- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Q - Đinh Văn H"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 243, 244, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Đ…
- Căn cứ chính? Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2025/HNGĐ-ST Ngày: 05/9/2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Chương, ông Đoàn Xuân Toàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hà Tĩnh.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Ngọc
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Hà Tĩnh.
Ngày 05/9/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hà Tĩnh, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 50/2025/HNGĐ-ST, ngày 30/7/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 19/8/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Q, sinh ngày 07/11/1988; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Chổ ở hiện tại: Thôn H, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt);
Bị đơn: Anh Đinh Văn H, sinh ngày 10/9/1987; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx. Nơi ĐKHKTT và chổ ở hiện nay: Thôn H, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai có tại hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa chị Lê Thị Q trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đinh Văn H kết hôn với nhau vào ngày 12/9/2014 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh (Nay là xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh). Sau khi kết hôn chị và anh H chung sống hạnh phúc nhưng thời gian gần đây vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H nghi ngờ, ghen tuông. Chị đã cố gắng hòa hợp gắn bó nhưng về tính cách, lối sống giữa vợ chồng khác nhau, hai bên bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra xích mích cãi vã và cả đánh đập nhau. Hiện tại, vì không chịu được áp lực trong hôn nhân nên chị đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Nay chị xác định giữa chị và anh H hạnh phúc hôn nhân không tồn tại trên thực tế nữa nên xin được ly hôn để đảm bảo cuộc sống của hai bên.
- Về quan hệ con chung: Quá trình hôn nhân giữa chị và anh Đinh Văn H có 02 con chung: Đinh Lê Hoàng N, sinh ngày 03/11/2015, Đinh Lê Đăng K, sinh ngày 21/11/2019. Tại nội dung khởi kiện, chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng các con chung đến tuổi trưởng thành và yêu cầu anh Đinh Văn H đóng góp cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 2.000.000đ. Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên hòa giải ngày 19/8/2025 và tại phiên tòa chị Q trình bày vì anh H cũng có nguyện vọng nuôi con nên chị thay đổi ý kiến về con chung đề nghị Tòa án giải quyết mỗi người được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 01 con chung, không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng, chị nuôi cháu nào cũng được vì các con chị đều yêu thương như nhau.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Đinh Văn H trình bày: Anh và chị Q đăng ký kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp không ai ép buộc. Trong cuộc sống chung vợ chồng không tránh khỏi mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ vượt quá giới hạn bạn bè với người khác giới, thường xuyên hò hẹn và nhắn tin cả đêm, đặc biệt còn dẫn hai con đi cùng, và lôi kéo bạn tình về nhà ăn cơm. Khi xảy ra sự việc anh đã báo cho ông bà ngoại nhưng đều bị bác bỏ. Vợ chồng có mâu thuẫn về tình cảm thời gian gần đây anh cũng đã cố gắng níu kéo đề nghị vợ suy nghĩ lại và xin lỗi về những sự việc đã xảy ra. Nhưng chị Q không chấp nhận mà vẫn giữ nguyên ý kiến ly hôn nên trước đây anh không đồng ý ly hôn nhưng tại phiên tòa hôm nay anh cũng nhất trí ly hôn.
Về quan hệ con chung: Anh thống nhất như ý kiến trình bày của chị Lê Thị Q, vợ chồng có 02 con chung: Đinh Lê Hoàng N, sinh ngày 03/11/2015, Đinh Lê Đăng K, sinh ngày 21/11/2019, hiện tại các con đang sống cùng anh. Trước đó, anh không đồng ý giao con chung cho chị Q chăm sóc nuôi dưỡng, Nhưng tại phiên tòa anh xét thấy mỗi người nuôi một con chung là phù hợp, anh thống nhất ý kiến của chị Q anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đăng K còn chị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng N. Hai bên không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Hà Tĩnh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 244; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án xử cho chị Lê Thị Q được ly hôn với anh Đinh Văn H. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện giữa các đương sự: Giao con chung Đinh Lê Hoàng N, sinh ngày 03/11/2015 cho chị Lê Thị Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi); Giao con chung Đinh Lê Đăng K, sinh ngày 21/11/2019 cho anh Đinh Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi); Hai bên không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Chấp nhận việc tự nguyện rút yêu cầu và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị Lê Thị Q. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét. Chị Q phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Đinh Văn Hải đăng K1 hộ khẩu thường trú, nơi cư trú tại thôn H, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ pháp luật: Xét đơn khởi kiện của chị Lê Thị Q yêu cầu được ly hôn anh Đinh Văn H và yêu cầu được nuôi con chung, do đó xác định đây là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Q và anh Đinh Văn H đã tuân thủ các điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 12/9/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh (Nay là xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh). Căn cứ quy định về điều kiện kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian gần đây giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do nghi ngờ, ghen tuông, cuộc sống chung vợ chồng nhiều áp lực, đã có việc đuổi đánh, chửi bới, xúc phạm lẫn nhau. Hiện tại, vợ chồng đã ly thân, chị Q chuyển về sống cùng bố mẹ đẻ. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã phân tích để hai bên cảm thông chia sẽ cùng gắn kết hạnh phúc gia đình nhưng chị Q và anh H đều thừa nhận mâu thuẫn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Từ yêu cầu của đương sự và trên cơ sở tình trạng hôn nhân thực tế của chị Lê Thị Q và anh Đinh Văn H, Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa hai người đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ Điều 51, 55 Luật Hôn nhân gia đình xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị Q với anh Đinh Văn H.
Về quan hệ con chung: Chị Lê Thị Q và anh Đinh Văn H có 02 con chung: Đinh Lê Hoàng N, sinh ngày 03/11/2015, Đinh Lê Đăng K, sinh ngày 21/11/2019. Hiện tại, các cháu đang sống cùng anh H. Chị Q làm công ty lương thu nhập từ 14.000.000 đồng đến 16.000.000 đồng/tháng, Anh H làm cơ khí thu nhập 15.000.000đ triệu đồng/tháng, cả chị Q và anh H đều có chỗ ở ổn định để chăm sóc các con, đảm bảo cuộc sống tốt để nuôi dưỡng hai con đến khi trưởng thành. Tại phiên tòa chị Q và anh H đều thống nhất thỏa thuận mỗi người nuôi một con chung, anh H nhận nuôi cháu Đăng K, chị Q nhận nuôi cháu Hoàng N. Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp. Do đó, căn cứ quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình: Ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện giữa các đương sự: Giao con chung Đinh Lê Hoàng N, sinh ngày 03/11/2015 cho chị Lê Thị Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi); Giao con chung Đinh Lê Đăng K, sinh ngày 21/11/2019 cho anh Đinh Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi); Hai bên không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về yêu cầu cấp dưỡng chị Q tự nguyện rút yêu cầu này nên căn cứ các Điều 243, 244 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận việc tự nguyện rút yêu cầu và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị Lê Thị Q.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1.Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 243, 244, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, xử:
2. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Q được ly hôn với anh Đinh Văn H.
3. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện của các đương sự: Giao con chung Đinh Lê Hoàng N, sinh ngày 03/11/2015 cho chị Lê Thị Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi); Giao con chung Đinh Lê Đăng K, sinh ngày 21/11/2019 cho anh Đinh Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi); Hai bên không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Chấp nhận việc tự nguyện rút yêu cầu và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị Lê Thị Q.
4. Về án phí: Xử buộc chị Lê Thị Q phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai số 0000036, ngày 30/7/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Tiền án phí dân sự sơ thẩm chị Lê Thị Q đã nộp đủ.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Q, anh Đinh Văn H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND Khu vực 3 - Hà Tĩnh; - THA Dân sự tỉnh Hà Tĩnh; - UBND xã Đức Thịnh (để xóa đăng ký KH); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. Hội thẩm nhân dân Phạm Hồng Chương Đoàn Xuân Toàn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Hạnh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Hạnh |