trong quá trình đầu tư, ông T19 đã 11 lần rút được tiền, với tổng số tiền là 4.190.350.251 đồng. Số tiền ông T19 bị chiếm đoạt là 14.592.579.909 đồng (mười bốn tỉ năm trăm chín mươi hai triệu năm trăm bảy mươi chín nghìn chín trăm lẻ chín đồng).

- Bị hại Nguyễn Thanh T21:

Vào tháng 5/2021, tài khoản Zalo “Nguyễn Thanh T21” của ông Nguyễn Thanh T21 được các tài khoản Zalo có tên “Ting Yu”, “Bằng lăng tím” kết bạn, mời tham gia đầu tư chứng khoán quốc tế. Sau khi kết bạn, ông T21 được hướng dẫn cách thức đầu tư, xem kết quả lợi nhuận của nhiều người đầu tư và được lập tài khoản có mã 2012850ứng dụng “MT4”. Ông T21 tin tưởng nên từ ngày 15/5/2021 đến 12/7/2021 đã sử dụng tài khoản số 1010119496003 Ngân hàng TMCP Q1 (MB) chuyển tổng số tiền là 814.371.000 đồng vào các tài khoản ngân hàng do các đối tượng lừa đảo cung cấp, gồm: tài khoản số 19034178526017 Ngân hàng T47 mang tên Nguyễn Tấn P5; tài khoản số 1019897568 Ngân hàng V5 mang tên Ngô Tuấn K5; tài khoản số 19036525813016 Ngân hàng T47 mang tên Lý Chí T22; tài khoản số 1021445429 Ngân hàng V5 mang tên Nguyễn Hoàng K4.

Trong quá trình đầu tư, ông T21 đã 03 (ba) lần rút được tiền, với tổng số tiền là 148.680.000 đồng. Số tiền, ông T21 bị chiếm đoạt là 665.691.000 đồng (sáu trăm sáu mươi lăm triệu sáu trăm chín mươi mốt nghìn đồng).

- Bị hại Nguyễn Đức P6:

Vào tháng 9/2021, tài khoản Zalo “Nguyễn Đức P6” của ông Nguyễn Đức P6 được tài khoản Zalo “Wealth Assistant Camille” gửi lời mời kết bạn. Sau khi kết bạn, ông P6 được mời tham gia vào sàn giao dịch chứng khoán RosyStyle Wealth Limited, được mở tài khoản có mã 2013911 trên MT4 và được nạp 1.000USD để sàn tự giao dịch trong 03 ngày với lợi nhuận cao. Sau đó, ông P6 được đưa vào nhóm đầu tư tài chính tại Công ty Cổ phần Đ7 có trụ sở tại tỉnh Quảng Ninh.

Ông P6 tin tưởng nên từ ngày 29/9/2021 đến ngày 28/10/2021 đã sử dụng tài khoản số 102003647394 Ngân hàng V6 để chuyển tiền 07 (bảy) lần, với tổng cộng số tiền 341.458.804 đồng vào tài khoản Ngân hàng T47 số 19034112941013 mang tên Nguyễn Thị Thùy T20 do các đối tượng lừa đảo cung cấp.

Trong quá trình nộp tiền đầu tư, ông P6 rút được số tiền 23.000.000 đồng. Số tiền ông P6 bị chiếm đoạt là 318.458.804 đồng (ba trăm mười tám triệu bốn trăm năm mươi tám nghìn tám trăm linh bốn đồng).

- Bị hại Nguyễn Văn D4:

Ngày 20/01/2022, tài khoản Zalo “Văn Dư Yến Nhi” của ông Nguyễn Văn D4 được tài khoản Zalo tên “Thúy Kiều” mời gọi đầu tư và đề nghị ông D4 kết bạn với các tài khoản Zalo có tên “Phương H16”, “Quỳnh” để được tư vấn. Sau khi kết bạn, Z “Phương H16” giới thiệu là nhân viên của sàn RosyStyle wealth limited trụ sở tại Hoa Kỳ, có chi nhánh tại Việt Nam là Công ty Cổ phần Đ7, có trụ sở tại tỉnh Quảng Ninh. Ngày 07/02/2022, “Phương Hằng” hướng dẫn cho ông D4 tạo tài khoản trên ứng dụng MT4 để thực hiện giao dịch với mã đăng nhập là 2026713. Khi đăng nhập thành công vào tài khoản, ông D4 được “Phương Hằng” báo là công ty L9 tết mỗi thành viên 8,88USD và tặng voucher 1.000 USD trong tài khoản trên ứng dụng MT4 để giao dịch tự động trải nghiệm dịch vụ quản lý tài chính của công ty. Ông Nguyễn Văn D4 thử rút số tiền lì xì Tết 8,88USD (tương đương 202.139 đồng) và đã rút thành công. Sau thời gian trải nghiệm, tin tưởng với những lợi nhuận do các đối tượng đưa ra, từ ngày 17/02/2022 đến 16/3/2022, ông Nguyễn Văn D4 đã sử dụng tài khoản số 105874705814 Ngân hàng V6 chuyển tổng cộng số tiền: 159.344.922 đồng vào các tài khoản ngân hàng do các đối tượng lừa đảo cung cấp gồm: tài khoản số 19037724703013 Ngân hàng T47 mang tên Trương Minh N10; tài khoản số 19034552398028 Ngân hàng T47 mang tên Nguyễn Thị T23; tài khoản số 105874454692 Ngân hàng V6 mang tên Võ Thị Thanh T24.

Trong quá trình tham gia đầu tư, ông D4 đã 02 lần rút được tổng số tiền là 72.821.988 đồng. Số tiền ông D4 bị chiếm đoạt là 86.522.934 đồng (tám mươi sáu triệu năm trăm hai mươi hai nghìn chín trăm ba mươi tư đồng).

- Bị hại Trương Đình H17:

Khoảng cuối tháng 5/2022, tài khoản Zalo “Trương Đình H17” của ông Trương Đình H17 được tài khoản Zalo tên “M8” gửi lời mời kết bạn. Sau khi đồng ý kết bạn, “M8” đã nhắn tin và gọi điện kêu gọi ông H17 đầu tư tài chính vào Công ty cổ phần Đ7 có trụ sở tại tỉnh Quảng Ninh thông qua ứng dụng MT4 với nhiều ưu đãi. Theo hướng dẫn của “M8”, ông H17 đã tạo tài khoản trên MT4 có mã là 2042930 để giao dịch và ông H17 đã nộp thử tiền vào tài khoản theo hướng dẫn thì thấy sàn thông báo hỗ trợ 100% số tiền mình đã nộp. Khi ông H17 nộp đủ số tiền 5.000USD thì “M8” giới thiệu sẽ có cấp trên trực tiếp tư vấn, hướng dẫn. Sau đó, ông H17 được hướng dẫn kết bạn với Z tên “Hoang Nhan”. Sau khi kết bạn, ông H17 được Hoàng N11 tiếp tục hướng dẫn cách thức đầu tư với mức lợi nhuận từ 50%- 100%.

Tin tưởng nên từ ngày 25/5/2022 đến ngày 02/8/2022, ông H17 đã sử dụng tài khoản số 0843168179 Ngân hàng V6 chuyển tổng cộng số tiền là 7.528.328.328 đồng vào các tài khoản ngân hàng do các đối tượng lừa đảo cung cấp, gồm: tài khoản số 19038293523019 Ngân hàng T47 mang tên Vũ Thanh T25; tài khoản số 1019893691 Ngân hàng V5 mang tên Nguyễn Thị T23; tài khoản số 19038390151010 Ngân hàng T47 mang tên Nguyễn Thị N12; tài khoản số 105874454692 Ngân hàng V6 mang tên Võ Thị Thanh T24; tài khoản số 0491001843480 Ngân hàng V5 mang tên Phan Thị Thúy H18; tài khoản số 1028530433 Ngân hàng V5 mang tên Nguyễn Thị Thanh T26; tài khoản số 19038338876015 Ngân hàng T47 mang tên Trần Thị Kim N13; tài khoản số 19038550400012 Ngân hàng T47 mang tên Bùi Thị Diễm T27; tài khoản số 19038624230017 Ngân hàng T47 mang tên Mạch Thị P7.

Trong quá trình nộp tiền đầu tư, ông H17 đã 09 (chín) lần rút tiền với tổng cộng số tiền là 487.949.800 đồng. Số tiền ông H17 bị chiếm đoạt là 7.040.378.528 đồng (bảy tỷ không trăm bốn mươi triệu ba trăm bảy mươi tám nghìn năm trăm hai mươi tám đồng).

- Bị hại Lê Hoàng T28:

Vào tháng 5/2022, tài khoản Zalo có tên “Nguyễn Thị Minh A1” gửi lời mời kết bạn với Z mang tên “Hoang Tan” của ông Lê Hoàng T28. Sau khi kết bạn, Z “Nguyễn Thị Minh A1” đã hướng dẫn cách thức tham gia đầu tư tài chính trên sàn RosyStyle và tặng ông T28 tài khoản có chứa sẵn 1.000USD. Sau 03 ngày sử dụng, tài khoản của ông T28 được hưởng lợi nhuận là 629.000 đồng. Lúc này, “Nguyễn Thị Minh A1” nhắn tin bảo ông Tân nạp thêm tiền để được hưởng lợi nhuận với các gói là “1.000USD”, “5.000USD” và “10.000USD”. Từ ngày 26/5/2022 đến ngày 06/7/2022, ông T28 đã sử dụng tài khoản số: 0401001480364 ngân hàng V5 mang tên Trương Kỳ N14 (vợ của ông T28) và tài khoản) số 7210102929004 Ngân hàng TMCP Q1 (MB) mang tên Trần Công T29 (bạn của ông T28), chuyển tổng số tiền là: 250.426.400 đồng vào các tài khoản ngân hàng do các đối tượng lừa đảo cung cấp gồm: tài khoản số 1019893691 Ngân hàng V5 mang tên Nguyễn Thị T23; tài khoản số 19038338876015 Ngân hàng T47 mang tên Trần Thị Kim N13.

Quá trình tham gia đầu tư, ông T28 đã 01 lần rút được số tiền là 24.000.000 đồng. Sau đó, ông T28 không rút được tiền và bị chiếm đoạt số tiền là: 226.426.000 đồng (hai trăm hai mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi sáu nghìn đồng).

- Bị hại Trần Quế L5:

Khoảng tháng 6/2022, tài khoản Zalo có tên “Trần Quế L5” của ông Trần Quế L5 được tài khoản Zalo có tên là “MT4 Dung” kết bạn, hướng dẫn cách thức đầu tư giới thiệu đầu tư ngoại hối trên ứng dụng MT4, địa chỉ sàn giao dịch là Rosystyle Wealth Limited với cam kết nhà đầu tư sẽ được hưởng lợi nhuận từ 10% đến 30% số tiền nộp vào. “MT4 Dung” đã hướng dẫn đăng ký và cấp cho ông L5 02 tài khoản trên ứng dụng MT4 để tiến hành giao dịch. Do tin tưởng, từ ngày 23/6/2022 đến ngày 01/7/2022, ông L5 đã sử dụng tài khoản số 13610000007231 Ngân hàng B4 mang tên Trần Quế L5 chuyển tổng số tiền là 207.161.503 đồng vào các tài khoản ngân hàng do các đối tượng lừa đảo cung cấp, gồm: tài khoản số 0081000516856 Ngân hàng V5 mang tên Võ Thị Thanh T24; tài khoản số 1028530433 Ngân hàng V5 mang tên Nguyễn Thị Thanh T26. Sau đó, ông L5 không rút được tiền và bị chiếm đoạt số tiền 207.161.503 đồng (hai trăm linh bảy triệu một trăm sáu mươi mốt nghìn năm trăm linh ba đồng).

- Bị hại Nguyễn Đức T14:

Tháng 9/2021, tài khoản Zalo của ông Nguyễn Đức T14 có tên “Nguyen Duc Thuan” được tài khoản Zalo có tên “Nguyễn Thị H19” kết bạn mời tham gia đầu tư tài chính trên sàn Rosystyle W. Sau khi mở tài khoản MT4 được tặng miễn phí 1.000USD, ông T14 đã ký kết “Bản cam kết lợi nhuận quản lý tài chính” với Công ty Cổ phần Đ7 và “Hợp đồng ủy thác đầu tư” với công ty TNHH T46 thông qua ứng dụng Zalo. Từ ngày 28/01/2022 đến ngày 13/10/2022, ông Nguyễn Đức T14 đã sử dụng 03 tài khoản ngân hàng gồm: tài khoản số 19022811461010 Ngân hàng T47, tài khoản số 451990000883368 Ngân hàng B4 cùng mang tên Nguyễn Đức T14; tài khoản số 45110001071334 Ngân hàng BIDV mang tên Nguyễn Thị Hồng T30 (mẹ của ông T14) chuyển tổng số tiền là 11.675.056.158 đồng vào các tài khoản ngân hàng do các đối tượng lừa đảo cung cấp, gồm: tài khoản số 19034552398028 Ngân hàng T47 mang tên Nguyễn Thị T23; tài khoản số 19036156630026 Ngân hàng T47 mang tên Thái Nhi N15; tài khoản số 19038550708017 Ngân hàng T47 mang tên Lưu Phụng M2; tài khoản số 19037724703013 Ngân hàng T47 mang tên Trương Minh N10; tài khoản số 19034904585028 Ngân hàng T47 mang tên Nguyễn Ngọc A; tài khoản số 1903855040012 Ngân hàng T47 mang tên Bùi Thị Diễm T27; tài khoản số 105874454692 Ngân hàng V6 mang tên Võ Thị Thanh T24; tài khoản số 1019893691 Ngân hàng V5 mang tên Nguyễn Thị T23; tài khoản số 1023362485 Ngân hàng V5 mang tên Nguyễn Thành D5; tài khoản số 1028530433 Ngân hàng V5 mang tên Nguyễn Thị Thanh T26.

Trong quá trình tham gia đầu tư, ông T14 đã rút được số tiền 435.858.864 đồng. Sau đó, ông T14 không rút được tiền và bị chiếm đoạt số tiền 11.239.197.294 đồng (mười một tỷ hai trăm ba mươi chín triệu một trăm chín mươi bảy nghìn hai trăm chín mươi bốn đồng).

- Bị hại Nguyễn Quý T31:

Tháng 3/2022, tài khoản Zalo của ông T31 mang tên “Nguyễn Quý T31” được tài khoản Zalo có tên “Trần Thị Thu T32” gửi lời mời kết bạn mời tham gia đầu tư tài chính trên sàn RosyStyle và hướng dẫn tạo tài khoản MT4. Khi có được tài khoản MT4, từ ngày 17/5/2022 đến ngày 17/11/2022, ông Nguyễn Quý T31 sử dụng tài khoản số 104000574217 Ngân hàng TMCP Đ10 (P11) và số 0021000819611 Ngân hàng V5 đều mang tên Nguyễn Quý T31 chuyển vào các tài khoản ngân hàng do các đối tượng lừa đảo cung cấp, gồm: tài khoản số 1019893691 Ngân hàng V5 mang tên Nguyễn Thị T23; tài khoản số 81000516856 Ngân hàng V5 mang tên Võ Thị Thanh T24; tài khoản số 1028530433 Ngân hàng V5 mang tên Nguyễn Thị Thanh T26; tài khoản số 19037724703013 Ngân hàng T47 mang tên Trương Minh N10; tài khoản số 0491001843480 Ngân hàng V5 mang tên Phan Thị Thúy H18; tài khoản số 19038550708017 Ngân hàng T47 mang tên Lưu Phụng M2; tài khoản số 1023362485 Ngân hàng V5 mang tên Nguyễn Thành D5; tài khoản số 19038624230017 Ngân hàng T47 mang tên Mạch Thị P7; tài khoản số 1028491940 Ngân hàng V5 mang tên Pham Thi T33; tài khoản số 0347221747 Ngân hàng V6 mang tên Lê Dương Quốc Đ2; tài khoản số 2723459999 Ngân hàng MB mang tên Lê Dương Quốc Đ2; tài khoản số 0367686232 Ngân hàng V6 mang tên Nguyen Tuan A2; tài khoản số 104874782380 Ngân hàng V6 mang tên Pham Van A3 với tổng số tiền là 1.686.327.020 đồng (một tỷ sáu trăm tám mươi sáu triệu ba trăm hai mươi bảy nghìn không trăm hai mươi đồng) và bị chiếm đoạt.

- Bị hại Đào Văn L6:

Tháng 8/2022, Zalo của ông L6 có tên “vanluyendao” được tài khoản Zalo có tên “Nguyễn T34” kết bạn kêu gọi đầu tư ngoại hối. Theo yêu cầu của “Nguyễn Thu”, ông L6 đã cung cấp thông tin cá nhân, số tài khoản ngân hàng để được khuyến mại 1.000USD vào tài khoản và 200.000 đồng bằng thẻ card điện thoại. Ngày 19/9/2022, ông L6 được “Nguyễn T34” giới thiệu về sàn RosyStyle và đưa ra các chương trình khuyến mãi hấp dẫn. Từ ngày 07/11/2022 đến ngày 19/12/2022, ông Đào Văn L6 sử dụng tài khoản số 0968655129 Ngân hàng M9 và tài khoản số 3406215014842 Ngân hàng A6 đều mang tên ông L6 để chuyển tổng cộng số tiền 1.105.104.181 đồng vào các tài khoản ngân hàng do các đối tượng lừa đảo cung cấp gồm: tài khoản số 19038626605018 Ngân hàng T47 mang tên Trần Nguyên Thiên M3; tài khoản số 19038648682016 Ngân hàng T47 mang tên Lê Thị Ngọc .

Trong quá trình tham gia đầu tư, ông L6 đã rút được số tiền 194.256.010 đồng. Sau đó, ông L6 không rút được tiền và bị chiếm đoạt số tiền 910.848.171 đồng (chín trăm mười triệu tám trăm hai bốn mươi tám nghìn một trăm bảy mươi mốt đồng).

- Bị hại Mai Kỳ N16:

Ngày 30/01/2023, tài khoản Zalo có tên “MAI ANH NGÂN” của bà Mai Kỳ N16 được tài khoản Z có tên “Tran Thi H20” giới thiệu là nhân viên của Công ty Đ9 P4, mời kết bạn và tham gia vào nhóm đầu tư ngoại hối. Sau khi kết bạn, bà N16 được hướng dẫn tạo tài khoản trên trang “Vncrmrosy.com”, cách nạp tiền và đầu tư để tạo ra lợi nhuận hằng ngày. Từ ngày 09/3/2023 đến ngày 21/4/2023, bà Mai Kỳ N16 sử dụng tài khoản số 143913217 Ngân hàng V7 mang tên Mai Kỳ N16 chuyển tổng số tiền 2.515.706.609 đồng vào các tài khoản ngân hàng do các đối tượng lừa đảo cung cấp, gồm: tài khoản số 19038626605018 Ngân hàng T47 mang tên Trần Nguyên Thiên M3; tài khoản số 11055127 Ngân hàng A7 mang tên Khương Thuận P2; tài khoản số 20298767 Ngân hàng A7 mang tên Phạm Kim N17; tài khoản số 19035587299010 Ngân hàng T47 mang tên Hồ Phi H6; tài khoản số 19050048920010 Ngân hàng T47 mang tên Đỗ Thành N18; tài khoản số 070134246454 Ngân hàng S3 mang tên Ngô Thị Lan A4.

Trong quá trình đầu tư, bà N17 đã rút được số tiền 5.800.000 đồng. Sau đó, bà N17 không rút được tiền và bị chiếm đoạt số tiền 2.509.906.609 đồng (hai tỷ năm trăm linh chín triệu chín trăm linh sáu nghìn sáu trăm linh chín đồng).

- Bị hại Nguyễn Năng K6:

Ngày 08/02/2023, tài khoản Zalo có tên “Gấu Lớn” của ông Nguyễn Năng K6 được tài khoản Zalo tên “Lý Thu T32” liên hệ làm quen, mời chào và hướng dẫn tải ứng dụng (app) trên website: https://www.vncrmrosy.comtham gia đầu tư ngoại hối forex. Sau khi kết bạn và tải thành công app về máy điện thoại, đăng ký tài khoản và liên kết ngân hàng, theo hướng dẫn của “Lý Thu T35”, ông K6 rút được số tiền lì xì trong app là 200.332 đồng. Ngày 17/2/2023, “Lý Thu T35” mời ông K6 đăng ký tham gia trải nghiệm thu nhập dịch vụ quản lý tài chính và có nói là tặng Voucher 1.000USD miễn phí vào tài khoản để thực hiện giao dịch trong 03 ngày. Sau đó, theo hướng dẫn của “Lý Thu T35”, ông K6 rút được số tiền trong 03 ngày giao dịch là 660.185 đồng. Ngày 27/2/2023, ông K6 tiếp tục được mời đăng ký tham gia sự kiện trải nghiệm lần 2. Ngày 05/3/2023, ông K6 được thông báo quay số trúng thưởng giải nhì, được tặng Voucher 3.000USD vào tài khoản và tài khoản đã có 4.000USD, muốn tham gia giao dịch phải đủ điều kiện là tài khoản 5.000USD và yêu cầu ông K6 nạp thêm tiền vào tài khoản. Từ ngày 10/3/2023 đến ngày 05/5/2023, ông Nguyễn Năng K6 sử dụng tài khoản số 104871714512 Ngân hàng V6 mang tên Nguyễn Năng K6 chuyển tổng cộng số tiền 1.112.215.387 đồng vào các tài khoản ngân hàng do các đối tượng lừa đảo cung cấp, gồm: tài khoản số 19038626605018 Ngân hàng T47 mang tên Trần Nguyên Thiên M3; tài khoản số 11055127 Ngân hàng A7 mang tên Khương Thuận P2; tài khoản số 20298767 Ngân hàng A7 mang tên Phạm Kim N17; tài khoản số 19035587299010 Ngân hàng T47 mang tên Hồ Phi H6; tài khoản số 19050048920010 Ngân hàng T47 mang tên Đỗ Thành N18.

Trong quá trình đầu tư, ông K6 đã rút được số tiền là 70.818.956 đồng. Sau đó, ông K6 không rút được tiền và bị chiếm đoạt số tiền 1.041.396.431 đồng (một tỷ không trăm bốn mươi mốt triệu ba trăm chín mươi sáu nghìn bốn trăm ba mươi mốt đồng).

- Bị hại Nguyễn Ngọc Thái S1:

Ngày 16/02/2023, tài khoản Zalo có tên “T” của ông Nguyễn Ngọc Thái S1 được tài khoản Zalo có tên “Bích Ngọc” mời kết bạn. Sau khi kết bạn, “Bích Ngọc” đã gửi đường dẫn (link) trang web https://wealth-managament.com.vn/ và hướng dẫn ông S1 mở tài khoản tại trang web https://www.vncrmrosy.com/pc/ user/loginSau đó, ông S1 được “Bích Ngọc” đưa ra các chương trình ủy thác đầu tư với lợi nhuận cam kết từ 20% - 50% tùy mức vốn tham gia. Tin tưởng, từ ngày 16/3/2023 đến ngày 16/4/2023, ông Nguyễn Ngọc Thái S1 sử dụng tài khoản số 415061221200001 Ngân hàng TMCP N23 và tài khoản số 0041000207236 Ngân hàng V5 đều mang tên Nguyễn Ngọc Thái S1 chuyển tổng cộng số tiền 598.316.000 đồng vào các tài khoản ngân hàng do các đối tượng lừa đảo cung cấp, gồm: tài khoản số 19038648682016 Ngân hàng T47 mang tên Lê Thị N19; tài khoản số 20298767 ngân hàng ACB mang tên Phạm Kim N17; tài khoản số 11055127 Ngân hàng A7 mang tên Khương Thuận P2; tài khoản số 19035587299010 Ngân hàng T47 mang tên Hồ Phi H6.

Quá trình đầu tư, ông S1 đã rút được số tiền 73.545.973 đồng. Sau đó, ông S1 không rút được tiền và bị chiếm đoạt số tiền 524.770.027 đồng (năm trăm hai mươi bốn triệu bảy trăm bảy mươi nghìn không trăm hai mươi bảy đồng).

- Bị hại Nguyễn Quốc K7:

Ngày 23/02/2023, tài khoản Zalo có tên “Q Khanh” của ông Nguyễn Quốc K7 được tài khoản Zalo tên “Vân A5” gửi lời mời kết bạn. Sau khi đồng ý kết bạn, “Vân A5” gửi đường link trang web https://wealth-managament.com.vnhướng dẫn ông K7 mở tài khoản tại trang web https://www.vncrmrosy.com/pc/ user/loginvà đưa ra các chương trình ủy thác đầu tư với lợi nhuận cam kết từ 20%-50% tùy mức vốn tham gia. Tin tưởng, từ ngày 03/3/2023 đến ngày 03/6/2023, ông Nguyễn Quốc K7 đã sử dụng 03 tài khoản số 19030880916014 Ngân hàng T47, số 150593255 Ngân hàng V7, số 0913117088 Ngân hàng P12 (O2) đều mang tên Nguyễn Quốc K7 để chuyển tổng cộng số tiền 1.199.649.122 đồng vào các tài khoản ngân hàng do các đối tượng lừa đảo cung cấp, gồm: tài khoản số 19038626605018 Ngân hàng T47 mang tên Trần Nguyên Thiên M3; tài khoản số 19035587299010 Ngân hàng T47 mang tên Hồ Phi H6; tài khoản số 19050048920010 Ngân hàng T47 mang tên Đỗ Thành N18; tài khoản số 123557559 mang tên Le Duy K8; tài khoản số 0877711183 mang tên Nguyễn Thái H21 Ngân hàng V7; tài khoản số 19036661642012 Ngân hàng T47 mang tên Nguyễn Thị Tường V4; tài khoản số 1036483690 Ngân hàng V5 mang tên Nguyễn Văn T36; tài khoản số 11055127 Ngân hàng A7 mang tên Khương Thuận P2; tài khoản số 20298767 Ngân hàng ACB mang tên Phạm Kim N17.

Quá trình đầu tư, ông K7 đã rút được số tiền 6.829.500 đồng. Sau đó, ông K7 không rút được tiền và bị chiếm đoạt số tiền 1.192.819.622 đồng (một tỷ một trăm chín mươi hai triệu tám trăm mười chín nghìn sáu trăm hai mươi hai đồng).

- Bị hại Ngô Minh Đ3:

Ngày 31/3/2023, tài khoản Zalo tên “Minh Đức” của ông Ngô Minh Đ3 nhận được lời mời kết bạn từ tài khoản Zalo tên “Tuyết Mai”. Sau khi kết bạn, “Tuyết Mai” cung cấp đường link https://wealth-managament.com.vn/about-ushướng dẫn ông Đ3 tạo tài khoản MT4 với mã đăng nhập 2085666. Sau khi có tài khoản, “Tuyết Mai” mời ông Đ3 tham gia chương trình trải nghiệm. Thấy có lợi nhuận nên từ ngày 10/5/2023 đến ngày 10/6/2023, ông Ngô Minh Đ3 sử dụng tài khoản số 63110000677148 Ngân hàng BIDV mang tên Ngô Minh Đ3 chuyển tổng cộng số tiền 1.738.790.195 đồng vào các tài khoản ngân hàng do các đối tượng lừa đảo cung cấp, gồm: tài khoản số 19050048920010 Ngân hàng T47 mang tên Đỗ Thành N18; tài khoản số 19036661642012 Ngân hàng T47 mang tên Nguyễn Thị Tường V4.

Trong quá trình đầu tư, ông Đ3 đã rút được số tiền 60.898.079 đồng. Sau đó, ông Đ3 không rút được tiền và bị chiếm đoạt số tiền 1.677.892.116 đồng (một tỷ sáu trăm bảy mươi bảy triệu tám trăm chín mươi hai nghìn một trăm mười sáu đồng).

- Bị hại Lê Hồng T37:

Khoảng cuối năm 2022, tài khoản Zalo tên “Le Hong Truong” của ông Lê Hồng T37 được tài khoản Zalo có tên “Tran Thi H20” mời kết bạn. Sau khi kết bạn, “Tran Thi H20” gửi đường link https://wealth-management.com.vnhướng dẫn đăng ký tài khoản qua ứng dụng MT4 thông qua trang vncrmrosy.com có mã giao dịch là 2080682 cho ông T37. Sau khi có tài khoản, “Tran Thi H20” đưa ra các chương trình ủy thác đầu tư với lợi nhuận cam kết từ 20%-50% tùy mức vốn tham gia. Tin tưởng nên từ ngày 08/3/2023 đến ngày 10/5/2023, ông Lê Hồng T37 sử dụng tài khoản số 53266008538666 Ngân hàng B4 mang tên Lê Hồng T37 chuyển tổng số tiền 2.727.527.713 đồng vào các tài khoản do công ty lừa đảo cung cấp, gồm: tài khoản số 19038626605018 Ngân hàng T47 mang tên Trần Nguyên Thiên M3; tài khoản số 19036661642012 Ngân hàng T47 mang tên Nguyễn Thị Tường V4; tài khoản số 11055127 Ngân hàng A7 mang tên Khương Thuận P2; tài khoản số 19035587299010 Ngân hàng T47 mang tên Hồ Phi H6; tài khoản số 20298767 Ngân hàng A7 mang tên Phạm Kim N17; tài khoản số 19050048920010 Ngân hàng T47 mang tên Đỗ Thành N18.

Trong quá trình đầu tư, ông T37 đã rút được số tiền 450.200.650 đồng. Sau đó, ông T37 không rút được tiền và bị chiếm đoạt số tiền: 2.277.327.063 đồng (hai tỷ hai trăm bảy mươi bảy triệu ba trăm hai mươi bảy nghìn không trăm sáu mươi ba đồng).

- Bị hại Bế Văn Đ4:

Đầu năm 2023, tài khoản Zalo của ông Bế Văn Đ4 mang tên “Bế Đoàn” được tài khoản Zalo có tên “Nguyễn D6” và “Trương Hải Y” kết bạn thiết lập cho ông

Đ4

01

tài

khoản

[email protected] https://www.vncrmrosy.comvà đưa ra nhiều chương trình đầu tư hấp dẫn. Tin tưởng nên từ ngày 20/3/2023 đến ngày 27/4/2023, ông Bế Văn Đ4 sử dụng tài khoản số 100006018916 Ngân hàng V6, tài khoản số 8314215021233 và số 8300205015262 Ngân hàng A6 đều mang tên Bế Văn Đ5 chuyển tổng số tiền 353.756.952 đồng vào các tài khoản ngân hàng do các đối tượng lừa đảo cung cấp, gồm: tài khoản số 20298767 Ngân hàng A7 mang tên Phạm Kim N17; tài khoản số 11055127 Ngân hàng A7 mang tên Khương Thuận P2; tài khoản số 19050048920010 Ngân hàng T47 mang tên Đỗ Thành N18; tài khoản số 19036661642012 Ngân hàng T47 mang tên Nguyễn Thị Tường V4; tài khoản số 070134246454 Ngân hàng S3 mang tên Ngô Thị Lan A4

Quá trình đầu tư, ông Đ4 đã rút được số tiền 51.161.177 đồng. Sau đó, ông Đ4 không rút được tiền và bị chiếm đoạt số tiền 302.595.775 đồng (ba trăm linh hai triệu năm trăm chín mươi lăm nghìn bảy trăm bảy mươi lăm đồng).

- Bị hại Nguyễn Văn N20:

Tháng 02/2022, ông N20 được một người lạ nhắn tin kết bạn qua ứng dụng “Messenger”, giới thiệu là nhân viên Công ty C4 ở Mỹ, có trụ sở đặt tại Việt Nam mời tham gia đầu tư tài chính. Sau khi được tư vấn, ông N20 đồng ý kết bạn Zalo để tham gia đầu tư trải nghiệm trên trang Web liên kết với ứng dụng MT4 với lợi nhuận hấp dẫn. Tin tưởng nên từ ngày 05/3/2022 đến ngày 08/4/2022, ông Nguyễn Văn N20 sử dụng tài khoản số 5280183869999 Ngân hàng MB mang tên Nguyễn Văn N20 chuyển số tiền 391.138.174 đồng vào các tài khoản ngân hàng do các đối tượng lừa đảo cung cấp, gồm: tài khoản số 19034552398028 Ngân hàng T47 mang tên Nguyễn Thị T23; tài khoản số 19037724703013 Ngân hàng T47 mang tên Trương Minh N10; tài khoản số 105874454692 Ngân hàng V6 mang tên Võ Thị Thanh T24.

Quá trình đầu tư, ông N20 đã rút được số tiền 7.629.046 đồng. Sau đó, ông N20 không rút được tiền và bị chiếm đoạt số tiền 383.509.128 đồng (ba trăm tám mươi ba triệu năm trăm linh chín nghìn một trăm hai mươi tám đồng).

- Bị hại Bùi Đắc T38:

Khoảng tháng 2/2023, tài khoản Zalo của ông Bùi Đắc T38 có tên “Bui Dac Thanh” được tài khoản Z có tên “Nguyễn Thư K9” và “Đào Thị Thanh T39” kết bạn, mời tham gia khóa học quản lý và đầu tư tài chính. Sau khi kết bạn, “Nguyễn Thư K9” và “Đào Thị Thanh T39” hướng dẫn, tạo lập tài khoản trên trang www.vncrmrosy.comtặng 1.000USD vào tài khoản cho ông T38 để tham gia đầu tư trải nghiệm. Quá trình đầu tư, thấy phát sinh lợi nhuận nên từ ngày 24/3/2023 đến ngày 12/4/2023, Bùi Đắc T38 sử dụng tài khoản số 8414205100603 Ngân hàng A6 mang tên Bùi Đắc T38 chuyển tổng số tiền 632.504.977 đồng vào các tài khoản ngân hàng do các đối tượng lừa đảo cung cấp, gồm: tài khoản số 20298767 Ngân hàng A7 mang tên Phạm Kim N17; tài khoản số 11055127 Ngân hàng A7 mang tên Khương Thuận P2; tài khoản số 55110001614899 Ngân hàng BIDV mang tên NGUYEN DANG MINH.

Quá trình đầu tư, ông T38 đã rút được số tiền 97.889.500. Sau đó, ông T38 không rút được tiền và bị chiếm đoạt số tiền 534.615.477 đồng (năm trăm ba mươi bốn triệu sáu trăm mười lăm nghìn bốn trăm bảy mươi bảy đồng).

- Bị hại Nguyễn Minh N21:

Tháng 4/2023, tài khoản Zalo của ông Nguyễn Minh N21 có tên “Nguyễn Minh N21” được 02 (hai) tài khoản Z là “Trà My” và “Thùy Dung” kết bạn, mời gọi hướng dẫn đầu tư ngoại hối với các chương trình khuyến mãi hấp dẫn, lợi nhuận cao (từ 20%- 25%). Tin tưởng nên từ ngày 27/6/2023 đến ngày 21/7/2023, ông Nguyễn Minh N21 sử dụng tài khoản số 0811000037115 Ngân hàng V5 mang tên Nguyễn Minh N21 chuyển tổng số tiền 435.613.501 đồng và các tài khoản do các đối tượng lừa đảo cung cấp, gồm: tài khoản số 19050048920010 Ngân hàng T47 mang tên Đỗ Thành N18; tài khoản số 19036661642012 Ngân hàng T47 mang tên Nguyễn Thị Tường V4; tài khoản số 1681007304062 ngân hàng A8 (A9) mang tên Lý Hồng N22.

Quá trình đầu tư, ông N21 đã rút được số tiền: 7.700.000 đồng. Sau đó, ông N21 không rút được tiền và bị chiếm đoạt số tiền 427.913.501 đồng (bốn trăm hai mươi bảy triệu chín trăm mười ba nghìn năm trăm linh một đồng).

Hành vi của các đối tượng người Việt Nam làm việc trong tổ chức tội phạm lừa đảo tại Campuchia, như sau:

- Châu Văn T tháng 11/2021 qua Campuchia để làm ăn sau đó làm việc cho tổ chức lừa đảo từ tháng 01/2022 đến ngày 19/6/2023 với nhiệm vụ “nuôi” Zalo, chăm sóc khách hàng, lôi kéo, dẫn dụ các bị hại nộp tiền đầu tư. Châu Văn T thừa nhận đã trực tiếp dẫn dụ được 09 bị hại nộp tiền đầu tư, với số tiền là 649.200 USD (tương đương 14.968.604.400 đồng).

Trong khoảng thời gian Châu Văn T tham gia làm việc, tổ chức lừa đảo đã lôi kéo, dẫn dụ được 16 (mười sáu) bị hại gồm: Nguyễn Văn D4, Trương Đình H17, Lê Hoàng T28, Trần Quế L5, Nguyễn Đức T14, Nguyễn Quý T31, Đào Văn L6, Mai Kỳ N16, Nguyễn Năng K6, Nguyễn Ngọc Thái S1, Nguyễn Quốc K7, Ngô Minh Đ3, Lê Hồng T37, Bế Văn Đ4, Nguyễn Văn N20, Bùi Đắc T38 với tổng số tiền bị chiếm đoạt là 31.841.694.098 đồng (ba mươi mốt tỷ tám trăm bốn mươi mốt triệu sáu trăm chín mươi bốn nghìn không trăm chín mươi tám đồng).

Quá trình làm việc, Châu Văn T thừa nhận được tổ chức lừa đảo trả công (lương và thưởng) với số tiền là 19.000USD (tương đương với 438.083.000 đồng).

- Bùi Thị Bích N1 qua mạng xã hội được giới thiệu qua Campuchia làm việc lương cao và vào làm việc cho tổ chức lừa đảo từ ngày 19/02/2022 đến ngày 19/6/2023 với nhiệm vụ chủ yếu làm phiên dịch từ tiếng Trung Quốc sang tiếng Việt Nam và ngược lại cho các đối tượng người Trung Quốc và người Việt Nam trong tổ chức lừa đảo. Ngoài ra, Bùi Thị Bích N1 đã phối hợp, hỗ trợ cùng Châu Văn T trong việc chiếm đoạt tiền của bị hại Lê Hồng T37 số tiền 2.277.327.063 đồng.

Trong khoảng thời gian Bùi Thị Bích N1 tham gia làm việc, tổ chức lừa đảo đã lừa được 16 (mười sáu) bị hại ,gồm: Nguyễn Văn D4, Trương Đình H17, Lê Hoàng T28, Trần Quế L5, Nguyễn Đức T14, Nguyễn Quý T31, Đào Văn L6, Mai Kỳ N16, Nguyễn Năng K6, Nguyễn Ngọc Thái S1, Nguyễn Quốc K7, Ngô Minh Đ3, Lê Hồng T37, Bế Văn Đ4, Nguyễn Văn N20, Nguyễn Minh N21, Bùi Đắc T38 với tổng số tiền bị chiếm đoạt 31.652.071.922 đồng (ba mươi mốt tỷ sáu trăm năm mươi hai triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn chín trăm hai mươi hai đồng).

Quá trình làm việc, N1 thừa nhận được tổ chức lừa đảo trả lương và hoa hồng là 13.776 USD (tương đương 317.633.232 đồng).

- Đỗ Thị H tháng 10/2021 được người tên “Thy” giới thiệu qua Campuchia làm phiên dịch tiếng Trung Quốc với mức lương cao. Khi H sang Campuchia thì “Thy” đưa vào làm việc cho tổ chức lừa đảo từ tháng tháng 11/2021 đến ngày 07/5/2023 với nhiệm vụ chính là chạy quảng cáo và phiên dịch tiếng Trung Quốc sang tiếng Việt Nam và ngược lại cho các đối tượng người Trung Quốc và người Việt Nam trong tổ chức lừa đảo. Ngoài ra, H sử dụng tài khoản Zalo có tên là “Linh Babe” để tương tác, dẫn dụ bị hại Bùi Đắc T38 nộp tiền đầu tư với số tiền là 534.615.477 đồng.

Trong khoảng thời gian H tham gia làm việc, tổ chức lừa đảo đã lừa được 15 bị hại gồm: Nguyễn Văn D4, Trương Đình H17, Lê Hoàng T28, Trần Quế L5, Nguyễn Đức T14, Nguyễn Quý T31, Đào Văn L6, Mai Kỳ N16, Nguyễn Năng K6, Nguyễn Ngọc Thái S1, Nguyễn Quốc K7, Lê Hồng T37, Bế Văn Đ4, Nguyễn Văn N20, Bùi Đắc T38, chiếm đoạt số tiền 28.887.079.279 đồng (hai mươi tám tỷ tám trăm tám mươi bảy triệu không trăm bảy mươi chín nghìn hai trăm bảy mươi chín đồng).

Quá trình làm việc, H được tổ chức lừa đảo trả công với số tiền là 7.700 USD (tương đương 177.538.900 đồng).

- Huỳnh Chí D được người phụ nữ tên M4 quê ở tỉnh Trà Vinh rủ qua Campuchia làm việc và đưa vào làm việc cho tổ chức lừa đảo từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2022 với nhiệm vụ chăm sóc khách hàng, lôi kéo, dẫn dụ các bị hại nộp tiền đầu tư. Huỳnh Chí D trực tiếp dẫn dụ được 02 bị hại nộp tiền đầu tư là Lê Hoàng T28 và Nguyễn Quý T31 với tổng số tiền chiếm đoạt là 226.426.400 đồng. Trong thời gian Huỳnh Chí D tham gia làm việc, tổ chức lừa đảo đã lôi kéo, dẫn dụ được 08 bị hại gồm: Nguyễn Văn D4, Trương Đình H17, Lê Hoàng T28, Trần Quế L5, Nguyễn Đức T14, Nguyễn Quý T31, Đào Văn L6, Nguyễn Văn N20 với tổng số tiền bị chiếm đoạt là 21.780.370.978 đồng (hai mươi mốt tỷ bảy trăm tám mươi triệu ba trăm bảy mươi nghìn chín trăm bảy mươi tám đồng).

Quá trình làm việc, Huỳnh Chí D thừa nhận được tổ chức lừa đảo chi trả tổng số tiền 15.600USD (tương đương 359.689.200 đồng), gồm: tiền lương là 10.100 USD và tiền thưởng là 5.500 USD.

- Nguyễn Thị Kim C1 được giới thiệu qua Campuchia làm việc lương cao và vào làm việc cho tổ chức lừa đảo từ tháng 15/4/2022 đến tháng 25/4/2023 với nhiệm vụ chăm sóc khách hàng. Nguyễn Thị Kim C1 thừa nhận trong quá trình làm việc đã dụ dỗ được 05 bị hại nộp tiền đầu tư với số tiền là 13.700 USD (tương đương 315.880.900 đồng).

Trong khoảng thời gian Chi tham gia làm việc, tổ chức lừa đảo đã lừa được 13 bị hại gồm: Trương Đình H17, Lê Hoàng T28, Trần Quế L5, Nguyễn Đức T14, Nguyễn Quý T31, Đào Văn L6, Mai Kỳ N16, Nguyễn Năng K6, Nguyễn Ngọc Thái S1, Nguyễn Quốc K7, Lê Hồng T37, Bế Văn Đ4, Bùi Đắc T38 với tổng số tiền bị chiếm đoạt 20.536.422.099 đồng (hai mươi tỷ năm trăm ba mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi hai nghìn không trăm chín mươi chín đồng).

Quá trình làm việc, C1 thừa nhận được tổ chức lừa đảo trả công là 4.000 USD (tương đương 92.228.000 đồng).

- Bùi Quang K1 qua mạng xã hội được người tên “Phong P8” giới thiệu qua Campuchia làm việc trên máy tính với mức lương cao và được đưa vào làm việc cho tổ chức lừa đảo từ ngày 15/7/2022 đến ngày 31/12/2022 với nhiệm vụ “nuôi” Zalo, chạy quảng cáo. Trong khoảng thời gian Bùi Quang K1 tham gia làm việc, tổ chức lừa đảo đã lôi kéo, dẫn dụ được 04 bị hại gồm: Trương Đình H17, Nguyễn Đức T14, Nguyễn Quý T31, Đào Văn L6 với tổng số tiền bị chiếm đoạt là 13.110.461.546 đồng (mười ba tỷ một trăm mười triệu bốn trăm sáu mươi mốt nghìn năm trăm bốn mươi sáu đồng).

Quá trình làm việc, Bùi Quang K1 thừa nhận được tổ chức lừa đảo trả công với số tiền là 3.250USD (tương đương với 74.935.250 đồng).

- Trần Thế S được người tên P9 hướng dẫn đi đến cửa khẩu M10, tỉnh Tây Ninh và được một người phụ nữ đưa sang Campuchia vào làm việc cho tổ chức lừa đảo từ ngày 30/7/2022 đến ngày 24/12/2022 và từ ngày 03/02/2023 đến ngày 16/4/2023 với nhiệm vụ “nuôi” Zalo. Trong khoảng thời gian Trần Thế S tham gia làm việc, tổ chức lừa đảo đã lôi kéo, dẫn dụ được 11 bị hại gồm: Trương Đình H17, Nguyễn Đức T14, Nguyễn Quý T31, Đào Văn L6, Mai Kỳ N16, Nguyễn Năng K6, Nguyễn Ngọc Thái S1, Nguyễn Quốc K7, Lê Hồng T37, Bế Văn Đ5, Bùi Đắc T38 với tổng số tiền bị chiếm đoạt là 13.045.244.458 đồng (mười ba tỷ không trăm bốn mươi lăm triệu hai trăm bốn mươi bốn nghìn bốn trăm năm mươi tám đồng).

Quá trình làm việc, Trần Thế S thừa nhận được tổ chức lừa đảo trả công với số tiền là 5.200 USD (tương đương với 119.896.400 đồng).

- Phạm Thanh T3 qua mạng xã hội được giới thiệu qua Campuchia làm việc lương cao và vào làm việc cho tổ chức lừa đảo từ ngày 02/9/2022 đến ngày 30/4/2023 với nhiệm vụ “nuôi” Zalo, chạy quảng cáo, kết bạn Zalo tạo tài khoản MT4 cho các bị hại. Trong khoảng thời gian Phạm Thanh T3 tham gia làm việc, tổ chức lừa đảo đã lôi kéo, dẫn dụ được 10 bị hại gồm: Nguyễn Đức T14, Nguyễn Quý T31, Đào Văn L6, Mai Kỳ N16, Nguyễn Năng K6, Nguyễn Ngọc Thái S1, Nguyễn Quốc K7, Lê Hồng T37, Bế Văn Đ4, Bùi Đắc T38 với tổng số tiền bị chiếm đoạt là 11.320.217.392 đồng (mười một tỷ ba trăm hai mươi triệu hai trăm mười bảy nghìn ba trăm chín mươi hai đồng).

Quá trình làm việc, Phạm Thanh T3 thừa nhận được tổ chức lừa đảo trả công với số tiền là 5.186USD (tương đương với 119.573.602 đồng).

- Bùi Thị H2 được người tên P9 hướng dẫn đi đến cửa khẩu M10, tỉnh Tây Ninh và được một người phụ nữ đưa sang Campuchia vào làm việc cho tổ chức lừa đảo từ ngày 30/7/2022 đến ngày 08/01/2023 và từ ngày 03/02/2023 đến ngày 28/02/2023 với nhiệm vụ “nuôi” Zalo và theo dõi chấm công tổ “nuôi” Zalo. Trong khoảng thời gian Bùi Thị H2 tham gia làm việc, tổ chức lừa đảo đã lôi kéo, dẫn dụ được 04 bị hại gồm: Trương Đình H17, Nguyễn Đức T14, Nguyễn Quý T31, Đào Văn L6 với tổng số tiền bị chiếm đoạt là 9.200.887.060 đồng (chín tỷ hai trăm triệu tám trăm tám mươi bảy nghìn không trăm sáu mươi đồng).

Quá trình làm việc, Bùi Thị H2 thừa nhận được tổ chức lừa đảo trả công với số tiền là 4.800 USD (tương đương với 110.673.600 đồng).

- Trần Minh T6 tháng 6/2022 được người tên Q hẹn sang Campuchia làm việc và đưa vào làm việc cho tổ chức lừa đảo từ tháng 6/2022 đến tháng 01/2023, với nhiệm vụ chăm sóc khách hàng, lôi kéo, dẫn dụ các bị hại nộp tiền đầu tư. Trần Minh T6 thừa nhận trong quá trình làm việc đã lôi kéo, dụ dỗ được 10 bị hại nộp tiền đầu tư với tổng số tiền là 500.000.000 đồng.

Trong khoảng thời gian T6 làm việc, tổ chức lừa đảo đã lừa được 06 bị hại là Trương Đình H17, Lê Hoàng T28, Trần Quế L5, Nguyễn Đức T14, Nguyễn Quý T31, Đào Văn L6 với tổng số tiền bị chiếm đoạt 8.155.323.420 đồng (tám tỷ một trăm năm mươi lăm triệu ba trăm hai mươi ba nghìn bốn trăm hai mươi đồng).

Quá trình làm việc, T6 được tổ chức lừa đảo trả công 6.000USD (tương đương 138.342.000 đồng).

- Nguyễn Văn H3 qua mạng xã hội được giới thiệu qua Campuchia làm việc lương cao và vào làm việc cho tổ chức lừa đảo từ ngày 10/02/2023 đến ngày 15/5/2023 với nhiệm vụ “nuôi” Zalo, chạy quảng cáo, kết bạn Zalo tạo tài khoản MT4 cho các bị hại. Nguyễn Văn H3 thừa nhận trong quá trình làm việc đã dụ dỗ được 05 bị hại nộp tiền đầu tư với số tiền là 10.000 USD (tương đương 230.570.000 đồng).

Trong khoảng thời gian Nguyễn Văn H3 tham gia làm việc, tổ chức lừa đảo đã lôi kéo, dẫn dụ được 08 bị hại gồm: Mai Kỳ N16, Nguyễn Năng K6, Nguyễn Ngọc Thái S1, Nguyễn Quốc K7, Ngô Minh Đ3, Lê Hồng T37, Bế Văn Đ4, Bùi Đắc T38 với tổng số tiền bị chiếm đoạt là 8.047.272.925 đồng (tám tỷ không trăm bốn mươi bảy triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn chín trăm hai mươi lăm đồng).

Quá trình làm việc, Nguyễn Văn H3 thừa nhận được tổ chức lừa đảo trả công với số tiền là 3.300USD (tương đương với 76.088.100 đồng).

2. Hành vi “Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” và “Rửa tiền”:

Vào năm 2016 trong quá trình làm ăn sinh sống tại Malaysia, Hồ Thanh T8 quen biết và kết hôn với Lim K. Khoảng tháng 3/2022, L10 (K10) là em trai của L11 đặt vấn đề với Hồ Thanh T8 về việc tìm kiếm thu mua hoặc thuê các tài khoản ngân hàng của người Việt Nam để cho L10 thuê lại với giá 150RM-200RM/01 tài khoản/tháng (tương đương 800.000 đồng-1.100.000 đồng/01 tài khoản/tháng). Hồ Thanh T8 sử dụng các ứng dụng mạng xã hội như Zalo, Facebook … để liên hệ để thuê các thông tin về tài khoản ngân hàng với giá từ 500.000-700.000 đồng/01 tài khoản/tháng. Trong thời gian từ tháng 3/2022 đến tháng 7/2023, Hồ Thanh T8 thừa nhận đã thu thập, thuê được khoảng 200 tài khoản ngân hàng của nhiều người tại Việt Nam (trong đó: có khoảng 160 tài khoản ngân hàng còn hoạt động và khoảng 40 tài khoản ngân hàng không còn hoạt động) rồi cho L10 thuê lại hưởng lợi số tiền khoảng 500.000.000 đồng/tài khoản.

Thông qua mạng xã hội, Phạm Thị Thùy D2 quen biết với Kenneth Hew C (K) người Malaysia gốc H20. Vào khoảng tháng 8/2022, K11 đặt vấn đề với Phạm Thị Thùy D2 thuê 01 căn hộ tại Chung cư D bis, A T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 7.000.000 đồng/tháng để đặt máy tính kết nối điện thoại thông minh chứa ứng dụng tài khoản ngân hàng điện tử và mạng internet, thực hiện việc quản lý, khởi động, cấp nguồn hệ thống các máy điện thoại được kết nối vào máy tính và một số công việc khác khi có người yêu cầu, hướng dẫn với mức lương là 3.000.000 đồng/tháng. K13 đưa D2 vào nhóm T40 “Project VN” gồm có các thành viên như: Kenneth Hew Chee H22 (sử dụng tài khoản có tên là: H22), K12 (sử dụng tài khoản có tên là: K12), Teh Jian H13 (sử dụng tài khoản có tên là: H13), L7 (sử dụng tài khoản có tên là: I), L10 (sử dụng tài khoản có tên là: KS).… D2 được giao nhiệm vụ mua bộ máy vi tính có các thông số kỹ thuật theo yêu cầu của H13. Sau đó, KS, K11, H13, H14 từ Malaysia nhập cảnh vào Việt Nam đến căn hộ tại Chung cư D bis, A T tiến hành cài đặt hệ thống máy tính kết nối điện thoại di động. Thông qua nhóm T40, Phạm Thị Thùy D2 được giao nhiệm vụ mua 04 bộ máy vi tính, 03 bộ lưu điện dự phòng, 03 USB HUB, khoảng 30 chiếc điện thoại di động và tiếp nhận khoảng 17 tài khoản ngân hàng. Sau đó, Phạm Thị Thùy D2 được hướng dẫn lắp đặt, kết nối, quản lý và duy trì hệ thống tài khoản ngân hàng được kết nối với máy tính, máy điện thoại phục vụ cho việc tiếp nhận và luân chuyển dòng tiền bất hợp pháp. Đến cuối năm 2022, D2 nghỉ việc và đề nghị các đối tượng M5 tìm người thay thế rồi Dung chuyển giao, hướng dẫn kỹ thuật, cách thức lắp đặt, cài đặt, vận hành hệ thống máy móc, thiết bị cho Hồ Phi H7. Quá trình làm việc, D2 được tổ chức tội phạm rửa tiền trả tiền công là 36.000.000 đồng. Sau khi nghỉ việc, từ tháng 02/2023, Phạm Thị Thùy D2 chỉ phụ trách việc mua sắm các thiết bị máy vi tính, điện thoại di động, cáp kết nối và các thiết bị khác theo yêu cầu của tổ chức rửa tiền rồi giao cho Hồ Phi H7, Khương Thuận P2 và đồng thời hướng dẫn sử dụng hệ thống thiết bị khi có vướng mắc cho Hồ Phi H7.

Khoảng tháng 12/2022, Lim Kie S2 nhờ Hồ Thanh T8 tìm thuê địa điểm tại thành phố Hồ Chí Minh và tìm người thay thế Phạm Thị Thùy D2 để quản lý, vận hành lắp đặt thiết bị điện tử kết nối các điện thoại đăng ký dịch vụ Internet banking cho các tài khoản ngân hàng; đăng nhập các ứng dụng ngân hàng; duy trì hệ thống máy tính kết nối với điện thoại hoạt động 24/24h; nhận sim điện thoại và các thẻ tài khoản ngân hàng.… Hồ Thanh T8 cho L10 thuê căn hộ số A, tầng 17 Khu C địa chỉ tại số I T, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh của mình với giá 6.000.000 đồng/tháng và giới thiệu em trai là Hồ Phi H7 vào làm việc với nhiệm vụ duy trì hoạt động của hệ thống máy tính, điện thoại kết nối thẻ sim tại căn hộ số 17, tầng A Khu C. Ngoài ra, Hồ Thanh T8 còn nhờ Đặng Văn Đ6 đến lắp đặt, kết nối các thiết bị cho Hồ Phi H7 đến tháng 01/2023, Đặng Văn Đ6 nghỉ việc đi nghĩa vụ quân sự.

Khoảng tháng 01/2023, L10 tiếp tục yêu cầu Hồ Thanh T8 tìm thuê địa điểm tại thành phố Hồ Chí Minh và tìm người để quản lý, vận hành công việc như trước đó. Hồ Thanh T8 nhờ Hồ Phi H7 đến thuê căn hộ tại C, Loc C, Tòa nhà M địa chỉ tại số E K, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 6.500.000 đồng/tháng. Khoảng tháng 02/2023, Hồ Thanh T8 thuê Khương Thuận P2 vào cùng làm việc với Hồ Phi H7 với nhiệm vụ kết nối các điện thoại vào máy tính, nạp tiền điện thoại vào các sim dùng để đăng ký dịch vụ ngân hàng điện tử “Internet banking” cho các tài khoản ngân hàng; tiếp nhận, quản lý các thẻ, tài khoản ngân hàng, sim điện thoại do Hồ Thanh T8 và các đối tượng khác thu thập, chuyển đến; nhận các thiết bị điện tử để lắp đặt; duy trì không để các máy, điện thoại đang chạy bị sập nguồn; cài ứng dụng ngân hàng trên điện thoại; gửi mã OTP ngân hàng khi được yêu cầu; đăng nhập vào các ứng dụng ngân hàng trên điện thoại khi có yêu cầu của tổ chức rửa tiền.

Quá trình làm việc, Khương Thuận P2 được tổ chức rửa tiền chi trả với số tiền là 62.000.000 đồng (trong đó: tiền công 41.000.000 đồng, tiền thưởng 5.000.000 đồng và tiền cho thuê 06 tài khoản ngân hàng 15.000.000 đồng; Hồ Phi H7 được tổ chức rửa tiền chi trả số tiền là 33.000.000 đồng (trong đó: tiền công 30.000.000 đồng, tiền cho thuê 02 tài khoản ngân hàng 3.000.000 đồng).

Teh J và Loh Choon H14 tham gia làm việc cho tổ chức rửa tiền dưới sự chỉ đạo của Lim K (K.S) từ tháng 6-7/2022 với nhiệm vụ tiến hành lắp đặt, tải các phần mềm điều khiển máy tính từ xa “anydesk” và liên hệ với chuyên viên công nghệ thông tin (IT) ở Đài Loan để cài đặt, vận hành phần mềm điều khiển từ xa việc tiếp nhận và luân chuyển dòng tiền bất hợp pháp trên dịch vụ Internet banking hoặc MoMo. Tháng 9/2022, T41 Jian Hong và L7 nhập cảnh vào Việt Nam đến căn hộ tại Chung cư D bis, A T tiến hành cài đặt hệ thống máy tính kết nối điện thoại di động. Ngày 13/7/2023, Teh Jian H13 và L7 nhập cảnh vào Việt Nam đến thành phố Hồ Chí Minh gặp Khương Thuận P2 và Hồ Phi H7 để kiểm tra, bảo trì hệ thống thiết bị, máy móc đặt tại Chung cư V, số I T, phường A, quận B và C, Blok C, Tòa nhà M, số E K, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Chung cư V và Tòa nhà M) thì bị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Q phát hiện, bắt giữ.

Cơ quan An ninh điều tra phát hiện, thu giữ tại Chung cư V và Tòa nhà M6 do Hồ Thanh T8, Hồ Phi H7, Khương Thuận P2 có trách nhiệm quản lý: 397 thẻ tài khoản ngân hàng, 103 điện thoại thông minh (smartphone); 10 bộ máy tính (trong đó: có 08 bộ phục vụ cho việc điều khiển từ xa, kiểm soát, luân chuyển dòng tiền bất hợp pháp; 02 bộ là của cá nhân Khương Thuận P2 đưa đến dùng với mục đích cá nhân).

Kết quả điều tra xác định, trong số 397 tài khoản ngân hàng bị thu giữ có 04 tài khoản ngân hàng mà các đối tượng lừa đảo tại Campuchia sử dụng để nhận tiền và luân chuyển dòng tiền từ các bị hại với số tiền là 4.915.839.526 đồng (bốn tỷ, chín trăm mười lăm triệu, tám trăm ba mươi chín ngàn, năm trăm hai mươi sáu đồng) do tổ chức lừa đảo tại Campuchia đã lừa được của các bị hại trong quá trình kêu gọi đầu tư trên sàn RosyStyle, gồm: tài khoản Ngân hàng T47 số 19035587299010 mang tên Hồ Phi H6; tài khoản Ngân hàng A7 số 11055127 mang tên Khương Thuận P2; tài khoản Ngân hàng A7 số 20298767 mang tên Phạm Kim N17; tài khoản Ngân hàng S3 số 070134246454 mang tên Ngô Thị Lan A4.

Quá trình điều tra, truy tố đã thu giữ các vật chứng gồm:

- 14 (mười bốn) tờ tài liệu thu giữ tại nơi làm việc của Khương Thuận P2.

- 04 (bốn) tờ giấy A4 thể hiện nội dung hợp đồng thuê căn hộ giữa Hồ Phi H7 và Giang Gia H23 thu giữ tại Phòng C02.07, Tầng B, Block C, Tòa nhà M, số E K, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- 01 (một) tờ giấy A4 thể hiện nội dung lấy ý kiến đánh giá chất lượng dịch vụ quản lý, vận hành thu giữ tại Phòng C02.07, Tầng B, Block C, Tòa nhà M, số E K, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- 04 (bốn) tờ giấy A4 thể hiện nội dung phiếu bán hàng thu giữ tại Phòng C02.07, Tầng B, Block C, Tòa nhà M, số E K, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Thu giữ chuyển Kho vật chứng thuộc Phòng Cảnh sát thi hành án và hỗ trợ tư pháp Công an tỉnh Q:

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 Pro (thu giữ của Đỗ Thị H).

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI (thu giữ của Đỗ Thị H).

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 Pro Max (thu giữ của Trần Minh T6).

+ 01 (một) điện thoại di động IPHONE 14 Pro Max (thu giữ của Huỳnh Chí D).

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 13 Pro Max (thu giữ của Nguyễn Thị Kim C1).

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI; 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu HUAWEI MatePad; 01 (một) thẻ nhựa mang tên TEH JIAN HONG có dãy số: 891007-10-5115; 01 (một) thẻ nhựa của ngân hàng O3 có dãy số: 5401 6200 0079 8560; 01 (một) thẻ nhựa của ngân hàng P13 có dãy số: 4848 1000 9163 7559; 01 (một) thẻ nhựa của ngân hàng H25 có dãy số: 4678 5107 2008 1547; 01 (một) Hộ chiếu Malaysia mang tên TEH JIAN HONG (thu giữ của Teh J).

+ 02 (hai) điện thoại di động nhãn hiệu REALME C305 (thu giữ của The Jian H24).

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 Plus, vỏ màu tím, số IMEI: 35989387985213, số IMEI2: 359893879958465, đã qua sử dụng, 01 (một) máy tính xách tay, nhãn hiệu HONOR, màu trắng xám, model: NBLK-WAX9X, đã qua sử dụng, 01 (một) cuốn hộ chiếu số A55728651 mang tên Loh Choon H14, 01 (một) thẻ định danh số: 880229-43-5351 mang tên Loh Choon H14, 02 (hai) giấy phép lái xe hạng B2 đến hạng D mang tên Loh Choon H14, 01 (một) thẻ nhựa có ghi chữ CIMB, có dãy số: 5196 0330 0307 4378, 01 (một) thẻ nhựa có ghi chữ M11, có dãy số: 5491 8620 0781 3684, 01 (một) thẻ nhựa có ghi chữ Bonuslink, có dãy số: 6018 8400 9456 7506, 01 (một) thẻ nhựa có ghi chữ Hearth Care, có dãy số: 880229-43-5351, 04 (bốn) thẻ sim điện thoại gồm: thẻ sim Mobifone số 0937.965.071 ghi tên Nguyễn Anh M7; thẻ sim Mobifone số 0768.828.974 ghi tên Nguyễn Tấn T42; thẻ sim Vinaphone các số điện thoại 0829.093251, 0815.554.914 ghi tên Lê Hữu T43 được đựng trong 04 (bốn) túi nilon trong suốt, bên ngoài có dán mẫu giấy ghi thông tin số điện thoại và tên của người Việt Nam (thu giữ của Loh C).

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE X (thu giữ của Phạm Thị Thùy D2).

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11 (thu giữ của Khương Thuận P2).

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 Pro Max; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE X (thu giữ của Hồ Thanh T8).

+ 01 (một) điện thoại di động IPHONE 12 Pro Max (thu giữ của Hồ Phi H7).

+ 103 (một trăm lẻ ba) điện thoại di động (có bản thống kê chi tiết thể hiện kèm theo tại Biên bản làm việc vào lúc 13 giờ 30 phút, ngày 07/8/2023 của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Q).

+ 397 (ba trăm chín mươi bảy) thẻ ngân hàng (dạng thẻ vật lý) (có bản thống kê chi tiết thể hiện kèm theo tại Biên bản làm việc vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 11/8/2023 của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Q).

+ 05 (năm) quyển vở (dạng vở ô ly) có chữ viết và dán các sim điện thoại. Trong đó có 03 (ba) quyển có dán tổng cộng 280 sim điện thoại di động của các nhà mạng viễn thông (sim được dán vào một số trang trong vở) và ghi chép số điện thoại kèm theo; 02 (hai) quyển không dán sim mà chỉ ghi chép thông tin số điện thoại.

+ 01 (một) túi màu xanh dương bên trong chứa 210 (hai trăm mười) khay thẻ sim hình chữ nhật và 01 (một) túi màu đen bên trong chứa 73 (bảy mươi ba) khay thẻ sim hình chữ nhật (dùng để chứa sim điện thoại).

+ 10 (mười) bộ máy tính gồm 10 (mười) thiết bị CASE và 10 (mười) màn hình máy tính. (có thống kê kèm theo).

+ 01 (một) thiết bị định tuyến và 01 (một) thiết bị phát wifi, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong.

+ 01 (một) bộ tích điện màu đen, thiết bị đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

- Tiền ngân hàng N24 số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) hiện đang tạm giữ tại tài khoản số 394909048865 của Phòng Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an tỉnh Q do gia đình bị cáo Hồ Thanh T8 và gia đình bị cáo Phạm Thị Thùy D2 nộp để áp dụng biện pháp ngăn chặn “Đặt tiền để bảo đảm” nay trả lại cho gia đình các bị cáo này.

- Tiền ngân hàng N24 số tiền 1.552.401.365 đồng (Một tỉ năm trăm năm mươi hai triệu bốn trăm linh một ngàn ba trăm sáu mươi lăm đồng) và số tiền 262.625.463 đồng (hai trăm sáu mươi hai triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn bốn trăm sáu mươi ba đồng) hiện đang tạm giữ tại tài khoản số 394909048865 của Phòng Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an tỉnh Q do các ngân hàng chuyển đến.

- Chuyển theo hồ sơ vụ án 11 (Mười một) thùng tài liệu sao kê của 375 tài khoản ngân hàng.

Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2025/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị) đã quyết định:

Tuyên bố: các bị cáo Châu Văn T, Bùi Thị Bích N1, Đỗ Thị H, Huỳnh Chí D, Nguyễn Thị Kim C1, Bùi Quang K1 (tên gọi khác: N5), Trần Thế S, Phạm Thanh T3, Bùi Thị H2, Trần Minh T6 và Nguyễn Văn H3 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; bị cáo Hồ Thanh T8 (tên gọi khác: Anna H5) phạm tội “Tàng trữ, mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” và “Rửa tiền”; các bị cáo Hồ Phi H7 và Khương Thuận P2 phạm tội “Tàng trữ trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” và “Rửa tiền”; các bị cáo Phạm Thị Thùy D2, Teh Jian H13 (tên gọi khác: A H8) và Loh Choon H14 (tên gọi khác: I) phạm tội “Rửa tiền”.

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điều 38; các điểm s, t khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự:

+ Phạt bị cáo Châu Văn T 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 24/6/2023.

+ Phạt bị cáo Bùi Thị Bích N1 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 24/6/2023.

+ Phạt bị cáo Đỗ Thị H 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 24/6/2023.

+ Phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim C1 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 24/6/2023.

+ Phạt bị cáo Trần Minh T6 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (từ ngày 24/6/2024).

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điều 38; các điểm b, s, t khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự:

+ Phạt bị cáo Huỳnh Chí D 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 24/6/2023.

+ Phạt bị cáo Nguyễn Văn H3 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 27/4/2024.

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điều 38; các điểm s, t khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự:

+ Phạt bị cáo Bùi Quang K1 (tên gọi khác: N5) 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

+ Phạt bị cáo Trần Thế S 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

+ Phạt bị cáo Phạm Thanh T3 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 27/4/2024.

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điều 38; các điểm n, s, t khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự: phạt bị cáo Bùi Thị H2 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

- Áp dụng các điểm a, b khoản 3 Điều 291; điểm a khoản 3 Điều 324; Điều 35; Điều 38; các điểm n, s, t khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự: phạt bị cáo Hồ Thanh T8 (tên gọi khác: Anna H5) 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” và 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Rửa tiền”. Thời hạn chấp hành hình phạt tiền tính từ khi bản án có hiệu lực pháp luật; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ đi thời gian bị bắt tạm giam từ ngày 21/7/2023 đến ngày 14/12/2023.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 291; điểm a khoản 3 Điều 324; Điều 38; các điểm u, s, t khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 55 Bộ luật Hình sự: phạt bị cáo Hồ Phi H7 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” và 04 (bốn) năm tù về tội “Rửa tiền”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội, buộc bị cáo Hồ Phi H7 phải chấp hành hình phạt 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 291; điểm a khoản 3 Điều 324; Điều 38; các điểm s, t khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự: phạt bị cáo Khương Thuận P2 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” và 04 (bốn) năm tù về tội “Rửa tiền”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội, buộc bị cáo Khương Thuận P2 phải chấp hành hình phạt 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 324; Điều 38; các điểm s, t khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự: phạt bị cáo Phạm Thị Thùy D2 05 (năm) năm tù, được trừ đi thời gian bị bắt tạm giam trước đây (từ ngày 21/7/2023 đến ngày 15/3/2024). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 324; Điều 38; các điểm s, t khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự:

+ Phạt bị cáo Teh Jian H13 (tên gọi khác: A H8) 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 23/7/2023.

+ Phạt bị cáo Loh Choon H14 (tên gọi khác: I) 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 23/7/2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt của các bị cáo khác trong vụ án và phần xử lý vật chứng vụ án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 06/5/2025, bị hại Nguyễn Đức T14 kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với tất cả bị cáo trong vụ án.

Ngày 15/5/2025, bị hại Nguyễn Ngọc Thái S1 kháng cáo đề nghị:

+ Giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”: Châu Văn T, Bùi Thị Bích N1, Đỗ Thị H, Huỳnh Chí D, Nguyễn Thị Kim C1, Bùi Quang K1, Trần Thế S, Phạm Thanh T3, Bùi Thị H2, Trần Minh T6, Nguyễn Văn H3.

+ Đề nghị truy tố hai bị cáo Teh Jian H13 và Loh Choon H14 thêm tội danh “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

+ Xem xét lại trách nhiệm bồi thường số tiền mà các bị cáo đã chiếm đoạt.

Ngày 13/4/2025, bị cáo Bùi Thị H2, Bùi Quang K1, Trần Thế S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt hoặc xin được hưởng án treo.

Ngày 15/4/2025, bị cáo Trần Minh T6 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và giảm trách nhiệm dân sự, tiền khắc phục hậu quả.

Ngày 17/4/2025, các bị cáo The Jian H24, L7 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo Phạm Thị Thùy D2, Hồ Phi H7, Khương Thuận P2, Hồ Thanh T8 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt hoặc xin được hưởng án treo.

Ngày 18/4/2025, bị cáo Nguyễn Thị Kim C1, Bùi Thị B3 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 18/4/2025, bị cáo Đỗ Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xem xét phần bồi thường liên đới trách nhiệm với các bị hại.

Ngày 21/4/2025, bị cáo Châu Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 23/4/2025, bị cáo Nguyễn Văn H3 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo; Luật sư đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm hình phạt cho các bị cáo. Còn Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp cho bị hại đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị hại tăng hình phạt, bồi thường cho các bị hại và tịch thu tiền là không đúng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo các bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với các chứng cứ khác nên có đủ cơ sở xác định:

Trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến ngày 21/7/2023, tổ chức lừa đảo tại Campuchia đã lừa đảo chiếm đoạt 20 người với tổng số tiền 47.846.337.312 đồng (bốn mươi bảy tỷ tám trăm bốn mươi sáu triệu ba trăm ba mươi bảy nghìn ba trăm mười hai đồng), trong đó: trong khoảng thời gian từ tháng 11/2021 đến tháng 6/2023, Châu Văn T, Bùi Thị Bích N1, Đỗ Thị H, Huỳnh Chí D, Nguyễn Thị Kim C1, Bùi Quang K1, Trần Thế S, Phạm Thanh T3, Bùi Thị H2, Trần Minh T6, Nguyễn Văn H3 tham gia làm việc cho tổ chức lừa đảo tại Campuchia với nhiệm vụ được giao là tạo lập, duy trì các tài khoản mạng xã hội (tài khoản ảo), chạy quảng cáo, tìm kiếm, tương tác, chăm sóc khách hàng, phiên dịch, hướng dẫn, lôi kéo người khác nộp tiền đầu tư, tạo điều kiện cho tổ chức do các đối tượng người Trung Quốc cầm đầu lừa đảo 16 người gồm: Nguyễn Văn D4, Trương Đình H17, Lê Hoàng T28, Trần Quế L5, Nguyễn Đức T14, Nguyễn Quý T31, Đào Văn L6, Mai Kỳ N16, Nguyễn Năng K6, Nguyễn Ngọc Thái S1, Nguyễn Quốc K7, Ngô Minh Đ3, Lê Hồng T37, Bế Văn Đ4, Nguyễn Văn N20, Bùi Đắc T38 chiếm đoạt của họ tổng số tiền 31.841.694.098 đồng (ba mươi mốt tỷ tám trăm bốn mươi mốt triệu sáu trăm chín mươi bốn nghìn không trăm chín mươi tám đồng).

Dưới sự chỉ đạo của các đối tượng cầm đầu tổ chức tội phạm rửa tiền tại Malaysia, Hồ Thanh T8 đã mua bán khoảng 200 thông tin tài khoản ngân hàng, cho thuê và thuê trụ sở để tổ chức này lắp đặt thiết bị máy tính để thực hiện hành vi rửa tiền qua đó thu lợi bất chính 500.000.000 đồng; giới thiệu, tuyển dụng Khương Thuận P2, Hồ Phi H7 tham gia quản lý, tàng trữ 397 thông tin tài khoản ngân hàng tại các địa điểm đã thuê để các đối tượng người Malaysia thực hiện hành vi luân chuyển, che giấu nguồn gốc để hợp pháp hoá dòng tiền cho các tổ chức tội phạm.

Hồ Thanh T8, Khương Thuận P2, Hồ Phi H7, Phạm Thị Thùy D2, Teh Jian H13 và Loh C đã tham gia lắp đặt, kết nối, quản lý, cấp nguồn thường xuyên cho hệ thống máy tính, điện thoại nhằm duy trì kết nối internet và hoạt động của các ứng dụng tài khoản ngân hàng trên điện thoại di động để luân chuyển dòng tiền bất hợp pháp phục vụ tội phạm rửa tiền qua 04 tài khoản ngân hàng với số tiền 4.915.839.526 đồng (bốn tỷ chín trăm mười lăm triệu tám trăm ba mươi chín ngàn năm trăm hai mươi sáu đồng) do tổ chức lừa đảo tại Campuchia chiếm đoạt của các bị hại trong quá trình kêu gọi đầu tư trên sàn RosyStyle. Về hành vi “Rửa tiền” của bị cáo Hồ Thanh T8 người bào chữa cho bị cáo cho rằng tại thời điểm bị cáo và các bị cáo trong vụ án này thực hiện các hành vi giúp sức cho người nước ngoài để rửa tiền thì các khoản tiền này chưa được coi là bất hợp pháp vì tiền của các bị hại chưa sử dụng vào việc trái pháp luật; bị cáo Hồ Thanh T8 và Khương Thuận P2 không biết việc làm của mình như thuê nhà cho các đối tượng người Malaysia, thuê tài khoản ngân hàng, quản lý máy tính và điện thoại kết nối với các tài khoản…là hành vi rửa tiền, vì các đối tượng cầm đầu không nói cho các bị cáo biết mà do các bị cáo lầm tưởng các đối tượng người Malaysia mở công ty game nên đồng ý giúp. Qua xem xét thấy rằng, Hồ Thanh T8 và các bị cáo khác trong nhóm phạm tội “Tàng trữ, mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” và “Rửa tiền” đóng vai trò đồng phạm giúp sức nên không buộc phải đặt ra hoặc biết trước động cơ mục đích phạm tội mà do các đối tượng cầm đầu đề ra. Trong vụ án này, các đối tượng cầm đầu thực hiện hành vi rất quy mô bằng việc ở Malaysia nhưng thuê địa điểm ở Việt Nam rồi mua máy tính và các thiết bị kết nối internet, mua hàng trăm điện thoại, thuê, mua hàng trăm tài khoản ngân hàng nhưng không làm thủ tục thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh theo pháp luật Việt Nam mà hoạt động lén lút, bất thường, do vậy, các bị cáo sau khi làm việc buộc phải biết tính chất công việc mình đang làm cho các đối tượng này để lựa chọn có tiếp tục làm hay không. Tuy nhiên, các bị cáo vẫn thực hiện hành vi và đã giúp cho các đối tượng người Malaysia là Lim Kie Siang, Kennet Hew C thực hiện hành vi rửa tiền cho các nhóm tội phạm thực hiện tội phạm nguồn, trong đó có 04 tài khoản đã luân chuyển 4.915.839.526 do tổ chức tội phạm ở Campuchia lừa đảo của các bị hại trong vụ án này. Về nguồn gốc số tiền: xác định ngay sau khi số tiền các đối tượng lừa đảo của các bị hại rời khỏi tài khoản của các bị hại chuyển vào tài khoản của các đối tượng rửa tiền thì đã trở thành tài sản do phạm tội mà có, do đó, được coi là các khoản tiền bất hợp pháp. Như vậy, quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Hồ Thanh T8 và Khương Thuận P2 là không có căn cứ để chấp nhận.

Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2025/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã tuyên các bị cáo về tội danh, điều luật và khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ của các bị cáo; Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ; quyền được bảo vệ thông tin tài khoản ngân hàng của cá nhân; xâm hại trật tự công cộng, trật tự quản lý tài chính, tiền tệ, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, an ninh kinh tế và trật tự an toàn xã hội.

[2.2] Về quá trình nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo đều có quá trình nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Các bị cáo trong nhóm phạm tội lừa đảo phạm tội nhiều lần, do đó, phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo đều khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối cải, quá trình điều tra đã tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra khai ra các đối tượng khác và các phương thức, thủ đoạn chiếm đoạt tiền của bị hại, được Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đề nghị nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Hồ Thanh T8 và bị cáo Bùi Thị H2 phạm tội trong thời kỳ mang thai nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Hồ Thanh T8, Phạm Thị Thùy D2 tự nguyện giao nộp số tiền còn có trong tài khoản ngân hàng để khắc phục hậu quả (tài khoản của T8 có 21.096.974 đồng, của D2 26.601.009 đồng), bị cáo Huỳnh Chí D tác động để gia đình nộp 10.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, bị cáo Nguyễn Văn H3 tác động để gia đình nộp số tiền 76.088.100 đồng để khắc phục hậu quả, do vậy, các bị cáo này được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Hồ Phi H7 đã lập công chuộc tội tích cực hợp tác, góp công quan trọng trong việc giúp cơ quan điều tra phát hiện, bắt giữ, khởi tố 02 đối tượng người Malaysia là Teh J và Loh C, khi các bị cáo này nhập cảnh vào Việt Nam để kiểm tra, bảo trì hệ thống máy móc, thiết bị phục vụ tội phạm rửa tiền, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Châu Văn T có bố là thương binh trong kháng chiến chống Mỹ; bị cáo Nguyễn Thị Kim C1 có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh về việc gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn và con của bị cáo C1 là cháu Nhựt P9 có bệnh khuyết tật trí tuệ; bị cáo Đỗ Thị H có con là cháu Nguyễn Đình T44 có bệnh khuyết tật trí tuệ (có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh); bị cáo Bùi Thị Bích N1 có bố là ông Bùi Đức K là thương binh loại A, nên các bị cáo Châu Văn T, Nguyễn Thị Kim C1 và Đỗ Thị H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Bùi Thị H2 có thời gian làm việc cho tổ chức tội phạm ở Campuchia không lâu, lần thứ nhất từ tháng 07/2022 đến tháng 01/2023, lần thứ hai từ 03/02 đến 28/02 năm 2023 thì nghỉ việc, bị cáo quay lại làm việc do bị giữ giấy tờ tuỳ thân, công việc là chấm công cho các đối tượng nuôi Zalo; hai bị cáo Hồ Phi H7 và Khương Thuận P2 thực hiện hành vi phạm tội thông qua giới thiệu của Hồ Thanh T8, công việc chỉ kết nối theo dõi mạng máy tính qua chỉ đạo của các đối tượng người nước ngoài, được các đối tượng trả lương thấp. Do đó, hành vi của Bùi Thị H2, Hồ Phi H7, Khương Thuận P2 đóng vai trò là đồng phạm giúp sức không đáng kể, nên cần áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt đáng kể cho các bị cáo.

[3] Xét kháng cáo các bị hại; Hội đồng xét xử thấy rằng: Án sơ thẩm đã tuyên buộc bồi thường cho các bị hại về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tịch thu tiền về “Tàng trữ, mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” và “Rửa tiền” là đúng quy định pháp luật.

[4] Từ những phân tích trên, căn cứ tính chất, mức độ, hành vi, hậu quả, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân và trách nhiệm bồi thường, biện pháp tư pháp khác; Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị hại T14, S1; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo T, N1, H, C1, T6, D, H3, K1, S1, T3, H7, P10, D2; chấp nhận kháng cáo của bị cáo H2 có chồng cùng là bị cáo trong vụ án, hiện đang có thai, bị cáo T8 có chồng Lim Kie Ken quốc tịch Malaysia (đã ly hôn) hiện có 01 con sinh năm 2022, hai bị cao Teh J, Loh C là người nước ngoài có hoàn cảnh khó khăn và sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt cho các bị cáo H2, T8, Teh J, Loh C.

[5] Theo quy định Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì các bị cáo T, N1, H, C1, T6, D, H3, K1, S1, T3, H7, P10, D2 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; còn các bị cáo H2, T8, Teh J, Loh C và các bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355 và Điều 356, 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị hại Nguyễn Đức T14, Nguyễn Ngọc Thái S1; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Châu Văn T, Bùi Thị Bích N1, Đỗ Thị H, Nguyễn Thị Kim C1, Trần Minh T6, Nguyễn Văn H3, Bùi Quang K1, Trần Thế S, Phạm Thanh T3, Hồ Phi H7, Khương Thuận P2, Phạm Thị Thùy D2; chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Thị H2, Hồ Thanh T8, Teh J, Loh C và sửa Bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điều 38; các điểm s, t khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự:

+ Phạt bị cáo Châu Văn T 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 24/6/2023.

+ Phạt bị cáo Bùi Thị Bích N1 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 24/6/2023.

+ Phạt bị cáo Đỗ Thị H 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 24/6/2023.

+ Phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim C1 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 24/6/2023.

+ Phạt bị cáo Trần Minh T6 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (từ ngày 24/6/2024).

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điều 38; các điểm b, s, t khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự:

+ Phạt bị cáo Huỳnh Chí D 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 24/6/2023.

+ Phạt bị cáo Nguyễn Văn H3 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 27/4/2024.

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điều 38; các điểm s, t khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự:

+ Phạt bị cáo Bùi Quang K1 (tên gọi khác: N5) 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

+ Phạt bị cáo Trần Thế S 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

+ Phạt bị cáo Phạm Thanh T3 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 27/4/2024.

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điều 38; các điểm n, s, t khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự: phạt bị cáo Bùi Thị H2 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

- Áp dụng các điểm a, b khoản 3 Điều 291; điểm a khoản 3 Điều 324; Điều 35; Điều 38; các điểm n, s, t khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự: phạt bị cáo Hồ Thanh T8 (tên gọi khác: Anna H5) 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” và 05 (năm) năm tù về tội “Rửa tiền”. Thời hạn chấp hành hình phạt tiền tính từ khi bản án có hiệu lực pháp luật; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ đi thời gian bị bắt tạm giam từ ngày 21/7/2023 đến ngày 14/12/2023.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 291; điểm a khoản 3 Điều 324; Điều 38; các điểm u, s, t khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 55 Bộ luật Hình sự: phạt bị cáo Hồ Phi H7 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” và 04 (bốn) năm tù về tội “Rửa tiền”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội, buộc bị cáo Hồ Phi H7 phải chấp hành hình phạt 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 291; điểm a khoản 3 Điều 324; Điều 38; các điểm s, t khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự: phạt bị cáo Khương Thuận P2 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” và 04 (bốn) năm tù về tội “Rửa tiền”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội, buộc bị cáo Khương Thuận P2 phải chấp hành hình phạt 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 324; Điều 38; các điểm s, t khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự: phạt bị cáo Phạm Thị Thùy D2 05 (năm) năm tù, được trừ đi thời gian bị bắt tạm giam trước đây (từ ngày 21/7/2023 đến ngày 15/3/2024). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 324; Điều 38; các điểm s, t khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự:

+ Phạt bị cáo Teh Jian H13 (tên gọi khác: A H8) 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 23/7/2023.

+ Phạt bị cáo Loh Choon H14 (tên gọi khác: I) 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 23/7/2023.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: Mỗi bị cáo Châu Văn T, Bùi Thị Bích N1, Đỗ Thị H, Nguyễn Thị Kim C1, Trần Minh T6, Nguyễn Văn H3, Bùi Quang K1, Trần Thế S, Phạm Thanh T3, Hồ Phi H7, Khương Thuận P2, Phạm Thị Thùy D2 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm phải chịu 200.000 đồng; còn các bị cáo Bùi Thị H2, Hồ Thanh T8, Teh J, Loh C và các bị hại Nguyễn Đức T14, Nguyễn Ngọc Thái S1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ