- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Hiền"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M’GAR | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐĂK LĂK Bản án số: 33/2025/HNGĐ-ST Ngày 25/6/2025 “V/v: tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M’GAR , TỈNH ĐĂK LĂK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-chủ toạ phiên toà: Ông Y Lợi Niê
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Minh Mẫn, bà Cao Thị Hồng Châu
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện CM, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 26/2025/TLST–HNGĐ, ngày 15 tháng 01 năm 2025, về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXX-ST ngày 23/5/2025 và quyết định hoãn phiên số: 21/QĐXX-ST ngày 12/6/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H – Sinh năm: 1990 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 4, xã ET, huyện CM, tỉnh DL.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu T – Sinh năm: 1988 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 4, xã ET, huyện CM, tỉnh DL
NỘI DUNG VỤ ÁN;
* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Hữu T đến với nhau trên cơ sở hai bên tự nguyện và đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 20/01/2020 tại Uỷ ban nhân dân xã ET, huyện CM, tỉnh DL.
Về tình cảm vợ chồng, lúc đầu chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên thời gian ngắn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng về quan điểm và lối sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp được với nhau nữa, dẫn đến việc vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy chị H đề nghị tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Hữu T.
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có 03 con chung là cháu cháu Nguyễn Trần Tuệ T, sinh ngày 23/5/2011, cháu Nguyễn Hoàng Thiên Ph, sinh ngày 16/5/2014 và cháu Nguyễn Trần Tuệ Nh, sinh ngày 20/6/2020, các cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường, từ khi ly thân đến nay các cháu sống cùng chị H, nguyện vọng của chị H xin được quyền trực tiếp nuôi dưỡng các cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí LHST: Chị H phải chịu theo quy định của pháp luật.
* Bị đơn anh Nguyễn Hữu T: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Toà, mặc dù Tòa án niêm yết thông báo thụ lý, phiên họp, phiên hoà giải, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên Toà cho anh T theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh T cố tình lẩn tránh, không tham gia phiên họp, phiên hoà giải và không tham gia phiên toà, vì vậy Toà án không ghi nhận được lời khai cũng như ý kiến, quan điểm của anh T.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về quan điểm giải quyết vụ án:
Đối với Thẩm phán: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015.
Đối với Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Đối với đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuy nhiên tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng; Bị đơn đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không đến Tòa án tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật mà không có lý do chính đáng.
Về nội dung: Căn cứ Điều 51, 52, 53, 54, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, cần được chấp nhận, đề nghị HĐXX xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với bị đơn là “tranh chấp về hôn nhân và gia đình”; Theo địa chỉ nguyên đơn cung cấp, cũng như kết quả xác minh thì anh Nguyễn Hữu T có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại Thôn 4, xã ET, huyện CM, tỉnh DL, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện CM, được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn có đơn xin được xét xử vắng mặt.
Đối với bị đơn: Mặc dù được Tòa án niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vẫn vắng mặt lần hai không có lý do, do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 227 và Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự để xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H với anh Nguyễn Hữu T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn hợp pháp theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình. Quá trình duy trì cuộc sống hôn nhân, giữa chị H và anh T nảy sinh nhiều mâu thuẫn mà các bên không có biện pháp hòa giải hay ý thức khắc phục. Từ năm 2023 cho đến nay, chị H và anh T đã sống ly thân với nhau. Nay chị H khẳng định tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại biên bản xác minh ngày 03/4/2025 tại Thôn 4, xã ET, huyện CM thì thể hiện về tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh T hiện nay có những mâu thuẫn gia đình và vợ chồng đã sống ly thân, về tình hình cư trú thì anh T vẫn còn sinh sống tại địa phương nhưng cố tình lẩn tránh, không hợp tác. Vì vậy xét thấy yêu cầu ly hôn của chị H là chính đáng nên cần chấp nhận.
[3.2] Về con chung: Từ khi ly thân đến nay cháu Nguyễn Trần Tuệ T, Nguyễn Hoàng Thiên Ph và Nguyễn Trần Tuệ Nh do chị H trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, chị H có nguyện vọng được quyền trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc các cháu, đồng thời cháu T và Ph cũng có nguyện vọng được ở với mẹ nên cần tiếp tục giao cháu cả ba cháu cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý.
[3.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết
[3.4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đề cập xem xét giải quyết.
[3.5] Về án phí: Nguyên đơn chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng: Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T
- Về con chung: Giao các cháu Nguyễn Trần Tuệ T, sinh ngày 23/5/2011, cháu Nguyễn Hoàng Thiên Ph, sinh ngày 16/5/2014 và cháu Nguyễn Trần Tuệ Nh, sinh ngày 20/6/2020 cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con chưa thành niên Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có đương sự yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp tiền tạm ứng án phí theo số AA/2023/0008188 ngày 07/01/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện CM, tỉnh DL.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND,VKSND tỉnh Đăk Lăk;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện CM;
- Chi cục THADS huyện CM;
Đã ký
- Các đương sự;
- UBND xã ET;
- Lưu hồ sơ, văn thư lưu trữ.
Y Lợi Niê
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND,VKSND tỉnh Đăk Lăk;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện CM;
- Chi cục THADS huyện CM;
- Các đương sự;
- UBND xã Cuôr Đăng;
- Lưu hồ sơ, văn thư lưu trữ.
Y Lợi Niê Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND,VKSND tỉnh Đăk Lăk;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện CM;
- Chi cục THADS huyện CM;
- Các đương sự;
- UBND xã Quảng Tiến;
- Lưu hồ sơ, văn thư lưu trữ.
Y Lợi Niê Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND,VKSND tỉnh Đăk Lăk;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện CM;
- Chi cục THADS huyện CM;
- Các đương sự;
- UBND xã Ea Kuêh;
- Lưu hồ sơ, văn thư lưu trữ.
Y Lợi Niê
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND,VKSND tỉnh Đăk Lăk; TÒA - VKSND huyện CM; - Chi cục THADS huyện CM; - Các đương sự; - UBND xã Ea Kuêh; - Lưu hồ sơ, văn thư lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN Y Lợi Niê |