vanban.org

Bản án 33/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Lê Tùng L. Quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thị N và anh Lê Tùng L chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Giao con chung cháu Lê Tuấn A, sinh ngày 25/4/2022 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Lê Tùng L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lê Tùng L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Lê Tùng L. Quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thị N và anh Lê Tùng L chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________________________________
Bản án số: 33/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26- 6 - 2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Sầm Thị Tươi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Trọng Trung và bà Vũ Thị Hồng Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tráng Kháy Phìn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Nông Thị Mới - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 2002.

Địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn K8, xã Bản Phiệt, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Nơi ở: Thôn Là 1, xã Võ Lao, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Lê Tùng L, sinh năm 2000.

Địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

3. Người làm chứng: Bà Lê Thu H, sinh năm 1977

Địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 4 năm 2025; bản tự khai ngày 29 tháng 4 năm 2025; quá trình giải quyết vụ, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh Lê Tùng L tự nguyện về chung sống với nhau như vợ chồng từ đầu năm 2021, không đăng ký kết hôn. Đến ngày 06/12/2021, anh chị đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai. Anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn dẫn đến tình trạng vợ chồng thường xuyên cãi, chửi nhau, đánh nhau, vợ chồng không còn tôn trọng nhau trong cuộc sống. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không thể hòa hợp được, vợ chồng không có tiếng nói chung trong làm ăn, xây dựng kinh tế gia đình. Mâu thuẫn của vợ chồng chị mặc dù đã được hai bên gia đình nội, ngoại và thôn bản hòa giải nhiều lần nhưng không thể hàn gắn được. Đến nay chị N nhận thấy, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Tùng L.

- Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng chị có một người con chung là cháu Lê Tuấn A, sinh ngày 25/4/2022. Hiện nay cháu Tuấn A đang ở cùng với chị N. Khi ly hôn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Về điều kiện nuôi con khi ly hôn: Chị N nghề nghiệp là tự do, thu nhập được 6.000.000 đồng/tháng; mức nuôi dưỡng con chung của anh chị là 1.000.000 đồng/tháng nên chị N đủ điều kiện nuôi con khi ly hôn.

- Về tài sản và công nợ chung: Quá trình chung sống, vợ chồng chị N không có tài sản chung, không vay nợ ai, không cho ai vay nợ gì nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn đã giao nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp.

2. Đối với bị đơn anh Lê Tùng L: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng cho anh Lê Tùng L nhưng anh Lê Tùng L không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N; không có mặt theo giấy triệu tập, không đến Tòa án giải quyết vụ án, vắng mặt không có lý do tại phiên họp; phiên tòa.

Quá trình giải quyết vụ án, chị N đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án nên Tòa án đã lập biên bản không tiến hành hòa giải được về quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng con chung theo quy định của pháp luật.

3. Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, cụ thể: Thẩm quyền thụ lý vụ án, mối quan hệ tranh chấp đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39; xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68; xác minh, thu thập chứng cứ, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng quy định tại các điều từ Điều 93 đến Điều 97. Trình tự thụ lý, giao nhận thông báo thụ lý cho đương sự và cho Viện kiểm sát đúng quy định tại Điều 195, 196. Thời hạn chuẩn bị xét xử thực hiện đúng quy định tại Điều 203. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72 BLTTDS.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 229, Điều 238, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, giải quyết theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Lê Tùng L.

- Về con chung: Giao cháu Lê Tuấn A cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Lê Tùng L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.

Yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phân tích, đánh giá, nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” với anh Lê Tùng L có địa chỉ nơi cư trú: Thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn. Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, người làm chứng vắng mặt. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người làm chứng là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; Khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị N và anh Lê Tùng L là hợp pháp. Chị N và anh Lê Tùng L tự nguyện về chung sống với nhau như vợ chồng từ đầu năm 2021, không đăng ký kết hôn. Đến ngày 06/12/2021, anh chị đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai. Anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn dẫn đến tình trạng vợ chồng thường xuyên cãi, chửi nhau, đánh nhau, vợ chồng không còn tôn trọng nhau trong cuộc sống. Nguyên nhân do vợ chồng kết hôn với nhau khi còn quá trẻ nên chưa biết chăm lo, vun vén hạnh phúc gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không thể hòa hợp được, vợ chồng không có tiếng nói chung trong làm ăn, xây dựng kinh tế gia đình. Từ cuối năm 2023, anh chị đã sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau nữa. Mâu thuẫn của vợ chồng mặc dù đã được hai bên gia đình và thôn bản hòa giải nhiều lần nhưng không thể hàn gắn được. Đến nay chị N nhận thấy, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Tùng L. Mâu thuẫn vợ chồng anh N và chị L đã được mẹ đẻ của anh L là bà Lê Thu H và chính quyền địa phương xác nhận. Đối với anh Lê Tùng L đã trực tiếp nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có bất kỳ ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị N mà bỏ mặc, thờ ơ trước tình trạng hôn nhân của vợ chồng. Như vậy, tình trạng hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh L là có căn cứ nên Hội đồng xét xử cần căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Lê Tùng L.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị Nguyễn Thị N và anh Lê Tùng L có một người con chung là cháu Lê Tuấn A, sinh ngày 25/4/2022. Hiện nay cháu Tuấn A đang ở cùng với chị N. Khi ly hôn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Kết quả xác minh tại địa phương cho thấy, chị Nguyễn Thị N là lao động tự do, thu nhập được khoảng 6.000.000 đồng/tháng; tại địa phương mức nuôi dưỡng cháu Lê Tuấn A là 1.000.000 đồng/tháng nên chị N đủ điều kiện nuôi con khi ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu Lê Tuấn A cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và công nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; Khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Lê Tùng L. Quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thị N và anh Lê Tùng L chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao con chung cháu Lê Tuấn A, sinh ngày 25/4/2022 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Lê Tùng L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004264 ngày 29/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Chị Nguyễn Thị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

5. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Sầm Thị Tươi

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh Lào Cai;

- VKSND huyện Văn Bàn (2);

- CCTHADS huyện Văn Bàn;

- UBND xã Võ Lao,

huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai;

- Lưu: HS, THS (3).

Sầm Thị Tươi

Cỡ chữ