- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Ngọc T - Nguyễn Thanh H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2025/HNGĐ-ST Ngày 28 - 8 - 2025 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Hiệp.
2. Bà Nguyễn Hồng Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 118/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025; về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2025/QĐST-DS ngày 04 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Ấp H, xã H, thành phố Cần Thơ. (có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Ấp H, xã H, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/5/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Ngọc T trình bày: Nguyên năm 2020, bà Nguyễn Ngọc T với ông Nguyễn Thanh H xây dựng hôn nhân có đăng ký kết hôn và được UBND xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã H, thành phố Cần Thơ) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 51 ngày 05/8/2020. Trong quá trình chung sống ông bà chưa có con chung, không có tài sản chung, không có nợ chung và cũng không có người khác nợ vợ chồng. Trong thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cải vã và bất đồng trong cuộc sống, ông Nguyễn Thanh H không chăm sóc vợ con nên vợ chồng không còn chung sống từ năm 2024 cho đến nay.
Nay bà Nguyễn Ngọc T nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống nên yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc T xin được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H.
- Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung, người khác nợ vợ chồng: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn Nguyễn Thanh H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án só 118/2025/TB-TLVA ngày 03/6/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ nên ông Nguyễn Thanh H cũng đã biết nội dung, căn cứ khởi kiện và những vấn đề bà Nguyễn Ngọc T yêu cầu Tòa án giải quyết, nhưng ông Nguyễn Thanh H không có văn bản trả lời theo Toà án ấn định. Đồng thời, Tòa án đã triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn không tham gia.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn xin vắng mặt và không có ý kiến khác nên xem như giữ nguyên nội dung đơn yêu cầu khởi kiện.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ và chấp hành đúng pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đồng thời, phát biểu quan điểm về tính có căn cứ và hợp pháp của yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, theo phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[I] Về tố tụng:
[1] Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn Nguyễn Ngọc T yêu cầu Tòa án giải quyết xin được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H; con chung, tài sản chung, nợ chung, người khác nợ vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi thụ lý vụ án, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Trong vụ án bị đơn Nguyễn Thanh H cư trú tại ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp H, xã H, thành phố Cần Thơ). Do vậy, Toà án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ thụ lý, xét xử vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Nguyễn Ngọc T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn Nguyễn Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm mà vẫn vắng mặt không lý do và không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vụ án.
[II] Về nội dung:
[1] Nguyên đơn Nguyễn Ngọc T và bị đơn Nguyễn Thanh H chung sống và kết hôn với nhau là trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc, được UBND xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã H, thành phố Cần Thơ) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 51 ngày 05/8/2020, nên quan hệ hôn nhân giữa bàNguyễn Ngọc T với ông Nguyễn Thanh H là hợp pháp. Sau khi kết hôn ông bà chung sống hạnh phúc nhưng chưa có con chung, theo bà Nguyễn Ngọc T trong thời gian chung sống sau này vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cải vã và bất đồng trong cuộc sống nên đời sống hôn nhân lạnh nhạt, không còn chung sống vợ chồng từ năm 2024 cho đến nay. Bị đơn Nguyễn Thanh H tuy không có ý kiến và không tham gia tố tụng nhưng biết về nội dung khởi kiện và yêu cầu của nguyên đơn mà không phản đối.
[2] Theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình “Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn...; Cá nhân thực hiện quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ luật này, Luật hôn nhân và gia đình...” và theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”. Do đó, bà Nguyễn Ngọc T hoặc bà Nguyễn Ngọc T cùng ông Nguyễn Thanh H có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn, nên ngày 05/5/2025 bà Nguyễn Ngọc T tự mình gửi đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H là phù hợp theo quy định pháp luật.
[3] Theo nguyên đơn Nguyễn Ngọc T thì trong thời gian chung sống sau này vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cải vã và bất đồng trong cuộc sống, ông Nguyễn Thanh H không quan tâm, chăm lo cho vợ con nên đời sống hôn nhân lạnh nhạt, không còn chung sống vợ chồng từ năm 2024 cho đến nay. Xét thấy, thời gian bà Nguyễn Ngọc T và ông Nguyễn Thanh H không còn chung sống vợ chồng tính đến thời điểm khởi kiện và xét xử sơ thẩm là đã nhiều tháng và mâu thuẫn vợ chồng đã phát sinh trong thời gian chung sống và cũng đã kéo dài, đến mức trầm trọng, làm cho cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân cũng không đạt được, tình cảm vợ chồng thật sự đã hết và về tương lai cũng không thể hàn gắn được, nếu duy trì quan hệ hôn nhân sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của các bên, nay bà Nguyễn Ngọc T cương quyết ly hôn với ông Nguyễn Thanh H. Do đó, theo bà Nguyễn Ngọc T yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H là có căn cứ và phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp.
[4] Về con chung: Chưa có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ lại, theo bà Nguyễn Ngọc T xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu sau này có phát sinh và tranh chấp thì sẽ khởi kiện, giải quyết theo quy định pháp luật.
[6] Từ những phân tích và nhận định như đã nêu trên, theo yêu cầu khởi kiện nguyên đơn là có căn cứ, nên được chấp nhận.
[7] Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, nên được chấp nhận.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân theo mức án phí không giá ngạch theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; theo hướng dẫn tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc T.
- Về quan hệ hôn nhân: Đồng ý cho bà Nguyễn Ngọc T và ông Nguyễn Thanh H được ly hôn.
- Về con chung: Không có và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ lại: Theo bà Nguyễn Ngọc T không có và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Ngọc T phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0001734 ngày 03/6/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ (khu vực 8). Như vậy, bà Nguyễn Ngọc T đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
3. Báo các đương sự biết, án xử sơ thẩm công khai có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại UBND cấp xã nơi cư trú) để xin Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND khu vực 8; - THADS tp Cần Thơ - khu vực 8; - Lưu hồ sơ vụ án . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Toàn |