vanban.org

Bản án 33/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ đơn yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim P đối với ông Trương Tấn Đ.

Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Kim P với ông Trương Tấn Đ. Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim P với ông Trương Tấn Đ chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án tranh chấp ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Kim P với ông Trương Tấn Đ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ đơn yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim P đối với ông Trương Tấn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BĐ, TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18/4/2025
V/v “Ly hôn giữa bà P với ông Đ”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BĐ, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phi.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Minh Quang.

2. Bà Đào Thị Tuyết Mai.

- Thư ký phiên Tòa: Ông Lê Minh Trọng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phan Hoàng Quí - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 582/2024/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 89/2025/QĐST–HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

* N1 đơn: Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1984 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 2, xã BT, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.

Bà P có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 24/02/2025.

* Bị đơn: Trƣơng Tấn Đ, sinh năm 1983 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 2, xã BT, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 07/10/2024, bản tự khai ngày 24/02/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, N1 đơn Nguyễn Thị Kim P trình bày:

Bà Nguyễn Thị Kim P và ông Trương Tấn Đ tiến tới hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, cưới nhau vào năm 2019 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BT, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre. Sau khi cưới, thời gian đầu, vợ chồng sống chung có hạnh phúc nhưng đến tháng 01/2020 thì phát sinh mâu thuẫn, N1 nhân do vợ, chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cự cải nhau và đã ly thân từ tháng 01 năm 2020 cho đến nay. Hiện tại, tình cảm vợ chồng không còn, nên bà Nguyễn Thị Kim P yêu cầu ly hôn với ông Trương Tấn Đ.

Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên là Trương Trọng N, sinh ngày 29/6/2012, Trương Ngọc Kim N1, sinh ngày 28/10/2016. Hiện nay, cháu N và cháu N1 đang sống chung với bà P. Sau khi ly hôn, bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, cháu N1 và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

* Đối với bị đơn Trương Tấn Đ trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông Đ đều vắng mặt không có lý do, mặc dù ông Đ vẫn còn đang sinh sống tại địa phương, nên không thu thập được lời khai, yêu cầu của ông Đ.

* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre tham gia phiên Tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Thẩm phán thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự trong quá trình xét xử sơ thẩm vụ án. N1 đơn Nguyễn Thị Kim P thực hiện quyền và N vụ đúng theo quy định tại điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, tuy nhiên bị đơn Trương Tấn Đ không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, vắng mặt tại phiên tòa là vi phạm khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim P đối với ông Trương Tấn Đ.

Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Kim P được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Trương Trọng N, sinh ngày 29/6/2012; Trương Ngọc Kim N1, sinh ngày 28/10/2016 (Phù hợp với nguyện vọng của các con chung trên 07 tuổi).

Ghi nhận sự tự N1 của bà P không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà P yêu cầu để hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Đ không có ý kiến, yêu cầu gì nên không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Bà P khai không có, ông Đ không có ý kiến, yêu cầu gì nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, N1 đơn Nguyễn Thị Kim P có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Bị đơn Trương Tấn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Bà P và ông Đ cưới nhau vào năm 2009, trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BT, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre nên quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông Đ được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hàn gắn được. Hiện tại, ai cũng có cuộc sống riêng, không quan tâm đến nhau. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, biên bản xác minh tại chính quyền địa phương, cũng như lời khai của bà P trong quá trình giải quyết vụ án xác định cuộc sống vợ, chồng giữa bà P với ông Đ đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, N1 nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cự cải nhau, cuộc sống hôn nhân rơi vào tình trạng nghiêm trọng và đã ly thân từ tháng 01 năm 2020 cho đến nay. Toà án đã triệu tập bà P với ông Đ để hoà giải, nhằm tạo điều kiện cho hai bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ, chồng nhưng ông Đ vắng mặt không lý do, đồng thời bà P cũng có yêu cầu xét xử vắng mặt. Điều đó cho thấy hai bên đã không còn quan tâm và không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với nhau. Từ đó, đủ cơ sở để xác định cuộc sống vợ chồng giữa bà P với ông Đ đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không Đ được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà P là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con chung: Cháu Trương Trọng N, sinh ngày 29/6/2012, Trương Ngọc Kim N1, sinh ngày 28/10/2016 đã sống chung với bà P từ nhỏ, bà P chăm sóc cháu N, cháu N1 phát triển bình thường. Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cháu Trương Trọng N, cháu Trương Ngọc Kim N1 để bà P trực tiếp nuôi dưỡng nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường của trẻ, phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà P không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà P yêu cầu để hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Đ không có ý kiến, yêu cầu gì nên không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Bà P khai không có, ông Đ không có ý kiến yêu cầu gì nên không xem xét, giải quyết.

Đối với lời trình bày của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện BĐ về quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật cũng như nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bà Nguyễn Thị Kim P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 107, 116, 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ đơn yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim P đối với ông Trương Tấn Đ.

Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Kim P với ông Trương Tấn Đ.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim P với ông Trương Tấn Đ chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Kim P được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Trọng N, sinh ngày 29/6/2012, Trương Ngọc Kim N1, sinh ngày 28/10/2016 (Phù hợp với nguyện vọng của các con chung trên 07 tuổi).

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Kim P không yêu cầu ông Trương Tấn Đ cấp dưỡng nuôi con.

Ông Trương Tấn Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, N vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Bà Nguyễn Thị Kim P trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Trương Tấn Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

4. Về nợ chung: Không có nên không xem xét, giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Kim P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà P đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006884 ngày 06 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.

Như vậy, bà Nguyễn Thị Kim P đã nộp đủ án phí.

Các đương sự bà Nguyễn Thị Kim P, ông Trương Tấn Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Cỡ chữ