vanban.org

Bản án 33/2025/HNGĐ-ST — Tranh chấp về hôn nhân gia đình trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Trần Thị Tú A với bị đơn Ông Phạm Văn T:

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa Bà Trần Thị Tú A và Ông Phạm Văn T. Về con chung: Giao cháu Phạm Nhật C (sinh ngày 9-02-2014) cho Bà Trần Thị Tú A tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đã thành niên; Ông Phạm Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hôn nhân gia đình trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng — án hôn nhân và gia đình — "không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Trần Thị Tú A với bị đơn Ông Phạm Văn T:
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN X
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HNGĐ-ST
Ngày 24-3-2025
V/v không công nhận quan hệ vợ
chồng, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nhẫn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Văn Hiệp

Bà Nguyễn Hồng Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện X, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số thụ lý số: 02/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025 về việc không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Tú A, sinh năm 1989; địa chỉ nơi cư trú: Ấp V, xã G, huyện X, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1990; địa chỉ nơi cư trú: Ấp V, xã G, huyện X, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 30-12-2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn Bà Trần Thị Tú A trình bày cho rằng năm 2012 Bà Trần Thị Tú A và Ông Phạm Văn T chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Bà Trần Thị Tú A và Ông Phạm Văn T chung sống thường xuyên phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, cuộc sống chung không hạnh phúc. Thời gian chung sống giữa Bà Trần Thị Tú A và Ông Phạm Văn T có 01 người con chung tên Phạm Nhật C (sinh ngày 9-02-2014) hiện đang sống với Bà Trần Thị Tú A. Về tài sản chung, nợ chung giữa Bà Trần Thị Tú A và Ông Phạm Văn T không có. Nay Bà Trần Thị Tú A yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng với Ông Phạm Văn T. Về con chung tên Phạm Nhật C, Bà Trần Thị Tú A yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu Ông Phạm Văn T cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung, nợ chung Bà Trần Thị Tú A trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn Ông Phạm Văn T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gửi đến Tòa án.

Tại phiên tòa, Bà Trần Thị Tú A giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện, Ông Phạm Văn T vắng mặt không có lý do; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện X phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã chấp hành các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn vắng mặt chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về hôn nhân tuyên không công nhận quan hệ vợ chồng giữa Bà Trần Thị Tú A và Ông Phạm Văn T; về con chung, giao cháu Phạm Nhật C cho Bà Trần Thị Tú A tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi, dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho Ông Phạm Văn T không ai được quyền ngăn cản; về cấp dưỡng cho con chung, tài sản chung, nợ chung không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét; tuyên án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Yêu cầu khởi kiện của Bà Trần Thị Tú A là vụ án hôn nhân và gia đình về “không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp nuôi con” theo quy định khoản 1, 8 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 7 Điều 3, khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; bị đơn Ông Phạm Văn T cư trú Ấp V, xã G, huyện X, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện X thụ lý, xét xử sơ thẩm theo quy định điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên tòa, Ông Phạm Văn T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt Ông Phạm Văn T.

Về hôn nhân: Bà Trần Thị Tú A trình bày Bà Trần Thị Tú A và Ông Phạm Văn T chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn. Tại Đơn xin xác nhận đề ngày 30-12-2024, Uỷ ban nhân dân xã G, huyện X, tỉnh Sóc Trăng xác nhận qua kiểm tra cơ sở dữ liệu hộ tịch tại Uỷ ban nhân dân xã G không có thông tin kết hôn của Bà Trần Thị Tú A. Xét thấy, việc chung sống với nhau như vợ chồng giữa Bà Trần Thị Tú A và Ông Phạm Văn T từ năm 2012 đến nay mà không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Vì vậy, Bà Trần Thị Tú A yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa Bà Trần Thị Tú A và Ông Phạm Văn T là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà Trần Thị Tú A trình bày bà và Ông Phạm Văn T có một con chung tên Phạm Nhật C (sinh ngày 9-02-2014) hiện đang sống cùng với bà, nay Bà Trần Thị Tú A yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến thành niên và không yêu cầu Ông Phạm Văn T cấp dưỡng cho con; Ông Phạm Văn T không có ý kiến gì về vấn đề con chung gửi đến Toà án; cháu Phạm Nhật C có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng mẹ ruột là Bà Trần Thị Tú A. Xét thấy, cần tiếp tục giao cháu Phạm Nhật C cho Bà Trần Thị Tú A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là đảm bảo tốt nhất sự phát triển của cháu trong thời điểm hiện tại, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của Bà Trần Thị Tú A, Ông Phạm Văn T và nguyện vọng của cháu Phạm Nhật C; Ông Phạm Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định pháp luật mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Bà Trần Thị Tú A không yêu cầu về cấp dưỡng cho con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Tú A trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Ông Phạm Văn T không có ý kiến về vấn đề này gửi đến Tòa án. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm Bà Trần Thị Tú A phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 7 Điều 3, khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Trần Thị Tú A với bị đơn Ông Phạm Văn T:

- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa Bà Trần Thị Tú A và Ông Phạm Văn T.

- Về con chung: Giao cháu Phạm Nhật C (sinh ngày 9-02-2014) cho Bà Trần Thị Tú A tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đã thành niên; Ông Phạm Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định pháp luật mà không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng cho con: Bà Trần Thị Tú A không yêu cầu, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Tú A trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Ông Phạm Văn T không có ý kiến về vấn đề này gửi đến Tòa án, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm Bà Trần Thị Tú A phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0008362 ngày 30-12-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, tỉnh Sóc Trăng.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung).

Cỡ chữ